Skip Navigation Links.
Collapse  Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường
 Số 97 - Số Tiếng Anh (12/2025)
 Số 96 (12/2025)
 Số 95 (9/2025)
 Số 94 (6/2025)
 Số 93 (3/2025)
 Số 92 - Số Tiếng Anh (12/2024)
 Số 91 (12/2024)
 Số 90 (9/2024)
 Số 89 (6/2024)
 Số 88 (3/2024)
 Số 87 - Số Tiếng Anh (12/2023)
 Số 86 (12/2023)
 Số 85 (9/2023)
 Số 84 (6/2023)
 Số 83 (3/2023)
 Số 82 - Số Tiếng Anh (12/2022)
 Số 81 (12/2022)
 Số 80 (9/2022)
 Số 79 (6/2022)
 Số 78 (3/2022)
 Số 77 - Số Tiếng Anh (12/2021)
 Số 76 (12/2021)
 Số Đặc biệt (12/2021)
 Số 75 (9/2021)
 Số 74 (6/2021)
 Số 73 (3/2021)
 Số 72 - Số Tiếng Anh (12/2020)
 Số 71 (12/2020)
 Số 70 (9/2020)
 Số 69 (6/2020)
 Số 68 (3/2020)
 Số 67 (12/2019)
 Số Đặc biệt (10/2019)
 Số 66 (9/2019)
 Số 65 (6/2019)
 Số 64 (3/2019)
 Số 63 (12/2018)
 Số 62 (9/2018)
 Số 61 (6/2018)
 Số 60 (3/2018)
 Số 59 (12/2017)
 Số 58 (9/2017)
 Số 57 (6/2017)
 Số 56 (3/2017)
 Số 55 (11/2016)
 Số 54 (9/2016)
 Số 53 (6/2016)
 Số 52 (3/2016)
 Số 51 (12/2015)
 Số 50 (9/2015)
 Số 49 (6/2015)
 Số 48 (3/2015)
 Số 47 (12/2014)
 Số 46 (9/2014)
 Số 45 (6/2014)
 Số 44 (3/2014)
 Số 43 (12/2013)
 Số Đặc biệt (11/2013)
 Số 42 (9/2013)
 Số 41 (6/2013)
 Số 40 (3/2013)
 Số 39 (12/2012)
 Số 38 (9/2012)
 Số 37 (6/2012)
 Số 36 (3/2012)
 Số 35 (11/2011)
 Số Đặc biệt (11/2011)
 Số 34 (9/2011)
 Số 33 (6/2011)
 Số 32 (3/2011)
 Số 31 (12/2010)
 Số 30 (9/2010)
 Số 29 (6/2010)
 Số 28 (3/2010)
 Số 27 (11/2009)
 Số Đặc biệt (11/2009)
 Số 26 (9/2009)
 Số 25 (6/2009)
 Số 24 (3/2009)
 Số 23 (11/2008)
 Số 22 (9/2008)
 Số 21 (6/2008)
 Số 20 (3/2008)
 Số 19 (12/2007)
 Số 18 (9/2007)
 Số 17 (6/2007)
 Số 16 (3/2007)
 Số 15 (11/2006)
 Số 14 (8/2006)
 Số 13 (6/2006)
 Số 12 (3/2006)
 Số 11 (12/2005)
 Số 10 (9/2005)
 Số 9 (6/2005)
 Số 8 (2/2005)
 Số 7-C (11/2004)
 Số 7-V (11/2004)
 Số 7-N (11/2004)
 Số 7-K (11/2004)
 Số 7-NL (11/2004)
 Số 7-M (11/2004)
 Số 7-TH (11/2004)
 Số 7-LLCT (11/2004)
 Số 7-B (11/2004)
 Số 6 (9/2004)
 Số 5 (5/2004)
 Số 4 (02/2004)
 Số 3 (11/2003)
 Số 2 (9/2003)
 Số 1 (6/2003)
Số 62 (9/2018)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9 năm 2018

