Số 41 (6/2013)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2013
 
   
Hiện trạng môi trường nước ngầm trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận
Số 41 (6/2013) > trang 4-11 |  PDF (1421.00 KB)
Nguyễn Cao Đơn
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, hiện trạng môi trường nước ngầm trên đảo Phú Quý được đánh giá thông qua việc phân tích hóa nước ngầm, từ đó tiến hành xác định được nước ngầm trên đảo có nguồn gốc từ đâu. Đây là một kết quả quan trong việc phân vùng nước ngầm cũng như đề xuất các vùng cần bảo vệ. Các kết quả trong nghiên cứu này là một phần sản phẩm khoa học của Đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ tiềm năng cấp Nhà nước, mã số KC.08.TN01/11-15 “Nghiên cứu xây dựng đập dưới đất để trữ nước ngầm nhằm phát triển bền vững tài nguyên nước ở các khu vực thường xuyên bị hạn, các vùng ven biển và hải đảo”.
Nghiên cứu giải pháp điều khiển trạm bơm tưới vùng ảnh hưởng triều bảo đảm cho trạm bơm lấy đủ nước trong điều kiện mực nước nguồn xuống thấp
Số 41 (6/2013) > trang 12-15 |  PDF (305.00 KB)
Lê Chí Nguyện, Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Trong những năm gần đây, vào mùa kiệt, nhiều trạm bơm tưới vùng hạ du sông Hồng và Thái Bình không đảm bảo cấp nước do mực nước sông xuống thấp. Nghiên cứu tìm giải pháp để khắc phục tình trạng trên là việc làm cần thiết. Bài báo này giới thiệu giải pháp điều chỉnh số vòng quay của máy bơm của trạm bơm tưới vùng ảnh hưởng triều trong điều kiện mực nước nguồn xuống thấp nhằm đảm bảo trạm bơm cấp đủ lưu lượng theo yêu cầu.
Thực trạng sử dụng hồ điều hòa trong hệ thống thoát nước mưa ở một số đô thị thuộc Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
Số 41 (6/2013) > trang 16-20 |  PDF (311.00 KB)
Lưu Văn Quân, Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu tổng quan về vai trò của hồ điều hòa trong thoát nước mưa đô thị và thực trạng sử dụng hồ điều hòa ở 05 thành phố thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ là Hà nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và Bắc Ninh. Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ diện tích hồ điều hòa trên diện tích đô thị là khác nhau giữa các đô thị và hiệu quả sử dụng các hồ điều hòa là còn thấp, các hồ chưa phát huy hết năng lực phục vụ. Bài báo đã đề xuất một số giải pháp trong quy hoạch, thiết kế và quản lý hệ thống thoát nước nhằm nâng cao hiệu quả tổng hợp của hồ điều hòa trong các đô thị ở nước ta.
Nghiên cứu chế độ thủy động lực, vận chuyển bùn cát và đánh giá hiệu quả giải pháp nuôi bãi khu vực bãi biển Cửa Tùng, Quảng Trị
Số 41 (6/2013) > trang 21-29 |  PDF (1814.00 KB)
Trần Thanh Tùng, Lê Đức Dũng
Tóm tắt
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu chế độ thủy động lực, vận chuyển bùn cát và đánh giá hiệu quả của giải pháp nuôi bãi áp dụng thí điểm cho khu vực bãi biển Cửa Tùng, Quảng Trị. Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu tiềm năng cấp Nhà nước “Nghiên cứu áp dụng giải pháp Nuôi Bãi Nhân Tạo cho các đoạn bờ biển bị xói lở ở khu vực miền Trung Việt Nam”, mã số KC.08.TN03/11-15. Các kết quả nghiên cứu đã đưa ra được xu thế diễn biến bồi xói theo mùa và tổng lượng bồi xói khu vực bãi biển Cửa Tùng, từ đó đề xuất mặt cắt ngang nuôi bãi và đánh giá hiệu quả của giải pháp nuôi bãi theo thời gian.
