|
|
Đánh giá hiểm họa sạt lở đất và phân tích độ nhạy tham số bằng mô hình kết hợp mô phỏng Monte Carlo và PRCC: Khu vực nghiên cứu huyện Phước Sơn, Quảng Nam
Số 98 (3/2026)
>
trang 03-09
|
Tải về (1059.57 KB)
Nguyễn Bá Quang Vinh*, Nguyễn Văn Tỉnh
|
Tóm tắt
Nghiên cứu này tập trung vào việc xây dựng bản đồ hiểm họa sạt lở đất và phân tích độ nhạy của các tham số đầu vào ảnh hưởng đến hệ số an toàn (FS) của mái dốc. Phương pháp mô phỏng Monte Carlo (MC) được kết hợp với mô hình mái dốc vô hạn để mô phỏng sự bất định trong các tham số gồm: độ dốc, chiều sâu lớp đất, lực dính (c), góc nội ma sát (φ), trọng lượng riêng (γ) và lượng mưa. Trong đó, lượng mưa được mô phỏng theo phân phối Gamma, các tham số còn lại được giả định tuân theo phân phối chuẩn. Kết quả phân tích cho thấy bản đồ hiểm họa sạt lở đất đạt độ chính xác với giá trị diện tích dưới đường cong (Area Under Curve-AUC) là 0.727, thể hiện khả năng dự báo khá tốt. Đồng thời, phân tích độ nhạy bằng hệ số tương quan thứ hạng từng phần (Partial Rank Correlation Coefficient-PRCC) chỉ ra rằng các yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến FS là các thông số sức kháng cắt của đất gồm: lực dính và góc nội má sát. Các kết quả nghiên cứu góp phần xác định các tham số trọng yếu cần được đo đạc chính xác, đồng thời hỗ trợ công tác cảnh báo và đánh giá hiểm họa sạt lở đất ở khu vực miền núi Việt Nam. Từ khóa: Sạt lở đất, mô phỏng Monte Carlo, mô hình mái dốc vô hạn, phân tích độ nhạy, PRCC |
|
|
Tương quan lưu lượng Kratie - Tân Châu và Châu Đốc hàm ý cơ chế điều tiết tự nhiên của hồ Tonle Sap
Số 98 (3/2026)
>
trang 10-16
|
Tải về (627.39 KB)
Nguyễn Đăng Tính, Nguyễn Trịnh Chung*
|
Tóm tắt
Nghiên cứu sử dụng chuỗi lưu lượng trung bình tháng giai đoạn 1980-2024 tại ba trạm Kratie, Tân Châu và Châu Đốc để phân tích mức độ liên kết thủy văn thượng - hạ lưu trên trục sông Mekong - Tiền - Hậu và những thay đổi trước/sau năm 2010. Dữ liệu được xử lý bằng hồi quy tuyến tính theo tháng giữa QKratie và QTân Châu, QChâu Đốc, Q(Tân Châu+Châu Đốc), kết hợp phân tích hệ số hồi quy (a), hệ số xác định (R²), so sánh hai giai đoạn 1980-2009 và 2010-2024, đồng thời kiểm định xu thế bằng Mann-Kendall và ước lượng độ dốc Theil-Sen cho lưu lượng mùa kiệt. Kết quả cho thấy trong mùa lũ, hệ số a thường đạt 0,85-0,90 với R² > 0,9, thể hiện mối liên kết rất chặt chẽ giữa Kratie và hai trạm đầu nguồn ĐBSCL; trong mùa kiệt, a chỉ còn khoảng 0,60-0,75 và R² khoảng 0,65-0,75, phản ánh vai trò bổ sung dòng nền của vùng ngập lũ Campuchia và hệ thống Mekong - Tonle Sap. So sánh hai giai đoạn cho thấy a và R² của các quan hệ Kratie-Tân Châu, Kratie-Châu Đốc và Kratie-(Tân Châu+Châu Đốc) đều giảm trung bình 10-12% sau năm 2010, trong khi lưu lượng mùa kiệt tại cả ba trạm giảm khoảng 16-20% với xu thế giảm có ý nghĩa thống kê. Những thay đổi này phù hợp với bối cảnh gia tăng điều tiết hồ chứa thượng nguồn và biến đổi điều kiện thủy văn vùng ngập lũ, làm suy yếu kết nối thượng - hạ lưu, giảm khả năng duy trì dòng nền mùa khô và gia tăng rủi ro hạn hán, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Từ khóa: Tonle Sap, tương quan tháng, Kratie, Tân Châu, Châu Đốc, hồi quy, R². |
|
|
Đánh giá cơ chế hình thành xoáy mặt tự do và cuốn khí tại cửa lấy nước thủy điện bằng tiêu chí (∆, Frh): Trường hợp Gibe III và Nậm Ma 2
Số 98 (3/2026)
>
trang 17-24
|
Tải về (1711.59 KB)
Nguyễn Thị Nhớ
|
Tóm tắt
Nghiên cứu này xây dựng bản đồ vận hành hai chiều ∆(Q–Z) và Frₕ(Q–Z) nhằm mô tả quá trình khởi phát và phát triển của xoáy mặt tự do (VT₁–VT₆) tại cửa lấy nước của trạm thủy điện theo hai tiêu chí: “không cuốn khí -Zero-air” và “cuốn khí cho phép -Air-allowance”, β=1×〖10〗^(-5)). Bằng việc kết hợp phân tích định lượng và dữ liệu thực tế từ hai trạm Gibe III (Ethiopia) và Nậm Ma 2 (Lào), nghiên cứu đã xác lập ranh giới vận hành an toàn theo các mức độ xoáy. Với trạm Gibe III, ngưỡng an toàn ∆≈0 xuất hiện thấp hơn thiết kế khoảng 3 m, cảnh báo sớm hơn tín hiệu Frₕ; với Nậm Ma 2, Frₕ duy trì thấp nên chấp nhận “mức cuốn khí cho phép” ở mức VT3 giúp mở rộng vùng làm việc. Đây sẽ là cơ sở đánh giá lại thiết kế, xác định ngưỡng an toàn, và đề xuất cơ sở dữ liệu tham chiếu cho vận hành của trạm thuỷ điện. Từ khóa: Xoáy mặt tự do, cửa lấy nước, độ ngập tới hạn, Gibe III và Nậm Ma 2. |
|
|
Chất lượng nước tưới và tích lũy Nitrat trong một số loại rau ăn lá trồng trên đất phù sa sông Hồng
Số 98 (3/2026)
>
trang 25-30
|
Tải về (596.02 KB)
Dương Thị Kim Thư, Nguyễn Thị Hằng Nga, Nguyễn Thị Ngọc Dinh*
|
Tóm tắt
Nghiên cứu thực hiện các thí nghiệm trong nhà lưới nhằm đánh giá ảnh hưởng của tưới bằng nước thải sinh hoạt đã xử lý, nước kênh Cầu Bây, nước giếng khoan có bón phân hóa học đến tích lũy nitrat trong các loại rau ăn lá (rau cải, rau chân vịt, hành lá) trồng trên đất phù sa sông Hồng. Kết quả cho thấy tưới bằng nước giếng khoan có bón phân hóa học làm tích lũy Nitrat trong rau ăn lá cao nhất so với tưới bằng các loại nước tưới còn lại (khoảng 1,2 lần) và có hàm lượng Nitrat trong rau vượt ngưỡng an toàn theo qui định của WHO. Ba loại rau được tưới bằng nước sông Cầu Bây và nước thải sinh hoạt và không bón phân hóa học đều có hàm lượng nitrat tích lũy nitrat thấp hơn so với tưới bằng giếng khoan có bón phân hóa học. Từ khoá: Tích lũy nitrat, an toàn nông sản, rau ăn lá, chất lượng nước tưới. |
|
|
So sánh giới hạn tỷ số nhịp trên chiều dày bản để kiểm soát độ võng của sàn bê tông cốt thép theo một số tiêu chuẩn thiết kế
Số 98 (3/2026)
>
trang 31-37