 
   
MỤC LỤC
Số 62 (9/2018) > trang 01-02 | Tải về (185.40 KB)
Sử dụng xỉ thép và phụ gia siêu dẻo thế hệ mới thiết kế bê tông ứng dụng trong các công trình thủy lợi
Số 62 (9/2018) > trang 03-08 | Tải về (194.32 KB)
Nguyễn Quang Phú
Tóm tắt
Sử dụng phụ gia siêu dẻo Grace ADVA 181 và xỉ thép để chế tạo bê tông đạt mác Rn28 = 43,5MPa; Rn28 = 48,8MPa; Rn28 = 49,6MPa khi sử dụng phụ gia khoáng lần lượt là Tro bay, Tro trấu, Silica fume và mác chống thấm đạt W10 đến W12, đặc biệt bê tông có tính bền cao phù hợp cho các công trình Thủy lợi. Sử dụng nguồn phụ phẩm công nghiệp (xỉ quặng) làm cốt liệu sản xuất bê tông là vô cùng cần thiết và hữu ích, giải quyết vấn đề khan hiếm về cốt liệu tự nhiên sản xuất bê tông, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần bảo vệ môi trường.

Từ khóa: Bê tông; Xỉ thép; Phụ gia siêu dẻo; Chống thấm nước
Ứng dụng mạng Long short-term memory (LSTM) để dự báo mực nước tại trạm Quang Phục và Cửa Cấm, Hải Phòng, Việt Nam
Số 62 (9/2018) > trang 9-16 | Tải về (1176.77 KB)
Lê Xuân Hiền, Hồ Việt Hùng
Tóm tắt
Trong bài báo này, mô hình Bộ nhớ gần xa (Long Short-Term Memory - LSTM) được sử dụng để dự báo mực nước sông mà không cần các số liệu địa hình và dự báo mưa. Dữ liệu cần thiết cho mô phỏng là mực nước theo giờ tại các trạm thủy văn ở thành phố Hải Phòng. Mô hình được thiết lập để dự báo mực nước cho trạm Quang Phục và trạm Cửa Cấm trước 5 giờ (dự báo từ 1 giờ đến 5 giờ). Mặc dù mô hình không yêu cầu các dữ liệu về khí hậu, địa hình nhưng kết quả dự báo có độ chính xác cao. Trong trường hợp dự báo mực nước trước 3 giờ, hệ số NSE (hệ số Nash) cho giá trị trên 97,8% và giá trị RMSE (sai số căn quân phương) nhỏ hơn 0,10 m cho cả 2 trạm. Kết quả này cho thấy rằng, mô hình LSTM mà các tác giả đề xuất dự báo chính xác mực nước theo thời gian thực, có thể áp dụng mô hình này để cảnh báo lũ trên các sông của Việt Nam.
Từ khóa: Hải Phòng, dự báo mực nước, LSTM, DNN, Quang Phục, Cửa Cấm.
Nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng ăn mòn cốt thép đến kết cấu bêtông cốt thép bằng mô hình 3D-RBSM
Số 62 (9/2018) > trang 17-24 | Tải về (1349.01 KB)
Nguyễn Công Luyến
Tóm tắt
Ăn mòn cốt thép là hiện tượng phổ biến đối với kết cấu bêtông cốt thép chịu sự xâm nhập của ion clorua hay hiện tượng các-bon hóa. Hiện tượng này có thể gây nứt vỡ lớp bêtông bảo vệ, làm giảm đường kính của cốt thép và lực dính giữa bêtông và cốt thép, từ đó làm giảm khả năng chịu lực và sự làm việc bình thường của kết cấu, gây nguy hại cho sự an toàn của con người. Các mô hình để mô phỏng và dự đoán ảnh hưởng của hiện tượng này ở cấp độ kết cấu vì vậy trở nên thực sự cần thiết. Tác giả đã đề xuất và phát triển một mô hình sử dụng mô hình 3D-RBSM trong đó cốt thép được mô phỏng bằng phần tử dầm để mô hình có thể phân tích ở cấp độ kết cấu. Trong bài báo này, ảnh hưởng của các nhân tố như ảnh hưởng của sự sắp xếp các thanh cốt thép, ảnh hưởng của sự ăn mòn cốt thép lên lực dính giữa bêtông cốt thép sẽ được nghiên cứu cụ thể sử dụng mô hình đã phát triển. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình có khả năng mô phỏng chính xác ảnh hưởng của các nhân tố này. Vì vậy, mô hình có thể được sử dụng để đánh giá và dự đoán khả năng chịu tải và ứng xử của kết cấu bêtông bị ăn mòn cốt thép.

