Skip Navigation Links.
Collapse  Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường
 Số 97 - Số Tiếng Anh (12/2025)
 Số 96 (12/2025)
 Số 95 (9/2025)
 Số 94 (6/2025)
 Số 93 (3/2025)
 Số 92 - Số Tiếng Anh (12/2024)
 Số 91 (12/2024)
 Số 90 (9/2024)
 Số 89 (6/2024)
 Số 88 (3/2024)
 Số 87 - Số Tiếng Anh (12/2023)
 Số 86 (12/2023)
 Số 85 (9/2023)
 Số 84 (6/2023)
 Số 83 (3/2023)
 Số 82 - Số Tiếng Anh (12/2022)
 Số 81 (12/2022)
 Số 80 (9/2022)
 Số 79 (6/2022)
 Số 78 (3/2022)
 Số 77 - Số Tiếng Anh (12/2021)
 Số 76 (12/2021)
 Số Đặc biệt (12/2021)
 Số 75 (9/2021)
 Số 74 (6/2021)
 Số 73 (3/2021)
 Số 72 - Số Tiếng Anh (12/2020)
 Số 71 (12/2020)
 Số 70 (9/2020)
 Số 69 (6/2020)
 Số 68 (3/2020)
 Số 67 (12/2019)
 Số Đặc biệt (10/2019)
 Số 66 (9/2019)
 Số 65 (6/2019)
 Số 64 (3/2019)
 Số 63 (12/2018)
 Số 62 (9/2018)
 Số 61 (6/2018)
 Số 60 (3/2018)
 Số 59 (12/2017)
 Số 58 (9/2017)
 Số 57 (6/2017)
 Số 56 (3/2017)
 Số 55 (11/2016)
 Số 54 (9/2016)
 Số 53 (6/2016)
 Số 52 (3/2016)
 Số 51 (12/2015)
 Số 50 (9/2015)
 Số 49 (6/2015)
 Số 48 (3/2015)
 Số 47 (12/2014)
 Số 46 (9/2014)
 Số 45 (6/2014)
 Số 44 (3/2014)
 Số 43 (12/2013)
 Số Đặc biệt (11/2013)
 Số 42 (9/2013)
 Số 41 (6/2013)
 Số 40 (3/2013)
 Số 39 (12/2012)
 Số 38 (9/2012)
 Số 37 (6/2012)
 Số 36 (3/2012)
 Số 35 (11/2011)
 Số Đặc biệt (11/2011)
 Số 34 (9/2011)
 Số 33 (6/2011)
 Số 32 (3/2011)
 Số 31 (12/2010)
 Số 30 (9/2010)
 Số 29 (6/2010)
 Số 28 (3/2010)
 Số 27 (11/2009)
 Số Đặc biệt (11/2009)
 Số 26 (9/2009)
 Số 25 (6/2009)
 Số 24 (3/2009)
 Số 23 (11/2008)
 Số 22 (9/2008)
 Số 21 (6/2008)
 Số 20 (3/2008)
 Số 19 (12/2007)
 Số 18 (9/2007)
 Số 17 (6/2007)
 Số 16 (3/2007)
 Số 15 (11/2006)
 Số 14 (8/2006)
 Số 13 (6/2006)
 Số 12 (3/2006)
 Số 11 (12/2005)
 Số 10 (9/2005)
 Số 9 (6/2005)
 Số 8 (2/2005)
 Số 7-C (11/2004)
 Số 7-V (11/2004)
 Số 7-N (11/2004)
 Số 7-K (11/2004)
 Số 7-NL (11/2004)
 Số 7-M (11/2004)
 Số 7-TH (11/2004)
 Số 7-LLCT (11/2004)
 Số 7-B (11/2004)
 Số 6 (9/2004)
 Số 5 (5/2004)
 Số 4 (02/2004)
 Số 3 (11/2003)
 Số 2 (9/2003)
 Số 1 (6/2003)
Số 66 (9/2019)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9 năm 2019

 
   
MỤC LỤC
Số 66 (9/2019) > trang 01-02 | Tải về (213.19 KB)
Nghiên cứu đặc điểm môi trường đất khu vực khai thác Titan phục vụ sử dụng nông lâm nghiệp
Số 66 (9/2019) > trang 03-09 | Tải về (1488.33 KB)
Lê Thị Lệ
Tóm tắt
Vùng ven biển miền Trung Việt Nam có chứa nhiều khoáng sản sa khoáng Titan. Khi khai thác, môi trường bị phá hủy, mất đất canh tác, phá hủy thảm thực vật, ô nhiễm hoặc cạn kiệt nước ngầm. Nghiên cứu đặc điểm thành phần môi trường đất nhằm cải tạo phục hồi môi trường khu vực khai thác, tạo quỹ đất sử dụng cho nông, lâm nghiệp vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa và giá trị thực tiễn cao. Bài báo bước đầu nêu được đặc điểm chất lượng đất ở những mỏ đã khai thác Titan và đề xuất nội dung cải tạo môi trường đất ở khu vực bãi thải, moong, khu khai thác… vốn nghèo chất dinh dưỡng, bị ô nhiễm hoặc nhiễm mặn để sử dụng tăng thêm quỹ đất cho nông lâm nghiệp. Đây là một hướng đi cần được quan tâm và đẩy mạnh trong thời gian tới nhằm sử dụng tốt hàng chục nghìn hecta đất hiện đang khá lãng phí ở các tỉnh miền Trung.
