Số 56 (3/2017)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2017
 
   
MỤC LỤC
Số 56 (3/2017) > trang 1-2 |  PDF (314.00 KB)
Xác định mối quan hệ giữa chi phí xây dựng kênh tưới với lưu lượng thiết kế trạm bơm vùng đồng bằng sông Cửu Long
Số 56 (3/2017) > trang 3-8 |  PDF (332.00 KB)
Nguyễn Tiến Thái, Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí xây dựng kênh tưới (kênh đất) với lưu lượng trạm bơm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Phương pháp hồi quy thực nghiệm được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được công thức xác định chi phí xây dựng kênh tưới (kênh đất) theo lưu lượng trạm bơm cho 03 dạng khu tưới phổ biến ở vùng ĐBSCL. Kết quả nghiên cứu này có thể ứng dụng trong công tác quy hoạch các hệ thống kênh tưới vùng ĐBSCL.
Từ khóa: Chi phí xây dựng kênh tưới, lưu lượng trạm bơm.
Different growth performance - tilapia (Oreochromis niloticus) in using two different types of feed at Hoa My reservoir, Thua Thien Hue province, Vietnam (Sự tăng trưởng khác nhau của cá rô phi (Oreochromis niloticus) do sử dụng hai loại thức ăn khác nhau tại hồ Hòa Mỹ, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam)
Số 56 (3/2017) > trang 9-15 |  PDF (434.00 KB)
Luong Quang Tuong, Nguyen Phi Nam
Tóm tắt
Aquaculture is a kind of method for utilizing the potential of available water areas such as at Hoa My reservoir. The Tilapia (Oreochromis niloticus) with average weight of 20.3 g is a candidate for developing aquacultural activities. Objective find the effect of different protein level: industrial feed (35% protein) and blended feed (21% protein) on growth performance, survival rate parameters of fish. The fingerlings were stocked in four cages (3.5x 2.5x 1.5 meter each), surrounded by fishing net. The temperature, pH and DO parameters were recorded 2 times per day at 7am and 2pm, being calculated as an average value at 7 days interval. Growth measurements of Tilapia relating to the weight and length of fish were recorded at 15 days intervals. The findings show that Hoa My reservoir seems a potential with stability of pH (6.8-7) and DO (4.5-5.4 mg/). The survival rate (SR) in the blended feed is 89,7% and the industrial feed is 94,7%. The feed conversion ratio (FCR) of fish fed by blended feed and industrial feed is 1.6 and 1.42, respectively. It means that the industrial feed had higher economic efficiency 175.000VND, compared with the blended feed in same environmental conditions.
Keywords: reservoir; Tilapia; water parameters; nutrition; economic efficiency.

SỰ TĂNG TRƯỞNG KHÁC NHAU CỦA CÁ RÔ PHI (OREOCHROMIS NILOTICUS)
DO SỬ DỤNG HAI LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU TẠI HỒ HÒA MỸ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ, VIỆT NAM

Nuôi trồng thủy sản là phương pháp để tận dụng tiềm năng vùng nước ở các đập như hồ Hòa Mỹ. Cá rô phi vằn với trọng lượng trung bình 20,3g được là ứng cử viên cho việc phát triển nghiên cứu. Mục tiêu là tìm ra ảnh hưởng của mức độ protein khác nhau: thức ăn công nghiệp (35% protein) và thức ăn phối trộn (21% protein) lên tăng trưởng, tỷ lệ sống của cá. Cá giống nuôi trong bốn lồng (3.5 x 2.5 x 1,5 mét), bao quanh bằng lưới đánh cá. Nhiệt độ, pH và oxy hòa tan (DO) được ghi 2 lần mỗi ngày, lúc 7 giờ sáng và 2 giờ chiều, được tính với giá trị trung bình trong 7 ngày. Đo tốc độ tăng trưởng của cá rô phi về trọng lượng và chiều dài trong khoảng 15 ngày.
Kết quả cho thấy hồ Hòa Mỹ rất tiềm năng với sự ổn định của pH (6,8-7) và DO (4,5-5,4 mg/l) cho phát triển nuôi trồng thủy sản. Tỷ lệ sống (SR) thức ăn phối trộn là 89,7% và thức ăn công nghiệp là 94,7%. Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) của cá nuôi bằng thức ăn phối trộn và công nghiệp lần lượt là 1,6 và 1,42 có nghĩa là thức ăn công nghiệp có hiệu quả kinh tế cao hơn 175.000VND so với thức ăn phối trộn trong điều kiện môi trường như nhau.
Từ khóa: Đập nước; Cá rô phi; chỉ số môi trường nước; dinh dưỡng; hiệu quả kinh tế.