Từ khóa: ăn mòn cốt thép, lực dính, mô hình 3D-RBSM.
Biện pháp xử lý sự cố trong quá trình căng kéo cáp dự ứng lực căng sau
Số 62 (9/2018) > trang 25-31 | Tải về (1507.14 KB)
Lê Thị Minh Giang
Tóm tắt
Sự cố trong quá trình căng kéo cáp dự ứng lực căng sau có thể xảy ra tại bất kỳ dự án xây dựng dân dụng sử dụng kết cấu dự ứng lực. Các sự cố có thể xảy ra gồm nổ bê tông tại đầu kéo hoặc đầu chết, đứt cáp, tuột đầu neo chết, tắc kẹt đường cáp,.....Những sự cố này cần phải có biện pháp xử lý và phòng tránh kịp thời để đảm bảo tiến độ thi công và chất lượng các cấu kiện dự ứng lực theo đúng tiêu chuẩn thiết kế. Bài báo giới thiệu biện pháp xử lý sự cố cho hai trường hợp khá hi hữu xảy ra trong quá trình thi công cáp dự ứng lực: đường cáp bị tắc kẹt và đường cáp bị tụt đầu neo chết để thấy được tầm quan trọng trong công tác thi công căng kéo cáp dự ứng lực.

Từ khoá: sự cố căng kéo cáp, độ giãn dài lý thuyết, độ giãn dài lý thuyết.
Quan hệ biên độ và góc pha giữa một số thành phần điều hòa thủy triều
Số 62 (9/2018) > trang 32-38 | Tải về (266.88 KB)
Nghiêm Tiến Lam
Tóm tắt
Số lượng các thành phần sóng điều hòa thủy triều có ảnh hưởng đến kết quả tính toán dự báo thủy triều nhưng lại bị giới hạn bởi độ dài chuỗi số liệu quan trắc dùng để phân tích điều hòa thủy triều. Để tăng số lượng thành phần sóng điều hòa thủy triều có khả năng phân tách được từ các chuỗi số liệu ngắn có thể sử dụng một kỹ thuật gián tiếp thông qua các quan hệ về biên độ và góc pha của giữa các thành phần sóng điều hòa thủy triều thủy triều cùng loại nhật triều hay bán nhật triều. Một số quan hệ dạng này đã được thiết lập từ lý thuyết thủy triều cân bằng. Tuy nhiên các điều kiện thực tế có thể làm thay đổi các mối quan hệ này tùy điều kiện tự nhiên của từng khu vực.
Bài báo trình bày về các mối quan hệ biên độ và góc pha của giữa các thành phần sóng điều hòa thủy triều thủy triều cùng loại được xây dựng từ số liệu của Việt Nam và so sánh với các quan hệ đã có. Các quan hệ này có thể được sử dụng để tăng số lượng số lượng thành phần sóng điều hòa thủy triều khi phân tích điều hòa thủy triều cho các chuỗi số liệu quan trắc trong thời gian ngắn.