Từ khóa: Môi trường đất; Khai thác Titan; Ven biển miền Trung; Cải tạo, phục hồi môi trường.
Phân tích, đánh giá khả năng ứng dụng của bãi lọc trồng cây nhân tạo để xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas
Số 66 (9/2019) > trang 10-15 | Tải về (318.00 KB)
Bùi Thị Kim Anh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hồng Chuyên, Bùi Quốc Lập
Tóm tắt
Tại Việt Nam, nước thải chăn nuôi lợn chủ yếu được xử lý qua là mô hình biogas. Tuy nhiên, qua thực tế vận hành, nước thải sau biogas chưa đạt QCVN 62-MT:2016/BTNMT. Nắm bắt được vấn đề đó, nghiên cứu này đưa ra mô hình bãi lọc trồng cây nhân tạo sử dụng cây sậy (Phragmites australis Cav.) trồng trên các lớp vật liệu lọc sỏi, đá vôi và vỏ trấu để xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas. Kết quả thí nghiệm cho thấy, nước thải đầu ra đạt quy chuẩn cho phép, pH của nước thải luôn ổn định trong khoảng từ 6,9 đến 7,2, hiệu suất loại bỏ tổng phốt pho lên đến 86%; các chỉ tiêu khác như TSS, COD, tổng Nitơ và Amoni đều giảm đáng kể, hiệu suất xử lý lần lượt là 78%, 74,6%, 67,1% và 74,2% sau 168 giờ thí nghiệm. Bãi lọc trồng cây nhân tạo có hiệu suất xử lý cao, thời gian xử lý ngắn và có triển vọng ứng dụng trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas.
Từ khóa: Bãi lọc trồng cây, nước thải chăn nuôi sau biogas, sậy
Nghiên cứu đề xuất dung tích bể chứa nước mưa hợp lý phục vụ cấp nước sinh hoạt cho các hộ gia đình vùng bán đảo Cà Mau
Số 66 (9/2019) > trang 16-20 | Tải về (350.37 KB)
Nguyễn Đăng Tính, Nguyễn Minh Tâm, Vũ Văn Kiên, Vũ Thị Thu Hương
Tóm tắt
Bán đảo Cà Mau có diện tích chiếm tới khoảng 43% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, lượng mưa năm khá lớn nhưng tập trung chủ yếu trong mùa mưa. Việc sử dụng nước mưa cho sinh hoạt là khá phổ biến, đặc biệt là những vùng ven biển, những vùng chưa có hệ thống cấp nước tập trung. Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình thu hứng nước mưa chưa đúng cách, dẫn đến chất lượng nước mưa không đảm bảo, hơn thế nữa chưa có đủ cơ sở để người dân lựa chọn dung tích bể chứa nước mưa đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt trong cả năm. Bài báo sẽ nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn để đề xuất dung tích bể chứa nước mưa hợp lý cho từng vùng để người dân có cơ sở lựa chọn phục vụ cho nhu cầu cấp nước sinh hoạt ở các hộ gia đình.
