Số 44 (3/2014)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2014
 
   
MỤC LỤC
Số 44 (3/2014) > trang 1-2 |  PDF (414.00 KB)
Effect of initial placement conditions on shear strength of a shallow layer expansive soil
Số 44 (3/2014) > trang 03-10 |  PDF (884.00 KB)
Kieu Minh The, Nguyen Canh Thai, Trinh Quang Minh, Duong Thi Thanh Hien
Tóm tắt
The aim of this paper is to study the effects of the initial placement conditions (viz., compaction coefficient K and water content W) on the shear strength of an expansive soil. The soil was investigated as a 40 cm thick layer at the initial water contents on the both sides optimum water content (OWC) with different compaction coefficients. Compacted soil specimens were allowed to swell and shrink to the initial height under wetting-drying cycles with the wetting duration lasting 20 days in each cycle. The dry density, water content and shear strength of soil were determined at different depths after each cycle

Bài báo này nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện ban đầu (độ chặt K và độ ẩm W) tới sức chống cắt của một loại đất trương nở. Mẫu đất thí nghiệm được đầm nén dưới dạng một lớp có chiều dày 40cm với độ chặt K khác nhau tại các độ ẩm ban đầu khác nhau ở cả hai phía của độ ẩm tốt nhất W¬¬opt. Các mẫu đất được làm ướt cho trương nở tự do sau đó co lại tới chiều cao ban đầu khi được hong khô trong không khí trong các chu kỳ ướt – khô khác nhau, với quá trình làm ướt kéo dài trong 20 ngày ở mỗi chu kỳ. Các giá trị dung trọng khô, độ ẩm và sức chống cắt của đất được xác định tại các chiều sâu khác nhau sau mỗi chu kỳ.

Từ khóa: Đất trương nở, hệ số đầm nén, sức chống cắt, chu kỳ khô-ướt.
Long term structural health monitoring system for cable stayed bridge in Vietnam
Số 44 (3/2014) > trang 11-16 |  PDF (2324.00 KB)
Luong Minh Chinh
Tóm tắt
Structural Health Monitoring System (SHMS) has been applied and developed in recent years. Most of the major bridges in the world, especially cable-stayed bridge, are installing the Structural Health Monitoring Systems to continuously monitoring and collecting data (the physical quantity) during the operation and exploitation time. In U.S., Japan and Europe, the Structural Health Monitoring System applied and developed very effectively. This article introduces an overview of monitoring systems and devices of SHMS, also shows the necessity of a SHMS system for major bridge projects in Vietnam such as the cable-stayed bridge, serving for the management, rehabilitation and maintenance of bridge works. Based on the documents and research results, the article aim to provide directions for establishing and training qualified staffs and experts in this field of structural health monitoring in Vietnam

Hệ thống quan trắc công trình cầu bắt đầu được đưa vào ứng dụng và phát triển trên thế giới từ những năm gần đây. Phần lớn các công trình cầu lớn, cầu dây văng quan trọng trên thế giới đều được lắp đặt những hệ thống quan trắc khác nhau nhằm liên tục theo dõi và thu thập các dữ liệu (các đại lượng vật lý) trong suốt quá trình hoạt động và khai thác của cầu. Mỹ, Nhật và ở châu Âu là những nơi mà các hệ thống quan trắc được đưa vào ứng dụng rộng rãi và rất hiệu quả. Bài viết này giới thiệu tổng quan về hệ thống giám sát và các thiết bị của hệ thống SHMS, đồng thời cũng cho thấy sự cần thiết của một hệ thống quan trắc SHMS cho các dự án cầu lớn ở Việt Nam như cây cầu dây văng để phục vụ cho công tác quản lý, bảo dưỡng và duy tu công trình cầu. Dựa trên các tài liệu và kết quả nghiên cứu, bài viết nhằm mục đích cung cấp hướng dẫn cho việc thiết lập và đào tạo đội ngũ nhân viên và các chuyên gia có trình độ trong lĩnh vực quan trắc trạng thái kết cấu công trình cầu ở Việt Nam.

Từ khóa: SHMS quan trắc, trạng thái, kết cấu, cầu lớn, cầu dây văng, bảo dưỡng duy tu, thu thập dữ liệu.