Từ khoá: Phân tích thủy triều, dự báo thủy triều, hằng số điều hòa thủy triều.
Thiết kế và chế tạo băng thử xe máy kiểu thủy lực
Số 62 (9/2018) > trang 39-45 | Tải về (923.81 KB)
Phan Duy Đức, Nguyễn Đức Khánh, Bùi Văn Chinh
Tóm tắt
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu, chế tạo băng thử xe máy di động để phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy. Băng thử bao gồm một phanh hấp thụ công suất kiểu thủy lực, hệ thống truyền động, hệ thống cấp nước, hệ thống làm mát, các cảm biến đo lực và tốc độ. Hệ thống truyền động sử dụng một con lăn chính nhận trực tiếp mô men, công suất từ bánh xe, qua trục truyền động để làm quay rotor của phanh, một con lăn phụ để dẫn hướng cho bánh xe. Hệ thống cấp nước một vòng tuần hoàn kín sử dụng hai bơm ly tâm. Lực phanh được điều khiển bằng cách thay đổi lượng nước trong phanh. Hai thông số cơ bản của băng thử là lực phanh được xác định bằng cảm biến lực loadcell và tốc độ của phanh được xác định bằng encoder. Tín hiệu từ các cảm biến được truyền về một thiết bị phần cứng giao tiếp với máy tính, được xử lý tính toán bằng ngôn ngữ lập trình đồ họa trên phần mềm LabVIEW để hiển thị thông số về mô men, công suất và tốc độ trên giao diện máy tính.

Từ khóa: băng thử xe máy, phanh thủy lực, băng thử di động.
Một cách tiếp cận độ tin cậy của kết cấu có đại lượng mờ và đại lượng ngẫu nhiên
Số 62 (9/2018) > trang 46-54 | Tải về (426.16 KB)
Nguyễn Hùng Tuấn, Lê Xuân Huỳnh
Tóm tắt
Đánh giá độ tin cậy của kết cấu trong trường hợp các đại lượng đầu vào bao gồm cả các đại lượng ngẫu nhiên và đại lượng mờ là bài toán thường gặp trong thực tế, nhưng mang nhiều thách thức, do không thể chứng minh được tính đơn nhất về mặt toán học. Có nhiều cách tiếp cận để giải bài toán này. Bài báo đề xuất một cách tiếp cận mới, trên cơ sở cải tiến và kết hợp các nguyên lý thông tin không đầy đủ và nguyên lý đặc trưng lớn nhất về chuyển đổi giữa đại lượng mờ và đại lượng ngẫu nhiên, để xác định các đại lượng ngẫu nhiên có phân phối chuẩn, tương đương với số mờ tam giác cân. Từ các đại lượng ngẫu nhiên này, sẽ chuyển sang các bài toán xác định độ tin cậy theo định nghĩa gốc, và có thể vận dụng các phương pháp xác định độ tin cậy ngẫu nhiên quen thuộc để tính toán. Đồng thời, đề xuất cách xác định độ tin cậy trung tâm và cận của độ tin cậy. Các ví dụ minh họa, so sánh với các kết quả tính toán theo các phương pháp hiện có, bước đầu cho thấy độ chính xác và hiệu quả của phương pháp đề xuất.

Từ khóa: lý thuyết mờ, độ tin cậy mờ, hàm thuộc, nguyên lý thông tin không đầy đủ, nguyên lý đặc trưng lớn nhất
Nâng cao hệ số sẵn sàng làm việc của máy làm đất
Số 62 (9/2018) > trang 55-58 | Tải về (255.45 KB)
Vũ Minh Khương
Tóm tắt
Hệ số sẵn sàng làm việc có ảnh hưởng hết sức quan trọng đến hiệu quả hoạt động của các máy làm đất. Vì vậy, việc nghiên cứu thực tế sử dụng máy làm đất, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số sẵn sàng làm việc, làm cơ sở đề xuất các biện pháp để nâng cao hệ số sẵn sàng làm việc của máy làm đất có một ý nghĩa kinh tế và kĩ thuật cao.
Nghiên cứu này đã tìm hiểu thực tiễn sử dụng máy làm đất tại các doanh nghiệp, tập đoàn lớn có nhiều máy làm đất tại Việt Nam, phân tích các hạn chế trong sử dụng, các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số sẵn sàng làm việc của máy làm đất. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp nâng cao hệ số sẵn sàng làm việc của các máy làm đất, nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng máy móc trong công tác đất.