Từ khóa: Bán đảo Cà Mau, mái thu gom, thu gom nước mưa, dung tích bể hợp lý
Giải pháp quản trị kỹ thuật tại công ty TNHH MTV quản lý khai thác công trình thủy lợi Quảng Trị
Số 66 (9/2019) > trang 21-28 | Tải về (295.94 KB)
Nguyễn Sinh Công, Đồng Kim Hạnh
Tóm tắt
Quản trị kỹ thuật là việc thực hiện đồng bộ các chức năng về lập kế hoạch, theo dõi, kiểm tra quá trình triển khai và thu thập kết quả từ các yếu tố đầu vào là loại công trình, nguồn lực sử dụng và khả năng tài chính của doanh nghiệp xây dựng, ngoài ra còn là quá trình phân tích ảnh hưởng công trình, chức năng nhiệm vụ công trình và hoạch định phương pháp điều hành kỹ thuật hợp lý và đạt hiệu quả cao của nhà quản lý kỹ thuật. Thông qua phân tích thực trạng và kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty IMC Quảng Trị để làm rõ công tác quản trị kỹ thuật trong các công ty khai thác công trình thủy lợi và giải pháp để tăng cường công tác quản trị về mục tiêu quản lý, vận hành, khai thác các công trình thủy lợi .
Từ khóa: Quản trị kỹ thuật, an toàn hồ đập, nguồn nhân lực, bảo trì, sửa chữa công trình
Bố trí và lựa chọn tối ưu các công trình thoát nước bền vững cho lưu vực sông Cầu Bây, Gia Lâm, Hà Nội
Số 66 (9/2019) > trang 29-36 | Tải về (1341.10 KB)
Đặng Minh Hải
Tóm tắt
Gần đây, quá trình đô thị hóa trên lưu vực đã làm gia tăng dòng chảy nước mưa vào hệ thống thoát nước trong lưu vực sông Cầu Bây. Các giải pháp thoát nước bền vững LID (Low Impact Development) trên lưu vực có hiệu quả cao trong việc giảm lưu lượng đỉnh và kéo dài thời gian tập trung dòng chảy vào hệ thống thoát nước. Bài báo này tích hợp giải thuật sắp xếp không vượt trội (NSGAII) với mô hình quản lý nước mưa (SWMM) để tìm phương án lựa chọn và bố trí tối ưu các công trình thoát nước bền vững LID trong lưu vực sông Cầu Bây. Các phương án tối ưu đạt hiệu quả giảm dòng chảy đỉnh là cao nhất và chi phí đầu tư các công trình LID là nhỏ nhất. Tập hợp các phương án tối ưu hình thành nên đường cong hiệu quả - chi phí. Mỗi điểm trên đường cong hiệu quả - chi phí tương ứng với một tổ hợp công trình gồm ô chứa sinh học, lát vật liệu thấm, hộp trồng cây, ô trồng cây cho dòng chảy qua. Ba phương án giảm dòng chảy đỉnh 10%, 24% à 46% cho thấy có sự khác biệt lớn về số lượng của mỗi loại công trình LID: hộp trồng cây có số lượng chiếm tỉ lệ từ 73.3% đến 77.4% trong khi số lượng công trình lát vật liệu thấm chỉ chiếm tỉ lệ chỉ 1%. Ngược lại, tỉ lệ về diện tích của mỗi loại công trình lại không có sự khác biệt lớn.