|
Tải về (504.59 KB)
Nguyễn Văn Dũng*, Nguyễn Đăng Nguyên
|
Tóm tắt
Việc dự đoán độ võng của sàn bê tông cốt thép (BTCT) ở trạng thái giới hạn sử dụng gặp những thách thức đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu phát sinh từ sự hiểu biết còn hạn chế về tiêu chí giới hạn sử dụng, bao gồm độ võng ngắn hạn và độ võng gia tăng theo thời gian, cùng với tính chất phức tạp của vật liệu, lịch sử tải trọng thực tế trong quá trình thi công và khai thác. Để kiểm soát độ võng, các tiêu chuẩn thiết kế có hiệu lực hiện hành thường đưa ra hai phương pháp chính: (i) tính toán trực tiếp, vốn thường phức tạp do bê tông bị nứt ở vùng kéo, cùng với việc tính toán co ngót và từ biến; hoặc (ii) áp dụng tỷ số chiều dài nhịp trên chiều dày bản theo các giá trị quy định trong tiêu chuẩn. Nghiên cứu này tổng hợp và so sánh các quy định về chiều dày bản nhỏ nhất được quy định trong các tiêu chuẩn ACI 318-25, AS 3600-2009, và EC2-2004. Đồng thời, nghiên cứu cũng thực hiện khảo sát để so sánh các tỷ số nhịp/chiều dày bản theo các tiêu chuẩn trên để đánh giá sự khác biệt. Từ khóa: Độ võng, trạng thái sử dụng, độ võng dài hạn, tiêu chuẩn thiết kế |
|
|
Nghiên cứu chọn mực nước chết vận hành cho hồ chứa thủy điện phù hợp với sự thay đổi hệ thống điện
Số 98 (3/2026)
>
trang 38-45
|
Tải về (763.03 KB)
Hoàng Công Tuấn
|
Tóm tắt
Việc xác định các thông số cơ bản của nhà máy thủy điện trong thiết kế không chỉ phụ thuộc vào điều kiện thủy văn mà còn gắn với nhu cầu phụ tải, cơ cấu nguồn và các yêu cầu khai thác tổng hợp. Trong bối cảnh hệ thống điện Việt Nam có sự dịch chuyển thời điểm phụ tải cực đại và sự thay đổi mạnh về cơ cấu nguồn, một số thông số được lựa chọn trước đây, đặc biệt là mực nước chết, cần được đánh giá lại. Bài báo đề xuất tiêu chí lựa chọn mực nước chết vận hành nhằm nâng cao công suất khả dụng của nhà máy thủy điện phù hợp với điều kiện vận hành mới của hệ thống điện. Kết quả áp dụng cho nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 cho thấy, việc điều chỉnh mực nước chết vận hành giúp tăng đáng kể công suất khả dụng tại thời điểm phụ tải cực đại (khoảng 52 MW), đồng thời vẫn đáp ứng các yêu cầu khai thác tổng hợp, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác thủy điện và đảm bảo an ninh năng lượng. Từ khóa: Mực nước chết, công suất khả dụng, thủy điện Sông Tranh 2, hệ thống điện |
|
|
Thiết kế và chế tạo thiết bị CNC cỡ nhỏ tích hợp với mỏ cắt Plasma phục vụ công tác đào tạo tại trường Cao đẳng Kỹ thuật quân sự 1
Số 98 (3/2026)
>
trang 46-52
|
Tải về (1272.82 KB)
Phạm Ngọc Tuân*, Vũ Thị Tâm
|
Tóm tắt