Từ khoá: Hệ số sẵn sàng làm việc, máy làm đất, thời gian trung bình giữa các lần ngừng máy, thời gian trung bình để sửa chữa.
Ước tính tải lượng bùn cát của sông Tedori cấp cho biển Ishikawa, Nhật Bản
Số 62 (9/2018) > trang 59-65 | Tải về (1891.36 KB)
Đặng Minh Hải
Tóm tắt
Trong những thập kỷ gần đây, các hoạt động khai thác cát sỏi (KTC) và xây dựng đập (XDĐ) trên sông Tedori đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hình thái của sông và biển Ishikawa, Nhật Bản. Trong bài báo này, dựa vào bộ số liệu về địa hình của đoạn hạ lưu sông Tedori trong 58 năm và các hoạt động của con người trên đoạn sông đó, ước tính về diễn biến của tải lượng bùn cát từ hạ lưu sông Tedori cấp cho biển Ishikawa đã được thực hiện. Kết quả cho thấy, các hoạt động nạo vét lòng dẫn và KTC là nguyên nhân làm cho tải lượng bùn cát cấp cho biển Ishikawa giảm dần trong các giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1991. Tải lượng bùn cát đạt giá trị nhỏ nhất 0.72×105 m3/năm trong giai đoạn 1972–1991. Trong giai đoạn 1991-2007, đập Tedorigawa được vận hành (năm 1981) cùng với việc cấm hoàn toàn các hoạt động KTC (năm 1991) nên tải lượng bùn cát đã khôi phục nhẹ tới trị số 1.02×105 m3/năm. Tác động gián tiếp của các hoạt động KTC trong giai đoạn 0-7 km được coi là nguyên nhân gây nên hiện tượng xói bờ biển Ishikawa xảy ra sau so với quá trình xói lòng dẫn của đoạn hạ lưu sông Tedori.

Từ khóa: Khai thác cát; xây dựng đập; sông Tedori; biển Ishikawa; xói
Đánh giá hiện trạng sử dụng nước và chất lượng nước ngầm trên địa bàn Quận 12 – thành phố Hồ Chí Minh
Số 62 (9/2018) > trang 66-71 | Tải về (348.92 KB)
Lê Đức Anh, Hồ Hữu Lộc, Lương Quang Tưởng, Trần Thành
Tóm tắt
Chất lượng nguồn nước ngầm đang ngày càng suy giảm và gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sinh hoạt và sức khỏe của người dân. Để khắc phục, nhà nước đã có những nỗ lực cấp nước về các địa phương nhưng tỷ lệ sử dụng vẫn không cao. Đề tài triển khai khảo sát hiện trạng sử dụng nước và quan điểm của người dân khu vực quận 12 về chất lượng nước ngầm hiện tại, đồng thời tiến hành lấy 33 mẫu nước ngầm đang được sử dụng trải đều trên 11 phường để đánh giá tình hình chất lượng nước hiện tại. Kết quả ban đầu cho thấy có đến 97% số người dân vẫn sử dụng nước ngầm làm nguồn sinh hoạt chính và hầu như đều không hoặc rất ít sử dụng nước thủy cục mặc dù chất lượng nước ngầm đang cho thấy suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là chỉ tiêu pH ở mức thấp dao động từ 4,5 - 5,2 mẫu nước không đạt quy chuẩn cho phép làm cho môi trường nước có tính axit. Ngoài ra, mức độ ô nhiễm vi sinh ở mức rất cao đối với Coliform và nồng độ cao nhất đạt đến hơn 1000 CFU/100 ml vượt hơn rất nhiều lần so với các quy chuẩn cho phép trên toàn 11 phường.