Nghiên cứu cơ sở khoa học tăng thêm dung tích hồ chứa nước ở miền Trung Việt Nam
Số 44 (3/2014) > trang 17-22 |  PDF (334.00 KB)
Lê Xuân Khâm
Tóm tắt
Việt Nam là một trong những nước có nhiều hồ chứa, đa số các đập đầu mối là đập đất và được xây dựng từ những năm 70-80, điều kiện và khả năng xây dựng lúc bấy giờ còn khó khăn nên nhiều đập đã xuống cấp nghiêm trọng. Đến nay do tác động của biến đổi khí hậu nên có nhiều hiện tượng thiên tai bất thường như bão, lũ, trong đó miền Trung là nơi chịu ảnh hưởng nhiều so với cả nước. Để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra và đáp ứng nhu cầu dùng nước ở hạ lưu cần thiết phải tăng dung tích hồ chứa. Vì vậy, bài báo đã tập trung nghiên cứu, đánh giá khả năng tích thêm nước của các hồ chứa ở miền Trung mà công trình đập đầu mối vẫn làm việc an toàn, đây cũng là cơ sở khoa học để giúp cho các nhà quản lý tham khảo, áp dụng cho từng công trình cụ thể
Phân tích nguyên nhân sự cố vỡ đê bao công trình nhiệt điện Trà Vinh
Số 44 (3/2014) > trang 23-27 |  PDF (807.00 KB)
Lê Xuân Roanh, Phạm Văn Lập
Tóm tắt
Việc xây dựng tuyến đê biển trong trường hợp phải đắp đê bao phục vụ công tác thi công là trường hợp đặc biệt khi mực nước thi công luôn cao và công nghệ thi công dưới nước chưa đáp ứng được. Sự thất bại trong quá trình thi công đê bao bảo vệ nhà máy nhiệt điện Trà Vinh là một bài học về cách chọn cao trình và quy trình thi công cho loại kết cấu này
Quan trắc nhiệt (thermal monitoring) – một phương pháp tối ưu quan trắc hiện tượng thấm trong lòng đê và đập đất
Số 44 (3/2014) > trang 28-36 |  PDF (838.00 KB)
Krzysztof Radzicki
Tóm tắt
Quan trắc nhiệt (thermal monitoring) thân đê, đập đã nâng cao chất lượng công tác quan trắc các công trình đê, đập đất nhằm phát hiện sớm cũng như phân tích sự biến đổi và phát triển của hiện tượng thấm và xói trong lòng đê, đập. Điểm mấu chốt ở đây là ứng dụng các cảm biến nhiệt độ phân bổ (eng. Distributed Temperature Sensing) cùng với sự phát triển của các phương pháp và mô hình phân tích tính toán hiện tượng truyền nhiệt cùng dòng nước chảy. Hiện tượng xói và thấm bên trong thân đê đập là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng tới kết cấu và độ an toàn của các công trình đê, đâp đất. Quan trắc một cách chính xác hiện tượng này là chìa khóa để đảm bảo và nâng cao đô an toàn đối với các công trình đê đập, đồng thời giảm thiểu tối đa các chi phí vận hành khai thác và duy tu sửa chữa của công trình.
Trong bài chúng tôi giới thiệu những thông tin sơ bộ về các phương pháp quan trắc nhiệt cũng như các vấn đề cần quan tâm trong công tác quan trắc nhiệt. Ngoài ra chúng tôi cũng giới thiệu các mô hình quan trắc nhiệt bằng phương pháp thụ động dành cho các công trình đê, đập thủy lợi. Đặc biệt trong bài tác giả đặt trọng tâm vào việc ứng dụng của phương pháp quan trắc nhiệt trong thực tế
Tính độ tin cậy an toàn của kè bảo vệ mái dốc lắp ghép bằng các cấu kiện bê tông đúc sẵn
Số 44 (3/2014) > trang 37-42 |  PDF (374.00 KB)
Nguyễn Quang Hùng, Nguyễn Văn Mạo
Tóm tắt
Kè bảo vệ mái dốc lắp ghép bằng các cấu kiện bê tông đúc sẵn liên kết ma sát là loại kết cấu linh hoạt dễ biến dạng theo nền được dùng phổ biến để bảo vệ mái đê, mái đập, bờ sông, bờ biển ở Việt Nam hiện nay. Do đặc điểm cấu tạo và chịu tác động của nhiều yếu tố bất định của tự nhiên nên nó là một trong những hệ thống kết cấu làm việc phức tạp. Các phân tích kết cấu theo thiết kế truyền thống gặp nhiều hạn chế trong việc mô tả điều kiện biên cũng như những hạn chế của mô hình thiết kế tất định. Bài báo trình bầy kết quả nghiên cứu độ tin cậy an toàn của loại kè bảo vệ mái dốc này theo hướng tiếp cận với bài toán phân tích hệ thống . Bài báo là tài liệu tham khảo cho các thiết kế theo hướng hiện đại để khác phục những hạn chế của thiết kế truyền thống đang sử dụng đối với loại kết cấu này ở Việt Nam.
Lựa chọn vật liệu để thiết kế cấp phối bê tông tự lèn
Số 44 (3/2014) > trang 43-48 |  PDF (343.00 KB)
Nguyễn Quang Phú
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu việc lựa chọn vật liệu để thiết kế một số cấp phối bê tông tự lèn có cường độ từ M30-M60 áp dụng cho xây dựng các công trình Thủy lợi.
Xác định hệ số tập trung ứng suất đầu cọc trong giải pháp xử lý nền bằng cọc bê tông cốt thép kết hợp với vải địa kỹ thuật
Số 44 (3/2014) > trang 49-57 |  PDF (1005.00 KB)
Nguyễn Tuấn Phương, Võ Phán, Võ Ngọc Hà
Tóm tắt
Giải pháp xử lý nền bằng cọc bê tông cốt thép kết hợp với vải địa kỹ thuật càng trở nên phổ biến và ứng dụng rộng rãi hơn khi hiệu quả của giải pháp thiết thực. Tuy nhiên việc thiết kế giải pháp xử lý nền hiện nay chỉ dựa vào kết quả phân tích từ phương pháp phần tử hữu hạn mà chưa có sự kiểm chứng thực tế. Bài báo đưa ra kết quả kiểm chứng thực tế hệ số tập trung ứng suất đầu cọc để từ đó đánh giá hiệu quả của giải pháp xử lý nền đối với công trình xây dựng, giúp người thiết kế có thể thiết kế an toàn tiết kiệm hơn.
Lựa chọn hàm lượng xi măng và tỉ lệ nước-xi măng hợp lý cho gia cố đất yếu vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long
Số 44 (3/2014) > trang 58-62 |  PDF (1034.00 KB)
Thái Hồng Sơn, Trịnh Minh Thụ, Trịnh Công Vấn
Tóm tắt
Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là một đồng bằng có hệ thống công trình ở khu vực ven biển Cần Giờ, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang sẽ nằm trong tầm nhìn chiến lược của quốc gia Việt Nam và thế giới trong việc đảm bảo an ninh lương thực và thích ứng với biến đối khí hậu toàn cầu. Đa phần đất yếu khu vực mà tác giả đề cập có tính chất cơ lí không đủ đáp ứng tốt cho việc xây dựng công trình. Do vậy, đất vùng này cần được gia cố trước khi xây dựng theo hướng gia tăng tính chất cơ lý đảm bảo tính ổn định, kinh tế và tiến độ xây dựng. Hiện nay phương pháp “Xi măng đất trộn sâu” (XĐ-TS) đã và đang được các nước trên thế giới đánh giá cao, đặt biệt là Nhật Bản và các nước vùng Scandinaver. Trong phương pháp “Xi măng đất trộn sâu” thì việc lựa chọn hàm lượng xi măng và tỉ lệ nước/xi măng (N/XM) hợp lý là công tác rất quan trọng, chúng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tiến độ và giá thành dự án. Bài báo này tập trung trình bày một số kết quả thí nghiệm trong phòng về tỷ lệ xi măng, nước/xi măng gia cố đất yếu vùng ĐBSCL mà tác giả đã và đang nghiên cứu sẽ là tài liệu định hướng hữu ích để tham khảo cho việc áp dụng công nghệ “Xi măng đất trộn sâu” xử lý đất yếu trong vùng
Nghiên cứu đánh giá nguyên nhân & tình trạng hư hỏng của mặt đê bê tông xi măng và công nghệ sửa chữa
Số 44 (3/2014) > trang 63-67 |  PDF (1870.00 KB)
Vũ Quốc Vương
Tóm tắt
Kết cấu bê tông đã được sử dụng phổ biến để xây dựng các công trình xây dựng dân dụng và công nghệp, giao thong và thủy lợi… Nhiều mặt đê bê tông xi măng kết hợp thủy lợi với giao thông thường có hiện tượng bong tróc xi măng, còn trơ lại đá. Nguyên nhân là do chất lượng bê tông kém và đặc biệt xe quá tải thường xuyên qua lại. Một trong những giải pháp kinh tế để sửa chữa bề mặt đê này là dùng một lớp vữa đặc biệt phủ lên bề mặt bê tông cũ. Để thi công và kiểm soát được chất lượng của lớp vữa này cần phải có một quy trình sửa chữa. Vậy nên bài báo đề cập đến nguyên nhân hư hỏng và một công nghệ sửa chữa mặt đê bê tông xi măng.
Nghiên cứu nâng cao khả năng chống thấm cho bê tông đầm lăn đập trọng lực bằng sơn thấm thấu kết tinh gốc xi măng
Số 44 (3/2014) > trang 68-75 |  PDF (343.00 KB)
Nguyễn Quang Phú
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu việc áp dụng sơn chống thấm thẩm thấu kết tinh gốc xi măng để nâng cao khả năng chống thấm cho bê tông đầm lăn đập trọng lực.
Vẻ đẹp kỹ thuật-kết cấu trong kiến trúc công trình thủy lợi-thủy điện
Số 44 (3/2014) > trang 76-80 |  PDF (4539.00 KB)
Phạm Thị Liên Hương
Tóm tắt
Trong thiết kế kiến trúc, tự thân hệ kết cấu, vật liệu, hệ thống đường ống kỹ thuật và máy móc cùng với sự hoàn thiện kỹ thuật cao có khả năng tạo sức truyền cảm mạnh mẽ về nghệ thuật, gây tác động mỹ cảm sâu sắc đến người quan sát. Do yêu cầu công năng của công trình thủy lợi, thủy điện nên hình thức của nó thường hướng tới sự đơn giản, cái đẹp tự nhiên của hình khối, của sự chuyển động, của bản thân hệ kết cấu chịu lực. Đó là các đập ngăn nước, đập tràn, trụ pin, cửa van, cống đập ngăn mặn, cầu máng… những công trình kết hợp hài hòa vẻ đẹp mỹ thuật trong hình khối kỹ thuật đã trở thành những điểm nhấn cảnh quan độc đáo, tô điểm diện mạo đôi bờ sông.
Tính độ tin cậy an toàn hệ thống công trình đầu mối ở hồ chứa
Số 44 (3/2014) > trang 81-87 |  PDF (537.00 KB)
Nguyễn Lan Hương
Tóm tắt
Tiếp cận với thiết kế ngẫu nhiên và phương pháp phân tích hệ thống để đánh giá độ tin cậy an toàn của công trình và hệ thống công trình là một cách tiếp cận mới hiện đại của các nước trên thế giới. Hiện tại ở Việt Nam, các công trình thủy lợi, thủy điện đang được thiết kế theo phương pháp tất định và trong quá trình tính toán có nhiều hạn chế, trong nhiều trường hợp không có cơ sở để tìm ra nguyên nhân gây đổ vỡ công trình. Trong nghiên cứu này, tác giả giới thiệu cách tính độ tin cậy an toàn của từng công trình trong hệ thống và của cả hệ thống theo hướng tiếp cận với thiết kế ngẫu nhiên cấp độ II kết hợp với phương pháp phân tích hệ thống.
Nghiên cứu đánh giá tác động điều tiết hồ chứa đến chế độ dòng chảy kiệt hạ du lưu vực sông Mã
Số 44 (3/2014) > trang 88-94 |  PDF (2008.00 KB)
Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Xuân Lâm
Tóm tắt
Vùng hạ du sông Mã là khu vực phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, du lịch và trung tâm văn hoá của tỉnh Thanh Hoá nói riêng, cũng như của khu vực Bắc Trung Bộ nói chung. Trong những năm gần đây đang phải đối mặt với tình suy giảm dòng chảy mùa kiệt, mặn xâm nhập sâu, trong khi đó, hệ thống một số hồ chứa lớn đang hình thành và dự kiến sẽ có những tác động chế độ dòng chảy vùng hạ lưu, đặc biệt về mùa kiệt. Bài báo giới thiệu một số kết quả nghiên cứu đánh giá tác động của vận hành hồ chứa đến dòng chảy kiệt, qua đó, làm cơ sở cho các đề xuất thích ứng trong tương lai.
12