CNC là công nghệ điều khiển máy có sự hỗ trợ của máy vi tính đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong việc chế tạo ra các sản phẩm phục vụ đời sống, xã hội. Các máy CNC được trang bị tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật quân sự 1 là máy sản xuất công nghiệp, có kết cấu phức tạp, khi học viên thực hành thường xảy ra hư hỏng, tốn nhiều thời gian cho khắc phục sự cố, gây ảnh hưởng đến quá trình học tập của học viên. Bài báo trình bày nội dung nghiên cứu thiết kế và chế tạo thiết bị CNC cỡ nhỏ tích hợp với mỏ cắt Plasma giúp học viên được thao tác trên thiết bị trước khi thực hành trên máy CNC công nghiệp nhằm hạn chế hư hỏng xảy ra. Sản phẩm có đầy đủ các tính năng như máy CNC công nghiệp, đồng thời có kích thước nhỏ, khối lượng nhẹ, tính cơ động cao, tính ổn định, độ tin cậy, độ chính xác cao, dễ sử dụng, giá thành hợp lý. Thiết bị sử dụng nguồn điện 220V nên thuận tiện trong quá trình sửa chữa, huấn luyện, đảm bảo yếu tố cơ động trong thời chiến và thời bình. Từ khóa: Plasma CNC, thiết bị CNC cỡ nhỏ, sửa chữa vũ khí trang bị, DDCS V2.1, DM542 |
|
|
Xác định lưu lượng và khoảng cách vòi phun mưa theo loại đất và độ dốc địa hình dựa trên TCVN 14271:2024
Số 98 (3/2026)
>
trang 53-59
|
Tải về (682.61 KB)
Nguyễn Quang Phi*, Nguyễn Quang Minh
|
Tóm tắt
Nhằm hỗ trợ áp dụng TCVN 14271:2024 trong thiết kế, bài báo đề xuất phương pháp thiết kế ngược để chuyển các ngưỡng của tiêu chuẩn này thành miền lựa chọn nhanh cho lưu lượng vòi, khoảng cách bố trí, diện tích nhận nước và mật độ bố trí vòi theo loại đất và độ dốc địa hình. Với tưới phủ, miền khả thi đồng thời thỏa mãn điều kiện thấm và chồng lấn vùng phun, có xét gió; với tưới cục bộ tại gốc, cường độ phun mưa tại vùng rễ được khống chế theo bán kính vùng ướt hữu hiệu và xét giao thoa khi bố trí nhiều vòi. Kết quả được cung cấp dưới dạng công thức và bảng tra phục vụ thiết kế và kiểm tra nhanh theo tiêu chuẩn. Từ khóa: TCVN 14271:2024, tưới phun mưa, cường độ phun mưa cho phép, thiết kế ngược |
|
|
Nghiên cứu đề xuất phương pháp hiệu chỉnh mô hình toán SWMM và lựa chọn phân phối mưa trong thiết kế hệ thống thoát nước mưa đô thị - ứng dụng cho khu vực thuộc đô thị Hồng Hạc, tỉnh Bắc Ninh
Số 98 (3/2026)
>
trang 60-65
|
Tải về (852.38 KB)
Nguyễn Thanh Thủy*, Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Việt Anh
|
Tóm tắt
Trong Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 7957:2008 và bản cập nhật TCVN 7957:2023 đưa ra ba công thức để xác định cường độ mưa thiết kế, đồng thời đề xuất áp dụng mô hình thủy lực nhằm kiểm tra kích thước cống được tính toán sơ bộ theo công thức này. Tuy nhiên, việc sử dụng mô hình thủy lực trong thực tế gặp phải hai khó khăn chính: (i) yêu cầu có biểu đồ phân phối mưa thiết kế phù hợp và (ii) yêu cầu hiệu chỉnh và kiểm định các thông số của mô hình. Trong nghiên cứu này, tác giả đã thực hiện kiểm định chéo giữa kết