Từ khóa: chất lượng nước ngầm, hiện trạng sử dụng nước, quận 12 - TP Hồ Chí Minh.
Đánh giá biến động lớp phủ/sử dụng đất thông qua dữ liệu viễn thám đa thời gian khu vực tỉnh Điện Biên, Việt Nam
Số 62 (9/2018) > trang 72-79 | Tải về (857.77 KB)
Lại Tuấn Anh, Phạm Văn Mạnh, Phạm Minh Tâm
Tóm tắt
Nghiên cứu biến động sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng trong giám sát, quản lý và quy hoạch sử dụng tài nguyên; đặc biệt là ở khu vực miền núi. Trên cơ sở ứng dụng công cụ viễn thám, thông tin về đối tượng sử dụng đất được mô tả một cách khái quát những thay đổi quan trọng trong môi trường GIS. Nghiên cứu tiến hành phân loại dựa vào đối tượng cho khu vực tỉnh Điện Biên giai đoạn 2002-2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy xu thế gia tăng nhanh của diện tích cây bụi (90,770.58 ha) và đất nông nghiệp (30,102.03 ha); trong khi suy giảm diện tích rừng trồng (42,506.9 ha) và rừng tự nhiên (86,474.3 ha) xuất phát chủ yếu từ nhu cầu sản xuất nông nghiệp của cư dân trong vùng. Các đặc trưng thay đổi của đối tượng sử dụng đất theo thời gian được phản ánh cụ thể thông qua 07 chỉ số cảnh quan. Đây được coi là một cách tiếp cận hiệu quả trong xác định biến động sử dụng đất, phù hợp cho nhiều quy mô lãnh thổ và đa thời gian.

Từ khoá: đánh giá định lượng, sử dụng đất, viễn thám, độ đo cảnh quan, Điện Biên
Cách tiếp cận đa tiêu chí trong phân bổ, chia sẻ nguồn nước lưu vực sông Vu Gia Thu Bồn, Việt Nam
Số 62 (9/2018) > trang 80-86 | Tải về (456.55 KB)
Bùi Du Dương, Nguyễn Hùng Anh, Vũ Minh Cát, Nguyễn Thị Thủy
Tóm tắt
Nghiên cứu đề xuất một khung phân bổ nước lưu vực dựa trên phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) để cung cấp bộ công cụ hỗ trợ các quy trình ra quyết định trong việc xác định cách phân bổ tối ưu. Bài báo tập trung phân tích tối ưu phương án phân bổ nguồn nước với kết quả đạt được là thứ tự ưu tiên và tỷ lệ phân bổ dựa trên phương pháp phân tích thứ bậc AHP thông qua mô hình DAME để tìm ra phương án chung trong phân bổ, hướng tới phát triển KT-XH chung cả lưu vực sông Vu Gia –Thu Bồn. Nghiên cứu xác định kịch bản phân bổ nguồn nước đến 2020 của Quảng Nam, Đà Nẵng và lưu vực Vu gia Thu bồn dựa trên phân tích AHP đa tiêu chí dành cho 4 đối tượng sử dụng nước bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, công nghiệp, thủy sản với kết quả tỷ lệ phân bổ tương ứng nhu sau:5.27%, 25.06%, 58.12%, 11.56% tương ứng kịch bản Quảng Nam;1.60%, 42.80%, 49.60%, 6.00% tương ứng kịch bản Đà Nẵng; 3.90%, 33.40%, 53.80%, 8.90% tương ứng kịch bản lưu vực.