Nghiên cứu lựa chọn tuyến và hình thức các công trình điều tiết lấy nước tự chảy cho sông Đáy, Nhuệ và sông Tô Lịch
Số 41 (6/2013) > trang 30-35 |  PDF (1122.00 KB)
Nguyễn Hữu Huế
Tóm tắt
Ngày nay trước thực trạng sông Đáy sông Nhuệ cạn trơ đáy, sông Tô Lịch ô nhiễm nặng đang là vấn đề vô cùng nhức nhối đặt ra với thành phố Hà Nội. Để có thể làm sống lại các con sông trên là một bài toán khó, cấp thiết được đặt ra từ lâu. Tuy nhiên, biện pháp khả thi nhất hiện nay là tạo một đầu nước liên tục cấp nước tự chảy cho sông Đáy, sông Nhuệ đồng thời cải thiện tình trạng ô nhiễm của sông Tô Lịch. Bài báo trình bày kết quả phân tích lựa chọn phương án tuyến và đề xuất hình thức các công trình điều tiết nhằm lấy nước tự chảy cho sông Đáy,sông Nhuệ và sông Tô Lịch.
Phân tích xác định nguyên nhân gây sạt lở kè Xuân Canh, Đê Tả sông Đuống
Số 41 (6/2013) > trang 36-42 |  PDF (1595.00 KB)
Nguyễn Thanh Hùng
Tóm tắt
Do tính chất phức tạp của chế độ thuỷ văn, thuỷ lực của khu vực ngã ba phân lưu sông Hồng - sông Đuống nên đoạn sông khu vực cửa vào sông Đuống bị đe doạ. Trong những năm gần đây, khu vực này liên tục xảy ra hiện tượng sạt lở bờ sông, công trình kè bờ hộ, mà mới đây (tháng 12/ 2012) là sạt lở kè Xuân Canh tại K1+00 đê tả Đuống. Do đó việc nghiên cứu xác định rõ được nguyên nhân để từ đó đề xuất giải pháp chỉnh trị tổng thể ổn định khu vực này là rất cấp thiết. Bài báo này bước đầu phân tích xác định nguyên nhân gây sạt lở kè Xuân Canh trên cơ sở số liệu khảo sát, đo đạc và kết quả mô phỏng bằng mô hình toán.
Tương quan thực nghiệm và phương pháp bình phương bé nhất
Số 41 (6/2013) > trang 43-48 |  PDF (464.00 KB)
Phạm Hữu Sy
Tóm tắt
Trong các ngành khoa học nhiều trường hợp thường phải xác định tương quan thực nghiệm. Tương quan thực nghiệm có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau như bảng tương quan, đồ thị tương quan, toán đồ tương quan, phương trình tương quan. Tác giả bài báo đặc biệt lưu ý đến các sai sót đã xảy ra trong thời gian qua trong các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, tiêu chuẩn xây dựng liên quan đến phương trình tương quan thiết lập theo phương pháp bình phương bé nhất, với mong muốn các lỗi này không lặp lại trong công tác đào tạo.
Một số ứng dụng phân chia khối đắp và trình tự thi công đập có độ ẩm cao cho đập Tả Trạch
Số 41 (6/2013) > trang 49-53 |  PDF (419.00 KB)
Nguyễn Hữu Huế
Tóm tắt
Một trong những vấn đề cần phải được chú trọng trong quá trình thi công đập đất là việc phân chia các mặt cắt chống lũ hay còn gọi là mặt cắt kinh tế, một mặt vừa đáp ứng yêu cầu về chống lũ (an toàn đập), mặt khác đáp ứng yêu cầu về cường độ và tiến độ thi công (kinh tế). Miền Trung - Việt Nam là một vùng có điều kiện địa hình tương đối thuận lợi để xây dựng các loại đập và hồ chứa. Tuy nhiên, miền Trung về mùa mưa lại là nơi có độ ẩm cao, đất trong vùng có tính chất đặc biệt: trương nở, co ngót, tan rã. Vì vậy, muốn xây dựng được các đập đất ở miền Trung cần phải có những nghiên cứu chi tiết, thiết kế tốt và đặc biệt là biện pháp thi công phù hợp.