quả mô phỏng của mô hình SWMM và giá trị lưu lượng cực đại được xác định theo công thức cường độ mưa giới hạn – phương pháp hiện đang được tin cậy và sử dụng rộng rãi trong thiết kế hệ thống thoát nước tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành mô phỏng với ba dạng mô hình mưa thiết kế khác nhau nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của mô hình mưa thiết kế đến kết quả mô phỏng. Kết quả nghiên cứu đã đề xuất quy trình kiểm định chéo các thông số nhạy của mô hình SWMM có tính khả thi trong ứng dụng thiết kế. Đồng thời, nghiên cứu kiến nghị sử dụng phương pháp Chicago hay trận mưa điển hình được xác định theo mưa 10 phút lớn nhất trong xác định biểu đồ mưa thiết kế. Từ khóa: Thiết kế hệ thống thoát nước mưa, SWMM, hiệu chỉnh, phân phối mưa |
|
|
Kết hợp mô hình thủy văn khái niệm và mô hình học máy để nâng cao hiệu quả trong mô phỏng dòng chảy trên lưu vực sông Tiên Yên, Quảng Ninh
Số 98 (3/2026)
>
trang 66-72
|
Tải về (956.29 KB)
Trần Tuấn Thạch*, Nguyễn Tiến Thái
|
Tóm tắt
Nghiên cứu này sử dụng mô hình kết hợp (Hybrid) giữa mô hình thủy văn khái niệm NAM và học tăng cường Gradient cực đại (XGBoost) để ước tính dòng chảy trên lưu vực sông Tiên Yên, Quảng Ninh, Việt Nam. Dữ liệu được sử dụng cho mô hình Hybrid (NAM-XGBoost) bao gồm tài liệu khí tượng (mưa, bốc hơi) tại trạm Bình Liêu và Tiên Yên (1975-2024), và lưu lượng quan trắc tại trạm Bình Liêu (1975-2019). Mô hình được hiệu chỉnh cho giai đoạn (1975-2005) (70% dữ liệu) và kiểm định cho giai đoạn 2006-2019 (30% dữ liệu). Kết quả tính toán cho thấy, mô hình Hybrid (NAM-XGBoost) tái hiện lại tốt lưu lượng quan trắc với các chỉ số (NSE>0.80, KGE>0.80, R2>0.80, RMSE<26 m3/s). Đây là kết quả vượt trội nếu so sánh với mô hình NAM thuần túy (NSE <0.65, KGE<0.60, R2<0.65, RMSE>36 m3/s). Bên cạnh đó, Hybrid cũng cho thấy khả năng mô phỏng dòng chảy lũ và dòng chảy kiệt tốt hơn so với NAM. Điều này chứng tỏ mô hình Hybrid (NAM-XGBoost) có khả năng thể hiện mối quan hệ phi tuyến giữa mưa dòng chảy do giảm được sai số dư trong quá trình huấn luyện với mô hình thủy văn khái niệm đơn lẻ. Từ khóa: Mô hình thủy văn khái niệm, Hybrid (NAM-XGBoost), dòng chảy lũ, dòng kiệt |
|
|
Đánh giá tải lượng ô nhiễm và rủi ro vi nhựa trong nước mặt một số vùng biển miền Bắc và miền Trung Việt Nam
Số 98 (3/2026)
>
trang 73-78
|
Tải về (789.18 KB)
Nguyễn Tuấn Minh, Phạm Nguyệt Ánh*, Dương Tuấn Mạnh, Trịnh Minh Việt
|
Tóm tắt
Dựa trên kết quả phân tích các mẫu nước thu thập lần lượt ở hai khu vực biển miền Bắc và miền Trung Việt Nam, nghiên cứu này tập trung vào tính toán tải lượng ô nhiễm vi nhựa thông qua chỉ số tải lượng ô nhiễm (PLI), đồng thời đánh giá rủi ro của vi nhựa bao gồm rủi ro về thành phần hóa học (PHI) và rủi ro sinh thái tiềm ẩn (PERI). Kết quả thu được cho thấy, nồng độ vi nhựa trung bình tại vùng biển miền Bắc thấp hơn so với miền Trung, nhưng do nồng độ vi nhựa ở hai khu vực đều khá thấp nên chỉ số PLI ở mức tương đương nhau. Chủng loại vi nhựa ở miền Trung phong phú hơn miền Bắc nhưng chỉ số rủi ro thành phần hóa học PHI của miền Bắc là 407,21 cao hơn đáng kể so với miền Trung (282,09) do miền Bắc phát hiện một số loại polymer có mức độ nguy hiểm cao. Cả hai khu vực nghiên cứu có chỉ số PHI được xếp loại ở mức độ nguy hiểm. Đánh giá mức độ rủi ro sinh thái tiềm ẩn dựa trên chỉ số PERI cho thấy nguy cơ sinh thái tiềm ẩn trong nước biển miền Bắc và miền Trung ở mức thấp. Các kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc đánh giá và quản lý ô nhiễm vi nhựa tại một số vùng biển Việt Nam. Từ khóa: Vi nhựa, nước mặt, vùng biển, rủi ro sinh thái, tải lượng |
|
|
Đề xuất giải pháp tôn tạo bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng
Số 98 (3/2026)
>
trang 79-84
|
Tải về (1013.66 KB)
Lê Hải Trung, Nguyễn Quang Đức Anh, Nguyễn Trường Duy, Nguyễn Trung Việt*
|
Tóm tắt
Từ năm 2017 đến nay, dải bờ biển dài 11 km từ Mỹ Khê, Sơn Thủy, Non Nước tới Hà My liên tục biến động bồi – xói mạnh theo mùa, đặc biệt trong các mùa gió mùa Đông Bắc 2017–2018 và 2024 – 2025. Hai bộ số liệu địa hình đáy biển tháng 01/2024 và 01/2025, có phạm vi từ bãi tắm Phạm Văn Đồng đến Mường Thanh Luxury, được phân tích để tính toán chênh lệch địa hình và định lượng ngân sách bùn cát ngắn hạn. Tổng thiếu hụt vật liệu năm 2024 khoảng 1,173×106 m³; bùn cát bãi tắm có xu hướng dịch chuyển ra ngoài biển tới khoảng 400 m tính từ mép bờ, củng cố giả thiết vận chuyển ngang bờ chi phối tại đoạn Mỹ Khê – Mường Thanh. Trên cơ sở phân vùng cơ chế vận chuyển bùn cát, bài báo đề xuất bổ sung vật liệu để tôn tạo, mở rộng bãi biển kết hợp với một trong ba giải pháp gồm (i) đê chắn sóng tách bờ, (ii) mỏ hàn đuôi cá, và (iii) rạn ngầm lướt sóng. Các công trình chỉnh trị được bố trí theo lý thuyết cung bờ cân bằng tĩnh (PBSE) nhằm tăng hiệu quả giữ cát bãi tắm, giảm tác động cảnh quan và nâng cao giá trị - hiệu quả khai thác du lịch. Từ khoá: Bãi biển, đê chắn sóng, mỏ hàn, nuôi bãi, ổn định, rạn ngầm, xói lở, tôn tạo |
|
|
Nghiên cứu ảnh hưởng của áp lực chặn phôi khi dập vuốt thép không gỉ 316L
Số 98 (3/2026)
>
trang 85-91
|
Tải về (1093.06 KB)
Phạm Thị Hằng*, Nguyễn Công Nguyên
|