Từ khoá: Phương pháp tiếp cận đa tiêu chí; AHP; DAME; Phân bổ nguồn nước; Hạn hán; lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn
Nghiên cứu, mô phỏng vận hành hệ thống liên hồ chứa lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn trong mùa cạn bằng mô hình Hec-Ressim
Số 62 (9/2018) > trang 87-94 | Tải về (2043.85 KB)
Tô Việt Thắng
Tóm tắt
Việc xây dựng hệ thống các hồ chứa thủy điện đã và đang làm cho vấn đề quản lý, phân bổ tài nguyên nước cho các đơn vị sử dụng nước khác nhau – với các mục tiêu sử dụng nước khác nhau - trên cùng một lưu vực sông trở nên phức tạp. Vấn đề này đòi hỏi phải tìm ra giải pháp “hài hòa” giữa các mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn nước cho vùng lưu vực sông. Bài báo trình bày kết quả ứng dụng mô hình HEC-RESSIM tính toán mô phỏng các phương án vận hành hệ thống hồ chứa lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn trong mùa cạn nhằm đảm bảo yêu cầu dòng chảy tối thiểu ở hạ du và tối đa hóa sản lượng điện của hệ thống. Kết quả tính toán có thể sử dụng hỗ trợ đưa ra những kiến nghị để nâng cao hiệu quả vận hành các hồ chứa trong thực tế.

Từ khóa: Vận hành hồ chứa, HecRessim, Vu Gia – Thu Bồn
A new analytical method for design of reinforced embankment on rigid pile elements
Số 62 (9/2018) > trang 95-104 | Tải về (869.83 KB)
Tuan A. Pham, Pascal Villard
Tóm tắt
Embankments constructed over soft soils induce a significant load over a large area. The technique of reinforcing soil with piles has proven to be an interesting solution that prevents failure or excessive deformations of embankments. Several simplified design procedures were introduced, but they are still over-conservative in results, yielding uneconomical designs. This study presents an advanced analytical method for design of geosynthetic reinforced piled supported embankment, which based on the combination of arching effect, tensioned membrane action, and shear resistance mechanism. The present method describes the complex behavior and interaction between geosynthetic-soil-pile, thereby providing more suitable design approaches and believed to be a useful tool for engineers in designing soil-geosynthetic system. In addition, the numerical modeling based on discrete element method with the most advanced code description currently has been used to investigate the validity and reliability of the proposed method. Thus, the results of this study are expected to provide some guidelines for designers and to bring insight about the interesting the interacting mechanism into the design process.

Keywords: piled embankment, geosynthetics, interaction mechanism, the proposed method, design, numerical analysis.

MỘT PHƯƠNG PHÁP MỚI CHO VIỆC THIẾT KẾ NỀN ĐẮP
ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN HỆ CỌC KẾT HỢP VẬT LIỆU GIA CƯỜNG

Kỹ thuật gia cường đất với cọc đã được chứng minh là một giải pháp thú vị bởi khả năng đảm bảo sự ổn định của nền đắp. Một vài phương pháp lý thuyết dựa trên các mô hình đơn giản hóa đã được đề xuất nhưng kết quả từ các phương pháp này thường cao hơn đáng kể và quá an toàn, đưa đến thiết kế không đạt hiệu quả kinh tế tối ưu. Nghiên cứu này trình bày một phương pháp phân tích mới cho việc thiết kế nền đắp trên hệ cọc kết hợp vật liệu gia cường, dựa trên sự kết hợp của hiệu ứng vòm, hiệu ứng màng căng và cơ chế tương tác sức kháng cắt. Phương pháp trình bày có khả năng để mô tả ứng xử và những tương tác phức tạp giữa vật liệu gia cường-đất-cọc, và do đó cung cấp một phương pháp thiết kế nhiều thích hợp cho các kỹ sư. Thêm vào đó, mô hình số dựa trên phương pháp phần tử rời rạc (DEM) với các ngôn ngữ mã mới nhất cũng đã được sử dụng để nghiên cứu độ tin cậy của phương pháp đề xuất. Các kết quả nghiên cứu hướng đến việc cung cấp một số chỉ dẫn cho các nhà thiết kế, và làm sáng tỏ một vài cơ chế tương tác trong nền đắp có gia cường vật liệu địa kỹ thuật.

Từ khóa: Nền đắp, cọc, vật liệu gia cường, phương pháp đề xuất, thiết kế, phân tích số
12