Từ khóa: SWMM 5.1, LID, NSGA-II, Cầu Bây
Quan trắc, đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt kênh rạch tỉnh Bình Dương
Số 66 (9/2019) > trang 37-44 | Tải về (544.75 KB)
Nguyễn Tri Quang Hưng, Nguyễn Công Mạnh, Nguyễn Minh Kỳ
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá hiện trạng chất lượng nguồn nước mặt kênh rạch trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương giai đoạn 2015 - 2017. Quá trình quan trắc, lấy mẫu nước mặt được thực hiện vào các mùa nắng và mùa mưa tại 9 vị trí kênh rạch ở địa bàn nghiên cứu. Nghiên cứu khảo sát chất lượng nguồn nước mặt tại các địa điểm quan trắc cho thấy suối Cát (M1), rạch Búng (M3), kênh D (M7) và kênh Bình Hóa (M8) là các vị trí chịu tác động rõ rệt của nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp. Tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa đang gây nguy cơ gây ô nhiễm và suy giảm chất lượng nguồn nước mặt hệ thống kênh rạch. Kết quả chỉ ra nồng độ các chất ô nhiễm vượt quá Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT. Nghiên cứu tiết lộ diễn biến chất lượng nước mặt nhiễm bẩn cao tại hầu hết các khu vực quan trắc. Phân tích thống kê đối với các thông số TSS, COD và BOD5 cho thấy giá trị biến động lớn và có sự khác biệt về mặt thống kê trong thời gian quan trắc (P<0,05). Do đó, trong tương lai các cơ quan quản lý cần phải ngăn ngừa xả thải nước thải vào kênh rạch từ các hoạt động của con người.
Từ khóa: Chất lượng nước, Bình Dương, quan trắc, kênh rạch, chất hữu cơ
Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng năng lượng sóng vùng ven biển khu vực Hải Phòng
Số 66 (9/2019) > trang 45-51 | Tải về (454.09 KB)
Trần Đức Trứ, Lê Đức Dũng, Nguyễn Hoàng Anh, Đỗ Thị Thu Hà
Tóm tắt
Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài trên 3260 km với trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ. Trong đó, vùng bờ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển, bảo vệ an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia. Đây cũng là khu vực có tiềm năng về năng lượng tái tạo như sóng, gió, thủy triều. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu và đánh giá tiềm năng năng lượng sóng vùng ven biển khu vực Hải Phòng thông qua chuỗi số liệu sóng 20 năm được lấy từ Cục quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ sử dụng làm đầu vào cho mô hình sóng Mike 21 SW để tính toán trường năng lượng sóng biển. Năng lượng sóng vùng ven biển khu vực Hải Phòng được tính toán cho hai hướng chủ đạo là hướng đông bắc và hướng nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong cả hai hướng chủ đạo thì tiềm năng năng lượng sóng biển ở khu vực ven biển Hải Phòng có mức dưới 2 kW/m.
Từ khóa: Hải Phòng, năng lượng sóng, Mike 21 SW
Nghiên cứu phương pháp lượng giá giá trị tài nguyên môi trường
Số 66 (9/2019) > trang 52-56 | Tải về (241.85 KB)
Bùi Thị Thu Hòa
Tóm tắt
Tài nguyên thiên nhiên và môi trường đóng vai trò quan trọng để đảm bảo cuộc sống trên trái đất cũng như con người. Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng và quản lý tài nguyên, cũng như nhận thức của người dân ở nhiều quốc gia hiện nay khá lỏng lẻo, thường mang tính chủ quan và thậm chí coi tài nguyên như “của trời cho”. Vì vậy bằng các công cụ kinh tế, tài nguyên thiên nhiên và môi trường cần được đánh giá và lượng hóa bằng thước đo tiền tệ , đây chính là nguồn thông tin quan trọng hướng đến việc khai thác, quản lý và bảo tồn một cách bền vững. Trong bài viết này, tác giả sẽ tổng hợp các phương pháp đánh giá giá trị tài nguyên thiên nhiên và môi trường, cũng như khả năng ứng dụng trong thực tế.