Ảnh hưởng của một số đặc trưng cơ lý ban đầu của bê tông đầm lăn đến tiến độ thi công đập bê tông ở Việt Nam
Số 41 (6/2013) > trang 54-62 |  PDF (955.00 KB)
Lê Quốc Toàn, Đinh Xuân Anh, Đỗ Văn Lượng
Tóm tắt
Các chỉ tiêu cơ lý của bê tông đầm lăn (RCC) thay đổi, phát triển theo thời gian và có ảnh hưởng lớn đến khả năng làm việc của khối RCC sau đông kết. Để xác định tiến độ thi công RCC hợp lý, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và tăng hiệu quả trong xây dựng công trình cần nghiên cứu diễn biến các chỉ tiêu cơ lý ban đầu của bê tông đầm lăn và xác định
Nghiên cứu điều kiện khí hóa và khí thực ở các mố tiêu năng sau công trình tháo nước
Số 41 (6/2013) > trang 63-68 |  PDF (1196.00 KB)
Nguyễn Chiến, Vũ Bá Chí
Tóm tắt
Các mố tiêu năng được bố trí sau công trình tháo nước có chế độ nối tiếp hạ lưu là chảy đáy (qua bể tiêu năng). Do chế độ chảy bao quanh các mố thường là không thuận dòng nên tại đây rất dễ phát sinh khí hóa dẫn đến khí thực làm hư hỏng mố. Trong bài này trình bày phương pháp tính toán điều kiện phát sinh khí hóa, khí thực ở các mố tiêu năng có mặt cắt hình thang, ứng với với các cấp lưu lượng đơn vị và các cấp năng lượng toàn phần khác nhau. Từ đó xây dựng được biểu đồ xác định trạng thái khí hóa trên mố tiêu năng, là cơ sở để lựa chọn giải pháp hợp lý cho thiết bị tiêu năng phụ sau công trình tháo nước.
Nghiên cứu ảnh hưởng của đê ngầm và bãi đê đến hiệu quả giảm sóng trên mô hình vật lý
Số 41 (6/2013) > trang 69-78 |  PDF (1466.00 KB)
Nguyễn Viết Tiến; Thiều Quang Tuấn; Lê Kim Truyền
Tóm tắt
Nhằm nâng cao mức độ an toàn, giảm tải trọng tác động lên đê biển, đê ngầm phá sóng ở bãi trước đê là một giải pháp công trình mang tính chủ động (đặc biệt khi các giải pháp mềm, tự nhiên khác không khả thi hoặc đem lại hiệu quả thấp), hiệu quả và có tính khả thi cao. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả giảm sóng của đê ngầm có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết nhằm đề xuất áp dụng đê ngầm vào hạng mục các công trình bảo vệ bờ. Trong bài báo này tác giả đề cập đến nội dung nghiên cứu thí nghiệm xác định hiệu quả giảm sóng của đê ngầm trên mô hình vật lý. Các thí nghiệm sóng truyền qua đê ngầm đã được thực hiện một cách công phu với 150 kịch bản thí nghiệm khác nhau về mực nước, các tham số sóng (sóng ngẫu nhiên), bãi đê và kích thước hình học đê. Dựa trên các số liệu thực nghiệm nghiên cứu đã đề xuất được phương pháp tính toán xác định hiệu quả giảm sóng của đê ngầm có độ tin cậy cao, xét được một cách đầy đủ ảnh hưởng của các tham số chi phối.
Ảnh hưởng của bước thời gian mưa thiết kế đến kết quả tính toán hệ số tiêu thiết kế
Số 41 (6/2013) > trang 79-84 |  PDF (392.00 KB)
Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của bước thời gian mưa thiết kế đến kết quả tính hệ số tiêu cho các vùng nông nghiệp, nông thôn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bước thời gian của mô hình mưa tiêu thiết kế có ảnh hưởng lớn đến kết quả tính toán hệ số tiêu thiết kế. Khi giá trị bước thời gian tăng lên thì giá trị hệ số tiêu thiết kế của các đối tượng giảm xuống, mức độ giảm hệ số tiêu của các đối tượng không phải là lúa lớn hơn mức độ giảm hệ số tiêu của lúa. Nghiên cứu đã thiết lập được một bảng tra giá trị K là tỷ số giữa hệ số tiêu thiết kế tính theo bước thời gian 1h và hệ số tiêu thiết kế tính theo bước thời gian là 1ngày. Kết quả nghiên cứu này có thể được ứng dụng để xác định lưu lượng tiêu thiết kế ứng với mô hình mưa giờ của các công trình tiêu khi biết hệ số tiêu thiết kế tính theo mô hình mưa ngày.