Mô phỏng nước dâng do bão và xây dựng bản đồ ngập lụt đảo Phú Quốc
Số 56 (3/2017) > trang 16-23 |  PDF (628.00 KB)
Vũ Minh Cát, Vũ Văn Lân
Tóm tắt
Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất Việt Nam và có tiềm năng phát triển kinh tế xã hội rất lớn. Vì vậy việc qui hoạch và phân vùng chức năng hợp lý giúp Phú Quốc trở thành một đặc khu kinh tế phát triển mạnh mẽ. Một trong những nội dung phục vụ xây dựng qui hoạch không gian biển cho Phú Quốc là phải xem xét đến các thảm họa tự nhiên, trong đó bão và nước dâng do bão tiềm ẩn rủi ro rất cao. Nghiên cứu này trình bày kết quả mô phỏng nước dâng do bão và xây dựng bản đồ ngập lụt trên đảo Phú Quốc theo các kịch bản khác nhau, phục vụ cho việc qui hoạch không gian biển đảo Phú Quốc bao gồm qui hoạch phát triển kinh tế xã hội và qui hoạch dân cư và xây dựng các giải pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do bão và nước dâng gây ra.
Từ khóa: Delft 3D-Flow; nước dâng do bão; xây dựng bản đồ ngập lụt, đảo Phú Quốc.
Nghiên cứu phương pháp cảnh báo hạn nông nghiệp vùng hạ lưu sông Cả
Số 56 (3/2017) > trang 24-33 |  PDF (1369.00 KB)
Đỗ Thị Ngọc Ánh, Nguyễn Quang Phi, Nguyễn Hoàng Sơn
Tóm tắt
Hạn nông nghiệp xảy ra khi lượng ẩm trong đất không đủ để duy trì sản lượng nông nghiệp trung bình. Hậu quả ban đầu là làm giảm sản lượng mùa vụ và các sản phẩm liên quan khác. Hạn hán nghiêm trọng có thể dẫn đến nạn đói, bệnh dịch,…Hạn nông nghiệp xảy ra chủ yếu bởi lượng mưa thấp, nhiệt độ bề mặt quá cao. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ Viễn thám và GIS sử dụng ảnh vệ tinh Landsat 8 khu vực hạ lưu sông Cả, được thu nhận vào ngày 1-2/07/2015 để tính toán các chỉ số địa vật lý về nhiệt độ và thực vật. Từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa nhiệt độ bề mặt, độ che phủ, độ ẩm đất và hạn nông nghiệp. Nghiên cứu cho thấy các chỉ số có quan hệ chặt chẽ với nhau cũng như với hạn nông nghiệp, có thể sử dụng một chỉ số dựa trên mối quan hệ với các chỉ số khác để cảnh báo hạn nông nghiệp.
Từ khóa: Nhiệt độ bề mặt LST, TCI, VCI, NDVI, Cảnh báo hạn nông nghiệp, Viễn thám và GIS.
Nghiên cứu xử lí chì trong nước thải phòng thí nghiệm hóa bằng vật liệu đá ong biến tính và đất sét nung
Số 56 (3/2017) > trang 34-40 |  PDF (846.00 KB)
Đinh Thị Lan Phương, Nguyễn Thị Liên
Tóm tắt
Môi trường nước mặt Việt Nam đang trở nên ô nhiễm trầm trọng. Nước thải từ các khu công nghiệp, các phòng thí nghiệm chưa qua xử lí xả thẳng ra hệ thống thoát nước chung. Các kim loại nặng như chì có trong nước thải là mối đe dọa đến sức khỏe con người. Xử lí kim loại nặng trong nước thải công nghiệp bằng chất trợ lắng PAC và NaOH với hệ thống bể trộn tự động, bơm hút li tâm đã được áp dụng tại một số khu công nghiệp nhưng khá tốn kém về kinh phí và diện tích lắp đặt. Với công suất nước thải thí nghiệm nhỏ từ các trường đại học, viện nghiên cứu thì sử dụng hệ thống lắng lọc tự động là lãng phí. Các vật liệu rẻ tiền và phổ biến tại Việt Nam như đất sét, đá ong, than củi để lọc chì trong nước thải không chỉ cho hiệu quả cao, tiết kiệm không gian mà còn thân thiện với môi trường. Thử nghiệm tại phòng thí nghiệm Hóa học (Đại học Thủy lợi), nước thải chì được thu gom xử lí riêng, kết quả thu được: 2,4kg vật liệu (đất sét nung, đá ong biến tính, than củi) có khả năng lọc 24 lít nước thải chì nồng độ 207ppm giảm xuống còn 0,10069 ± 0,00095ppm nằm trong giới hạn QC nước thải công nghiệp 40:2011 BTNMT.
Từ khóa: Nước thải, kim loại chì, đá ong biến tính, đất sét nung
Ứng dụng phương pháp đánh giá vỡ đập nhanh cho hồ chứa vừa và nhỏ
Số 56 (3/2017) > trang 41-46 |  PDF (649.00 KB)
Nguyễn Thế Toàn, Trần Kim Châu
Tóm tắt
Hồ chứa là loại hình công trình đã và đang được xây dựng nhiều ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, những rủi ro mà các hồ chứa đem lại cũng rất cần quan tâm, đặc biệt là những rủi ro do vỡ đập. Trong nghiên cứu này các tác giả trình bày công cụ đánh giá vỡ đập nhanh cho các hồ chứa vừa và nhỏ. Với việc sử dụng các nguồn dữ liệu có khả năng thu thập một cách nhanh chóng, tính toán đơn giản, nghiên cứu đưa ra một hướng tiếp cận mới đối với việc đánh giá tác động do vỡ đập đối với những hồ chứa có tình hình số liệu hạn chế. Kết quả của nghiên cứu được lượng hóa một cách cụ thể, đây là thông tin cần thiết cho người ra quyết định thực hiện một đánh giá chi tiết hơn.
Từ khóa: vỡ đập nhanh, hồ chứa vừa và nhỏ, đánh giá thiệt hại.
Hiện tượng phá vỡ đối xứng nghịch đảo trong chuyển pha nhiệt ở hệ Boson hai thành phần
Số 56 (3/2017) > trang 47-50 |  PDF (546.00 KB)
Đặng Thị Minh Huệ, Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Chuyển pha nhiệt là sự thay đổi về chất trạng thái của hệ tại điểm chuyển pha khi nhiệt độ thay đổi đạt đến giá trị tới hạn. Loại chuyển pha nhiệt và các kịch bản chuyển pha được xác định qua việc khảo sát sự phụ thuộc nhiệt độ của các tham số trật tự đặc trưng cho hệ. Bài báo này trình bày những kết quả nghiên cứu về chuyển pha nhiệt trong hệ boson hai thành phần hoà tan nhờ sử dụng phương pháp tác dụng hiệu dụng Cornwall-Jackiw-Tomboulis trong gần đúng bong bong kép cải tiến. Kết quả cho thấy chuyển pha nhiệt trong hệ là chuyển pha loại hai, xảy ra khi nhiệt độ được hạ xuống đến giá trị tới hạn theo một trong hai kịch bản: chuyển pha phục hồi đối xứng hoặc chuyển pha phục hồi phá vỡ đối xứng nghịch đảo.
Từ khóa: Giá trị tới hạn, tham số trật tự, thế hiệu dụng, phục hồi đối xứng, phá vỡ đối xứng nghịch đảo.
Nghiên cứu thực nghiệm dầm bê tông cốt thép gia cường bởi nhiều thanh thép hình chịu uốn phẳng
Số 56 (3/2017) > trang 51-59 |  PDF (1582.00 KB)
Trần Văn Toản
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu chương trình thực nghiệm để xác định hành vi và khả năng chịu lực thực sự của dầm bê tông cốt thép được gia cường bởi 3 thanh thép hình chịu uốn đơn. Đặc biệt, là quá trình chịu lực của dầm kể từ khi các vật liệu đạt đến biến dạng chảy dẻo cho đến khi đứt gãy. Nội dung bài báo bao gồm mô tả dầm thí nghiệm, thiết bị, vật liệu, sơ đồ và quá trình thực nghiệm. Thí nghiệm này được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Cơ học kết cấu của Học viện Khoa học ứng dụng Quốc gia Rennes, Pháp (INSA de Rennes). Dầm thực nghiệm được giữ nguyên kích thước hình học mặt cắt và chiều dài, cũng như bố trí cốt thép phía trong dầm. Các dữ liệu đo đạc thu được sẽ được xử lý và phân tích để chỉ ra diễn biến truyền lực cơ học khi dầm chịu lực cho đến khi bị phá hủy.
Từ khóa: Thực nghiệm, dầm bê tông cốt cứng, thép hình, uốn đơn, chảy dẻo, đứt gãy.
Chuyển pha lượng tử trong hệ Boson hai thành phần khi thế hoá học thay đổi
Số 56 (3/2017) > trang 60-64 |  PDF (747.00 KB)
Đặng Thị Minh Huệ, Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Chuyển pha lượng tử là hệ chuyển từ trạng thái lượng tử này sang trạng thái lượng tử khác khi thế hoá hoặc hằng số liên kết thay đổi, đạt đến giá trị tới hạn (đi qua điểm chuyển pha) ở nhiệt độ gần 0K. Các kịch bản chuyển pha lượng tử được xác định qua việc khảo sát sự phụ thuộc vào thế hoá hoặc hằng số liên kết ở mỗi giá trị nhiệt độ cực thấp của các tham số trật tự đặc trưng cho hệ. Bài báo này trình bày những kết quả nghiên cứu về chuyển pha lượng tử trong hệ boson hai thành phần hoà tan nhờ sử dụng phương pháp tác dụng hiệu dụng Cornwall-Jackiw-Tomboulis trong gần đúng bong bong kép cải tiến. Kết quả cho thấy chuyển pha lượng tử trong hệ là chuyển pha loại hai, xảy ra theo một trong hai kịch bản: chuyển pha phục hồi đối xứng hoặc chuyển pha phá vