Skip Navigation Links.
Collapse  Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường
 Số 97 - Số Tiếng Anh (12/2025)
 Số 96 (12/2025)
 Số 95 (9/2025)
 Số 94 (6/2025)
 Số 93 (3/2025)
 Số 92 - Số Tiếng Anh (12/2024)
 Số 91 (12/2024)
 Số 90 (9/2024)
 Số 89 (6/2024)
 Số 88 (3/2024)
 Số 87 - Số Tiếng Anh (12/2023)
 Số 86 (12/2023)
 Số 85 (9/2023)
 Số 84 (6/2023)
 Số 83 (3/2023)
 Số 82 - Số Tiếng Anh (12/2022)
 Số 81 (12/2022)
 Số 80 (9/2022)
 Số 79 (6/2022)
 Số 78 (3/2022)
 Số 77 - Số Tiếng Anh (12/2021)
 Số 76 (12/2021)
 Số Đặc biệt (12/2021)
 Số 75 (9/2021)
 Số 74 (6/2021)
 Số 73 (3/2021)
 Số 72 - Số Tiếng Anh (12/2020)
 Số 71 (12/2020)
 Số 70 (9/2020)
 Số 69 (6/2020)
 Số 68 (3/2020)
 Số 67 (12/2019)
 Số Đặc biệt (10/2019)
 Số 66 (9/2019)
 Số 65 (6/2019)
 Số 64 (3/2019)
 Số 63 (12/2018)
 Số 62 (9/2018)
 Số 61 (6/2018)
 Số 60 (3/2018)
 Số 59 (12/2017)
 Số 58 (9/2017)
 Số 57 (6/2017)
 Số 56 (3/2017)
 Số 55 (11/2016)
 Số 54 (9/2016)
 Số 53 (6/2016)
 Số 52 (3/2016)
 Số 51 (12/2015)
 Số 50 (9/2015)
 Số 49 (6/2015)
 Số 48 (3/2015)
 Số 47 (12/2014)
 Số 46 (9/2014)
 Số 45 (6/2014)
 Số 44 (3/2014)
 Số 43 (12/2013)
 Số Đặc biệt (11/2013)
 Số 42 (9/2013)
 Số 41 (6/2013)
 Số 40 (3/2013)
 Số 39 (12/2012)
 Số 38 (9/2012)
 Số 37 (6/2012)
 Số 36 (3/2012)
 Số 35 (11/2011)
 Số Đặc biệt (11/2011)
 Số 34 (9/2011)
 Số 33 (6/2011)
 Số 32 (3/2011)
 Số 31 (12/2010)
 Số 30 (9/2010)
 Số 29 (6/2010)
 Số 28 (3/2010)
 Số 27 (11/2009)
 Số Đặc biệt (11/2009)
 Số 26 (9/2009)
 Số 25 (6/2009)
 Số 24 (3/2009)
 Số 23 (11/2008)
 Số 22 (9/2008)
 Số 21 (6/2008)
 Số 20 (3/2008)
 Số 19 (12/2007)
 Số 18 (9/2007)
 Số 17 (6/2007)
 Số 16 (3/2007)
 Số 15 (11/2006)
 Số 14 (8/2006)
 Số 13 (6/2006)
 Số 12 (3/2006)
 Số 11 (12/2005)
 Số 10 (9/2005)
 Số 9 (6/2005)
 Số 8 (2/2005)
 Số 7-C (11/2004)
 Số 7-V (11/2004)
 Số 7-N (11/2004)
 Số 7-K (11/2004)
 Số 7-NL (11/2004)
 Số 7-M (11/2004)
 Số 7-TH (11/2004)
 Số 7-LLCT (11/2004)
 Số 7-B (11/2004)
 Số 6 (9/2004)
 Số 5 (5/2004)
 Số 4 (02/2004)
 Số 3 (11/2003)
 Số 2 (9/2003)
 Số 1 (6/2003)
Số 96 (12/2025)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 12 năm 2025

 
   
MỤC LỤC
Số 96 (12/2025) > trang 01-02 | Tải về (546.65 KB)
Ứng dụng phương pháp quyết định và đánh giá thử nghiệm (DEMATEL) xác định trọng số cho bộ tiêu chí lựa chọn giải pháp sử dụng đường ống trong công trình thủy lợi vùng trung du và miền núi
Số 96 (12/2025) > trang 03-8 | Tải về (583.56 KB)
Vũ Ngọc Quỳnh, Đặng Minh Hải*, Nguyễn Quang Huy
Tóm tắt
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp Quyết định và đánh giá thử nghiệm (DEMATEL) để xác định các yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn sử dụng đường ống dẫn nước. Nghiên cứu xác định những tiêu chí quan trọng nhất nhằm nâng cao hiệu quả và đưa ra một phương pháp tiếp cận mới trong công việc để quyết định lựa chọn áp dụng công nghệ đường ống trong hệ thống công trình thủy lợi. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng yếu tố địa hình và nguồn nước là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất và có khả năng kết nối mạnh mẽ với các tiêu chí lựa chọn khác.
Từ khóa: Đường ống dẫn nước, trọng số, bộ tiêu chí, DEMATEL.
Phản ứng của nhà khung bê tông cốt thép chịu động đất có xét đến thành phần đứng của gia tốc nền
Số 96 (12/2025) > trang 09-14 | Tải về (644.99 KB)
Ngô Văn Thuyết
Tóm tắt
Khi động đất xảy ra, một nguồn năng lượng từ chấn tiêu được giải phóng và lan truyền tới bề mặt trái đất dưới dạng sóng địa chấn. Sóng địa chấn bao gồm sóng khối (sóng dọc P và sóng ngang S) và sóng mặt. Trong khi sóng ngang S sẽ gây ra thành phần theo phương ngang của động đất, sóng dọc P sẽ gây ra thành phần theo phương đứng của động đất. Các nghiên cứu trước đây về phản ứng của nhà khung bê tông cốt thép (BTCT) chịu động đất chủ yếu xét đến thành phần ngang của động đất, ít quan tâm đến thành phần đứng. Nghiên cứu này khảo sát phản ứng của nhà khung BTCT chịu động đất có xét đến thành phần đứng của gia tốc nền bằng phương pháp phân tích động theo lịch sử thời gian. Kết quả cho thấy thành phần đứng của động đất ảnh hưởng đến lực dọc trong các cột, gia tốc sàn các tầng theo phương đứng và lực cắt đáy theo phương đứng, làm tăng hoặc giảm khả năng chịu cắt yêu cầu của cột.
Từ khóa: Động đất, gia tốc nền, phân tích động theo lịch sử thời gian, thành phần đứng của động đất
Nghiên cứu áp dụng phương pháp siêu âm để kiểm tra và chẩn đoán khuyết tật mối hàn kim loại
Số 96 (12/2025) > trang 15-22 | Tải về (837.20 KB)
Phạm Ngọc Tuân*, Vũ Thị Tâm
Tóm tắt
Hàn là phương pháp công nghệ được ứng dụng phổ biến trong các ngành công nghiệp, tạo ra các mối nối chịu lực, đảm bảo độ kín, độ bền và tính kinh tế cho sản phẩm. Tuy nhiên, phương pháp này tiềm ẩn nhiều dạng khuyết tật bên trong mà bằng mắt thường không thể quan sát được. Hiện nay, ở nước ta đã có khá nhiều cơ sở đào tạo và tài liệu về lĩnh vực kiểm tra khuyết tật bên trong mối hàn. Trong số các phương pháp kiểm tra khuyết tật mối hàn, phương pháp siêu âm có ưu thế nổi bật bởi khả năng phát hiện khuyết tật bên trong với độ chính xác cao, an toàn, nhanh chóng và chi phí hợp lý. Bài báo dựa trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây, tổng hợp từ các nguồn tài liệu trong và ngoài nước để trình bày một cách tóm tắt, cơ bản nhất về phương pháp kiểm tra khuyết tật bên trong mối hàn bằng siêu âm. Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ cho công tác đào tạo về lĩnh vực kiểm tra khuyết tật mối hàn bằng siêu âm.
Từ khóa: Kiểm tra bằng siêu âm, kiểm tra không phá hủy, kiểm tra siêu âm mối hàn, khuyết tật mối hàn, thiết bị kiểm tra siêu âm.
Mô hình kết hợp SMOTE-MLP trong việc nâng cao độ chính xác dự đoán xác suất không gian sạt lở đất từ dữ liệu mất cân bằng tại vùng núi tỉnh Quảng Nam
Số 96 (12/2025) > trang 23-28 | Tải về (750.81 KB)
Nguyễn Bá Quang Vinh
Tóm tắt
Sự mất cân bằng trong dữ liệu sạt lở đất, khi số lượng điểm sạt lở thực tế rất hạn chế so với số điểm không sạt lở, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của các mô hình học máy trong dự báo xác suất không gian sạt lở đất. Nghiên cứu này đề xuất áp dụng kỹ thuật tăng cường mẫu thiểu số tổng hợp (SMOTE) để nội suy và tăng cường số lượng điểm sạt lở, kết hợp với mô hình mạng perceptron nhiều lớp (MLP) nhằm xây dựng bản đồ xác suất không gian sạt lở đất tại vùng núi tỉnh Quảng Nam. Tập dữ liệu ban đầu bao gồm 500 điểm sạt lở, được tăng cường bằng SMOTE với các mức lần lượt là 2,000; 5,000; 10,000; 20,000 và 50,000 điểm nội suy. Kết quả cho thấy AUC (Area Under the ROC Curve) trên tập xác thực tăng từ 0.846 (với 500 điểm gốc) lên 0.887 khi sử dụng 10,000 điểm nội suy, cho thấy hiệu quả rõ rệt của kỹ thuật SMOTE trong cải thiện độ chính xác mô hình. Tuy nhiên, khi tăng số lượng điểm nội suy lên 20,000 và 50,000, AUC có xu hướng giảm nhẹ xuống còn 0.868 và 0.866, cho thấy dấu hiệu suy giảm khả năng khái quát hóa. Do đó, lựa chọn số lượng điểm nội suy hợp lý đóng vai trò quan trọng nhằm cân bằng giữa cải thiện hiệu suất và tránh overfitting. Nghiên cứu này khẳng định tiềm năng của việc kết hợp SMOTE và MLP trong xây dựng bản đồ xác suất không gian sạt lở đất từ tập dữ liệu mất cân bằng.
Từ khóa: Sạt lở đất, mạng perceptron nhiều lớp, mất cân bằng dữ liệu, tăng cường mẫu thiểu số tổng hợp
Nghiên cứu tạo giấy gói hàng hóa phổ thông từ phụ phẩm nông nghiệp góp phần giảm thiểu ô nhiễm chất thải nhựa
Số 96 (12/2025) > trang 29-34 | Tải về (543.57 KB)
Đinh Thị Lan Phương*, Nguyễn An Hà, Trần Thị Thu Hà, Tống Vân Trang
Tóm tắt
Trước tình trạng ô nhiễm nhựa đáng báo động ở nước ta, nghiên cứu tạo giấy bọc gói hàng hóa phổ thông được thực hiện từ phụ phẩm nông nghiệp với mục tiêu làm giấy bao gói hàng hóa để giảm thiểu chất thải nhựa. Phụ phẩm nông nghiệp được lựa chọn tạo giấy gồm vỏ lạc, rơm và bã mía. Có 17 công thức (CT) tạo giấy được thí nghiệm gồm: CT 1: rơm 100%; CT 2: bã mía 100%; CT 3: vỏ lạc 10%, rơm và bã mía 90% theo 6 tỉ lệ; CT4: vỏ lạc 20%, rơm và bã mía 80% theo 7 tỉ lệ; CT5: vỏ lạc 25%, rơm và bã mía 75% theo 2 tỉ lệ; các tỉ lệ theo khối lượng. Kết quả thu được mẫu giấy với tỉ lệ rơm 50%, bã mía 30%, vỏ lạc 20% tạo giấy gói hàng hóa phổ thông đạt tiêu chuẩn tốt nhất về định lượng, độ hút nước, độ ẩm và độ bền xé theo cấp B của TCVN 7063:2002 cho giấy bao gói hàng hóa phổ thông: định lượng 107 g/cm2, độ hút nước < 30 g/m2, độ ẩm 5,52%, độ bền xé 947 mN, chỉ số độ bền xé 9,8 mN.m2/g. Kết quả nghiên cứu cho thấy tận dụng phụ phẩm nông nghiệp tạo giấy gói hàng hóa phổ thông thay thế nilon để giảm thiểu chất thải nhựa là cần thiết.
Từ khóa: Phụ phẩm nông nghiệp, giấy gói hàng hóa, chất thải nhựa, vỏ lạc, bã mía
Nghiên cứu động lực học tính toán cho hệ thống đồng bộ hai xylanh thủy lực sử dụng phương pháp điều khiển servo
Số 96 (12/2025) > trang 35-38 | Tải về (475.98 KB)
Nguyễn Hữu Tuấn, Nguyễn Trọng Dũng*
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu một mô hình tính toán động lực học cho hệ thống đồng bộ hai xylanh thủy lực sử dụng phương pháp điều khiển servo. Mô hình được xây dựng dựa trên công cụ toán học sau đó mô phỏng tính toán trong Matlab/Simulink để khảo sát đặc tính động lực học của hệ thống. Từ đó cho phép khảo sát ảnh hưởng của một số thông số đến thời gian đáp ứng quá độ và sai số điều khiển của hệ thống. Kết quả thu được là cơ sở cho tính toán thiết kế, khai thác hiệu quả hệ thống sử dụng phương pháp điều khiển servo dạng này.
Từ khoá: Động lực học, đồng bộ, xylanh thủy lực, điều khiển servo
Đánh giá chi phí giảm phát thải khí nhà kính bằng công cụ MACC trong quản lý chất thải vật nuôi tại Hà Nội
Số 96 (12/2025) > trang 39-45 | Tải về (653.49 KB)
Hoàng Thị Huê
Tóm tắt
Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050, lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là quản lý chất thải vật nuôi, được xác định là nguồn phát thải khí nhà kính (KNK) quan trọng cần kiểm soát. Nghiên cứu này sử dụng công cụ đường chi phí cận biên giảm phát thải (MACC) để đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường của các giải pháp quản lý chất thải tại các trang trại quy mô vừa ở Hà Nội. Kết quả kiểm kê năm 2020 cho thấy CH₄ từ phân chuồng chưa xử lý và N₂O từ nước thải là các nguồn phát thải chính. Năm giải pháp được phân tích gồm: ủ phân hữu cơ, đệm lót sinh học, hầm biogas, máy ép tách phân và cải tiến khẩu phần ăn. Các giải pháp này có tiềm năng giảm 5,7 - 49,1 tCO₂e/hộ/năm, với chi phí cận biên từ -100 đến 20 USD/tCO₂e. Đáng chú ý, ba giải pháp chi phí âm (cải tiến khẩu phần ăn, đệm lót sinh học, ủ phân hữu cơ) vừa giảm phát thải vừa mang lại lợi ích kinh tế, cần được ưu tiên triển khai. Đường MACC được xây dựng cung cấp cơ sở khoa học cho việc xác định thứ tự ưu tiên đầu tư, hỗ trợ hoạch định chính sách giảm phát thải KNK trong chăn nuôi, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng không vào năm 2050.
Từ khóa: Khí nhà kính, chăn nuôi, chất thải vật nuôi, chi phí cận biên giảm phát thải (MACC), Hà Nội.
Mô phỏng dòng chảy trên lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn trong điều kiện biến đổi khí hậu
Số 96 (12/2025) > trang 46-52 | Tải về (1292.24 KB)
Đỗ Hoài Nam*, Kiều Xuân Tuyển, Nguyễn Thu Thảo
Tóm tắt
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được nhận diện là một trong những thách thức lớn hiện nay. Rất nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy các hiện tượng thời tiết cực đoan, đặc biệt là mưa lớn trong thời đoạn ngắn, đang có xu hướng gia tăng cả về tần xuất và cường độ ở phạm vi toàn cầu. Xu hướng đó được dự báo sẽ tăng mạnh hơn và lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn (VGTB) được đánh giá là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề do tác động của BĐKH. Để có cơ sở xây dựng các phương án ứng phó khẩn cấp khi xảy ra lũ lớn và sự cố vỡ đập trên lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn trong điều kiện BĐKH, bài báo trình bày các kết quả mô phỏng dòng chảy cho giai đoạn 2040-2069 và giai đoạn 2080-2099 sử dụng hai kịch bản phát thải trung bình SSP245 và phát thải cao SSP585.
Từ khóa: BĐKH, SSP245, SSP585, mưa, lũ, Mike-Nam
Phương pháp chia lưới cấu trúc dựa trên phân vùng đa khối để mô phỏng 3D dòng phun làm mát pin xe điện
Số 96 (12/2025) > trang 53-57 | Tải về (670.73 KB)
Nguyễn Anh Tuấn*, Nguyễn Văn Kựu
Tóm tắt
Các phương pháp chia lưới truyền thống thường gặp khó khăn trong việc duy trì tính liên tục và đảm bảo chất lượng lưới khi làm việc với các trường dòng chảy phức tạp, hoặc có hình học phức tạp. Việc này dẫn đến giảm độ chính xác tính toán đồng thời làm tăng chi phí tính toán. Phương pháp chia lưới cấu trúc dựa trên phân vùng đa khối là một hướng tiếp cận mới để tăng hiệu quả tính toán khi giải quyết các bài toán mô phỏng số động lực học chất lỏng cho các cấu hình dòng chảy phức tạp. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng phương pháp chia lưới cấu trúc dựa trên phân vùng đa khối để mô phỏng 3D dòng phun vuông góc với mặt phẳng để làm mát pin xe điện. Kết quả cũng được so sánh với so sánh với các phương pháp chia lưới truyền thống.
Từ khoá: CFD, chia lưới cấu trúc, phân vùng đa khối, truyền nhiệt.
Mô phỏng dự báo sự di chuyển của rác thải nhựa trên vùng biển Côn Đảo
Số 96 (12/2025) > trang 58-64 | Tải về (880.17 KB)
Phạm Văn Song*, Võ Công Hoang, Trần Tuấn Hoàng
Tóm tắt
Nghiên cứu này ứng dụng mô hình MIKE 21/3 Coupled Model nhằm mô phỏng thủy động lực học và chuyển tải vật chất để đánh giá sự lan truyền và nguồn phát sinh của rác thải nhựa tại vùng biển đặc khu Côn Đảo. Thông qua sử dụng dữ liệu gió, sóng, triều và địa hình đáy biển, mô phỏng sự di chuyển rác thải trên biển theo hai mùa gió đặc trưng (Tây Nam và Đông Bắc). Kết quả cho thấy, hoàn lưu dòng chảy và chế độ gió - sóng ảnh hưởng mạnh mẽ đến hướng di chuyển và nồng độ tích tụ của rác thải nhựa, đặc biệt tại các khu vực như Vịnh Đầm Tre, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Tre Lớn và Bãi Đầm Trầu. Rác thải nhựa có xu hướng tích tụ dọc ven biển phía Tây vào mùa gió Tây Nam, trong khi phía Đông như Bến Đầm và Vịnh Đầm Tre ghi nhận mật độ cao hơn vào mùa Đông Bắc. Mô hình đã hiệu chỉnh và kiểm định các thông số với độ chính xác cao (R = 0,84; NSE = 0,71), phản ánh tốt quá trình chuyển tải thực tế. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc thiết kế hệ thống thu gom rác thải xa bờ, đồng thời đóng góp vào chiến lược phát triển kinh tế biển tuần hoàn và bền vững cho đặc khu Côn Đảo.
Từ khoá: Rác thải nhựa, mô hình MIKE 21/3, dự báo lan truyền rác thải, mô phỏng động lực học và chuyển tải vật chất.
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng hạt Al2O3 lên tính chất của vật liệu composite nền epoxy gia cường bằng sợi dứa
Số 96 (12/2025) > trang 65-69 | Tải về (606.78 KB)
Nguyễn Thị Hằng Nga*, Nguyễn Việt Đức, Khương Đức Phú, Lê Quang Khải
Tóm tắt
Nghiên cứu này tiến hành phân tích ảnh hưởng của hàm lượng hạt Al₂O₃ với tỷ lệ lần lượt là 1, 2, 3 và 4 wt%, đến các đặc trưng cơ học và hóa lý của vật liệu composite nền epoxy gia cường với 10% sợi dứa. Thực nghiệm cho thấy các đặc tính cơ học của composite biến đổi rõ rệt tùy thuộc vào tỷ lệ hạt Al₂O₃ bổ sung. Cụ thể, độ bền kéo đạt giá trị tối đa 52.4 MPa tại hàm lượng hạt 2 wt%. Độ bền uốn và mô đun uốn cao nhất lần lượt ghi nhận ở 3 wt% hạt Al₂O₃ ở 87MPa và 3.2 GPa. Ở mức 4 wt%, composite thể hiện khả năng chịu va đập nâng cao đáng kể, với độ bền va đập tăng hơn 15% so với vật liệu không gia cường, đồng thời có khả năng hấp thụ dung môi đạt mức tối đa 6.2%. Phân tích cấu trúc bề mặt qua ảnh hiển vi điện tử quét (SEM) cho kết quả tương thích với các phép đo cơ tính, phản ánh sự phân bố và tương tác giữa các thành phần trong composite. Kết quả thu được cung cấp cơ sở khoa học để lựa chọn hàm lượng hạt Al₂O₃ tối ưu, phù hợp với yêu cầu ứng dụng cụ thể của vật liệu composite.
Từ khóa: Composite, nhựa epoxy, sợi dứa, hạt Al2O3, tính chất cơ học
Đáp ứng động lực học của dầm composite được gia cường các ống nano các bon phân bố ngẫu nhiên chịu tác động của lực phân bố điều hòa
Số 96 (12/2025) > trang 70-75 | Tải về (583.75 KB)
Trần Thị Thơm*, Bùi Văn Tuyển
Tóm tắt
Nghiên cứu này tập trung phân tích đáp ứng động lực học của dầm composite chịu tác động của lực phân bố dạng điều hòa. Dầm được chế tạo từ nền polyme gia cường bởi các ống nano cacbon (CNTs) phân bố định hướng ngẫu nhiên. Các tính chất hiệu dụng của dầm được xác định thông qua phương pháp Mori–Tanaka. Biểu thức năng lượng của dầm được xây dựng dựa trên lý thuyết biến dạng trượt bậc nhất, với các chuyển vị và góc quay được nội suy bằng hàm dạng Kosmatka. Từ đó, công thức phần tử hữu hạn của dầm được thiết lập và giải bằng phương pháp Newmark. Thông qua các kết quả số, nghiên cứu làm rõ ảnh hưởng của tỉ phần thể tích CNTs và tần số lực kích động đến đáp ứng động lực học của dầm, cụ thể là độ võng trực chuẩn tại giữa dầm, trong hai trường hợp có cản và không cản.
Từ khóa: Phần tử hữu hạn, dầm composite, CNT, lực phân bố điều hòa, lý thuyết biến dạng trượt bậc nhất
Nghiên cứu xây dựng bản đồ ngập lũ lưu vực sông Kôn - Hà Thanh theo các bộ kịch bản
Số 96 (12/2025) > trang 76-83 | Tải về (1099.03 KB)
Đặng Thị Kim Nhung*, Vũ Thành Nghĩa, Đào Tuấn Anh, Phạm Thị Hương Lan
Tóm tắt
Trong những năm gần đây, khu vực Nam Trung Bộ nói chung và lưu vực sông Kôn - Hà Thanh, tỉnh Gia Lai nói riêng thường xuyên xảy ra ngập lũ trên diện rộng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất và cơ sở hạ tầng. Nghiên cứu này ứng dụng bộ mô hình MIKE (MIKE NAM – MIKE 11 – MIKE 21 – MIKE FLOOD) kết hợp công nghệ GIS để mô phỏng và xây dựng bản đồ ngập lũ theo 05 bộ kịch bản, bao gồm các điều kiện mưa, triều và vận hành hồ chứa khác nhau. Kết quả tính toán cho thấy tổng diện tích ngập dao động 3.800÷35.700 ha, độ sâu ngập phổ biến 1÷3 m chiếm 50÷70% diện tích ngập. Các kết quả mô phỏng là cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch phòng chống lũ, bố trí dân cư và giảm nhẹ rủi ro thiên tai cho khu vực hạ du sông Kôn - Hà Thanh.
Từ khoá: Lưu vực sông Kôn - Hà Thanh, mô phỏng lũ, kịch bản lũ, bản đồ ngập lũ
Các yếu tố quyết định nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống đê biển Việt Nam
Số 96 (12/2025) > trang 84-91 | Tải về (701.16 KB)
Bùi Thị Ngọc Lan
Tóm tắt
Việt Nam là quốc gia có hơn 3.260 km bờ biển với mật độ dân số cao, thường xuyên chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như nước biển dâng, bão, sóng lớn và xói lở. Hệ thống đê biển giữ vai trò then chốt trong bảo vệ dân cư và phát triển kinh tế ven biển, nhưng nhiều đoạn đê đã xuống cấp, cần vốn đầu tư rất lớn trong khi ngân sách còn hạn chế. Bài báo xác định các yếu tố quyết định nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống đê biển thông qua sử dụng mô hình hồi quy đa biến (SPSS) phân tích dữ liệu của 21 tỉnh/thành phố ven biển và phân tích SWOT. Kết quả phản ánh nhu cầu vốn chủ yếu phụ thuộc vào hiện trạng kỹ thuật của đê, đặc biệt chiều dài các đoạn đê dưới tiêu chuẩn an toàn. Từ đó, bài báo đề xuất ưu tiên phân bổ vốn dựa trên hiện trạng kỹ thuật, kết hợp huy động nguồn tài chính xanh hỗn hợp, hợp tác quốc tế và ứng dụng công nghệ nhằm đảm bảo an toàn bền vững cho khu vực ven biển.
Từ khóa: Hệ thống đê biển, biến đổi khí hậu, nhu cầu vốn đầu tư, yếu tố quyết định, Việt Nam
12