Nghiên cứu các giải pháp công trình nâng cao hiệu ích phát điện cho trạm thủy điện nhỏ và đảm bảo yêu cầu dùng nước hạ lưu
Số 41 (6/2013) > trang 85-92 |  PDF (430.00 KB)
Nguyễn Văn Sơn, Hoàng Công Tuấn, Nguyễn Thị Nhớ
Tóm tắt
Bài báo đưa ra các giải pháp công trình nhằm nâng cao hiệu ích phát điện cho trạm thủy điện nhỏ trong điều kiện dòng chảy hạn chế vào mùa kiệt, góp phần làm giảm căng cho hệ thống điện, đồng thời đảm bảo yêu cầu dùng nước tối thiểu ở hạ lưu. Áp dụng nghiên cứu cho trạm thủy điện Pờ Hồ ở tỉnh Lào Cai. Kết quả thu được đã cho thấy được ý nghĩa cao của các giải pháp đưa ra. Bài báo cũng đưa ra những kết luận và kiến nghị rất thiết thực giúp cho các chủ đầu tư khi quyết định đầu tư dự án thủy điện và giúp cho các cơ quan nhà nước có cơ sở xem xét đề ra chính sách giá điện cũng như đề ra quy định cụ thể về dòng chảy tối thiểu trong điều kiện trạm thủy điện phải đảm bảo đồng thời nhiệm vụ phát điện và yêu cầu về khai thác tổng hợp tài nguyên nước.
Khảo sát và tính toán một số đặc tính của thiết bị chuyển đổi năng lượng sóng biển
Số 41 (6/2013) > trang 93-98 |  PDF (1278.00 KB)
Phùng Văn Ngọc; Nguyễn Thế Mịch; Đặng Thế Ba
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu các nghiên về cứu thiết bị biến đổi năng lượng sóng biển thành điện năng sử dụng nguyên lý phao nổi. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đi vào khảo sát, phân tích và tính toán các đặc tính của thiết bị biến đổi năng lượng sóng. Các kết quả nghiên cứu cho thấy được việc sử dụng thiết bị dao động phao nổi hoàn toàn đáp ứng về mặt chuyển đổi năng lượng trong thực tế với điều kiện áp dụng tại vùng biển Việt Nam. Quá trình nghiên cứu đưa ra một số kết quả tính toán cho thiết bị biến đổi năng lượng sóng biển dạng hình trụ áp dụng cho vùng có mức năng lượng lớn
Nghiên cứu mô phỏng mô hình điều khiển PID để xác định các thông số điều tốc của tổ máy thuỷ điện
Số 41 (6/2013) > trang 99-102 |  PDF (368.00 KB)
Nguyễn Văn Sơn
Tóm tắt
Từ việc nghiên cứu nguyên lý hoạt động của máy điều tốc theo mô hình điều khiển PID, đặc tính chủ yếu của tuyến năng lượng và các tổ máy thủy điện, từ đó xây dựng mô phỏng toán học cho mô hình điều khiển PID của máy điều tốc tổ máy thuỷ điện. Chạy thử nghiệm điều khiển tổ máy trên máy tính để xác định các thông số điều khiển tối ưu cho máy điều tốc thay cho việc phải chạy thử nghiệm nhiều trên tổ máy thủy điện thực tế, giúp đẩy nhanh tiến độ và đem lại hiệu quả nhất định. Nghiên cứu áp dụng cho thủy điện Tà Cọ 30MW – Tỉnh Sơn La cho kết quả tính toán phù hợp với kết quả thí nghiệm trên tổ máy thủy điện thực.
12