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, quá trình dập vuốt thép không gỉ 316L được mô hình hóa và mô phỏng bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Ảnh hưởng của áp lực chặn phôi đến chất lượng sản phẩm dập vuốt được đánh giá thông qua biên dạng chi tiết sau khi biến dạng, phân bố ứng suất, biến dạng dẻo, biến số phá hủy và hiện tượng biến mỏng, phá hủy, hình thành nếp nhăn trên sản phẩm khi tốc độ dịch chuyển của chày là 20 mm/s và hệ số ma sát giữa các chi tiết tiếp xúc là 0.05. Các kết quả thu được cho thấy áp lực chặn phôi ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng chi tiết dập vuốt. Khi áp lực chặn phôi lớn khoảng 1 MPa sẽ xuất hiện hiện tượng biến mỏng ở vùng chi tiết tiếp xúc với mép chày và dự đoán vật liệu sẽ phá hủy nếu tiếp tục tăng chiều sâu dập. Khi giảm áp lực chặn phôi xuống còn 0.2 MPa, hiện tượng biến mỏng giảm dần nhưng chi tiết gia công bị biến dạng nhiều nhất ở vùng bo góc của cối, trong khi đó vùng tiếp xúc với chày biến dạng dẻo ít hơn gây nên sự sai lệch biên dạng chi tiết gia công. Áp lực chặn phôi quá nhỏ sẽ làm xuất hiện các nếp nhăn ở vành của sản phẩm dập vuốt. Từ các kết quả thu được có thể đưa ra được thông số áp lực chặn phôi phù hợp cho trường hợp khảo sát trong nghiên cứu này là 0.5÷1 MPa. Từ khóa: Dập vuốt, mô phỏng số, lực kẹp phôi, thép không gỉ 316L |
|
|
Nghiên cứu mô phỏng ảnh hưởng của lớp nước bề mặt đến động lực học của khối vật liệu trượt sử dụng mô hình kết hợp SPH–DEM
Số 98 (3/2026)
>
trang 92-99
|
Tải về (592.76 KB)
Vũ Huy Công
|
Tóm tắt
Hiện tượng trượt lở đất – đá là một trong những tai biến địa chất nguy hiểm, trong đó nước đóng vai trò then chốt chi phối cơ chế phát sinh và diễn biến của khối trượt. Sự hiện diện của nước, đặc biệt là lớp nước phủ trên bề mặt có thể làm thay đổi đáng kể đặc tính động lực của quá trình trượt. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp mô hình hóa kết hợp SPH–DEM (Phương pháp thủy động hạt trơn – Phương pháp phần tử rời rạc) để phân tích định lượng ảnh hưởng của lớp nước phía trên đến quá trình hình thành, vận tốc và chiều dài trượt của khối vật liệu, áp dụng cho một mô hình thí nghiệm điển hình. Các kịch bản mô phỏng được xây dựng với chiều dày lớp nước phủ trên khối trượt thay đổi từ 0 đến 1/2 chiều cao khối trượt. Kết quả mô phỏng cho thấy lớp nước làm gia tăng rõ rệt vận tốc và quãng đường trượt của khối vật liệu. Chiều dài trượt tăng gần như tuyến tính theo chiều cao lớp nước. Một phát hiện quan trọng là hiện tượng tái gia tốc trong quá trình trượt, thể hiện bởi hai đỉnh vận tốc xuất hiện khi chiều cao lớp nước đủ lớn (hw > 0.04 m). Đỉnh vận tốc thứ nhất gắn với gia tốc ban đầu do trọng lực, trong khi đỉnh thứ hai xuất hiện muộn hơn do lực kéo thủy động của dòng nước tác động cùng chiều chuyển động của khối hạt. Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ chế tương tác đa pha lỏng–rắn trong các tai biến trượt lở và cung cấp cơ sở khoa học cho công tác đánh giá, dự báo rủi ro thiên tai trong các môi trường thủy văn phức tạp. Từ khóa: DEM, SPH, sạt trượt, đất rời. |
|
|
|