Từ khoá: Lượng giá giá trị, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Điều tiết lũ theo cơ chế vỡ của đập tràn sự cố hồ chứa nước Yên Lập - Quảng Ninh
Số 66 (9/2019) > trang 57-62 | Tải về (466.96 KB)
Phạm Thị Hương
Tóm tắt
Tràn sự cố được xây dựng để xả lũ vượt thiết kế nhằm tránh sự cố có thể xảy ra đối với cụm công trình đầu mối và đảm bảo an toàn cho hồ chứa. Bài báo trình bày kết quả tính toán mô phỏng cơ chế vỡ của đập tràn sự cố hồ chứa nước Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh bằng mô hình toán EMBANK. Từ đó làm căn cứ tính toán điều tiết lũ xác định mực nước trong hồ chứa, kiểm tra sự an toàn của cụm công trình đầu mối.
Từ khoá: đập tràn sự cố, đập tràn cầu chì, nước tràn đỉnh đập, cơ chế vỡ đập
Ứng dụng mạng nơ-ron hồi quy để xây dựng lại dữ liệu dòng chảy ngày bị thiếu
Số 66 (9/2019) > trang 63-70 | Tải về (663.84 KB)
Lê Xuân Hiền
Tóm tắt
Lưu lượng sông là một trong những dữ liệu quan trọng nhất trong thủy văn bởi các dữ liệu này có thể được sử dụng cho các phân tích liên quan tới quản lý tài nguyên nước cũng như dự báo dòng chảy lũ. Việc thiếu dữ liệu dòng chảy có thể dẫn tới các phân tích khoa học không đầy đủ. Để có được những thông tin đáng tin cậy và chính xác hơn thì những dữ liệu bị thiếu này phải được lấp đầy. Mục tiêu của bài báo này là giới thiệu một cách tiệp cận hiệu quả dựa trên mô hình mạng nơ-ron hồi quy để xây dựng lại dữ liệu dòng chảy hàng ngày bị thiếu. Trạm thủy văn Lai Châu được chọn làm trạm mục tiêu cho nghiên cứu điển hình bởi đây là trạm thủy văn nằm ở thượng lưu của lưu vực sông Đà. Kết quả nghiên cứu thể hiện hiệu suất cao của mô hình mạng nơ-ron hồi quy. Với kết quả này, mô hình hoàn toàn có thể được áp dụng cho các trạm thủy văn ở thượng nguồn nơi mà thiếu các dữ liệu về dòng chảy.
Từ khóa: GRU, RNN, dữ liệu dòng chảy bị thiếu, khôi phục dữ liệu
Mô phỏng ảnh hưởng của hỗn hợp phụ gia khoáng biến tính đến độ nở sun phát của bê tông dùng trong các công trình thủy
Số 66 (9/2019) > trang 71-80 | Tải về (676.94 KB)
Tăng Văn Lâm, Nguyễn Đình Trinh, Nguyễn Doãn Tùng Lâm và Bulgakov Boris Igorevich
Tóm tắt
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu tính chất của bê tông dùng để xây dựng công trình thủy, có thành phần cấp phối sơ bộ được xác định theo tiêu chuẩn ACI 211.4R-2008. Bên cạnh đó đã mô phỏng sự ảnh hưởng của bốn biến gồm: tỷ lệ nước/chất kết dính (N/CKD), hàm lượng tro bay nhiệt điện (TB), silica fume SF-90 (SF-90) và phụ gia siêu dẻo SR 5000F (SD) đến độ nở sun phát của mẫu bê tông được xác định theo tiêu chuẩn GOST P 56687-2015. Sử dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm bậc nhất đã xác định được mô hình toán học để mô phỏng ảnh hưởng của bốn biến đầu vào đến hàm mục tiêu, đồng thời biểu diễn bề mặt không gian và các đường đồng mức của hàm mục tiêu thu được. Từ phương trình hồi quy cho thấy tỷ lệ N/CKD, các hàm lượng của TB và SF-90 có ảnh hưởng đáng kể đến độ nở sun phát của mẫu bê tông thí nghiệm, trong khi đó hàm lượng SD không có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của hàm mục tiêu và có thể bỏ qua.
Từ khóa: Xi măng poóc lăng bền sun phát, tro bay, silica fume, độ nở sun phát, cường độ nén, hỗn hợp phụ gia khoáng, quy hoạch thực nghiệm, phương trình hồi quy
Ứng dụng công nghệ viễn thám xây dựng bản đồ ngập lụt cho khu vực sông Bùi trong trận lũ lịch sử 2018
Số 66 (9/2019) > trang 81-87 | Tải về (3041.03 KB)
Nguyễn Thế Toàn, Trần Kim Châu, Dương Thanh Tâm, Nguyễn Hà Linh
Tóm tắt
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu xây dựng bản đồ ngập lụt từ ảnh viễn thám chủ động Sentinel 1. Dựa trên nguyên lý so sánh 2 ảnh viễn thám trước khi ngập và khi đang ngập, nghiên cứu tiến hành xác định vùng ngập cho khu vực sông Bùi ứng với trận lũ lịch sử tháng 7 năm 2018. Nghiên cứu đã đưa ra phương pháp mới để đánh giá mức độ ngập lụt một cách nhanh chóng, miễn phí, không phụ thuộc vào các điều kiện thời tiết. Với độ phân giải chi tiết, kết quả của phương pháp khá phù hợp với tình hình thực tế trên khu vực nghiên cứu. Các huyện Chương Mỹ và Quốc Oai có mức độ ngập lụt lớn nhất với mức độ ngập lần lượt là 12.94 và 11.1 km2.
Từ khoá: Sentinel 1, bản đồ ngập lụt, Sông Bùi
Phân tích tương tác giữa khối nước và kết cấu cầu máng bê tông bằng phương pháp FSI
Số 66 (9/2019) > trang 88-93 | Tải về (473.54 KB)
Khúc Hồng Vân, Nguyễn Đình Thắng
Tóm tắt
Hiện nay khi phân tích kết cấu làm việc trong môi trường nước thường đưa tải trọng áp lực nước về tải trọng tĩnh gán lên bề mặt kết cấu. Tuy nhiên khi kết cấu chịu tải trọng áp lực nước biến thiên theo thời gian thì phương pháp trên không phản ánh đúng trạng thái làm việc của kết cấu. Phương pháp tương tác trực tiếp giữa khối nước và kết cấu (FSI) có thể giải quyết được vấn đề này thông qua các phần mềm phân tích phần tử hữu hạn thông dụng. Phần mềm ADINA là một trong những phần mềm mạnh có thể mô phỏng tốt tương tác động lực học giữa khối nước và kết cấu công trình. Bài báo thông qua một ví dụ cụ thể phân tích kết cấu cầu máng dẫn nước chịu tác dụng của động đất để thấy rõ hiệu quả của phương pháp FSI.
Từ khóa: Phương pháp FSI; Kết cấu cầu máng; Động đất
Phương pháp thực nghiệm xác định hệ số ma sát cối quay cửa van cung công trình hồ chứa nước Cửa Đạt
Số 66 (9/2019) > trang 94-99 | Tải về (1058.16 KB)
Nguyễn Công Thắng, Nguyễn Thái Hoàng, Nguyễn Cảnh Thái
Tóm tắt
Trong quá trình vận hành, hệ số ma sát tại cối quay cửa van cung tăng lên do nhiều nguyên nhân khác nhau. Sự gia tăng hệ số ma sát này đã gây ra nhiều sự cố nghiêm trọng được ghi nhận trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Hiện nay ở nước ta phương pháp đo đạc xác định hệ số ma sát tại cối quay chưa được nghiên cứu và đề xuất. Từ kết quả nghiên cứu trạng thái ứng suất - biến dạng trên mô hình số của phần cối động cụm cối quay cửa van cung công trình Cửa Đạt, nhóm nghiên cứu đã đề xuất phương pháp xác định hệ số ma sát tại hiện trường.
Phương pháp đề xuất được áp dụng tại hiện trường để xác định hệ số ma sát tại cụm cối quay cửa van số 4 công trình Hồ chứa nước Cửa Đạt.
Từ khóa: cối quay cửa van cung, mô hình số, hệ số ma sát, trạng thái ứng suất – biến dạng
12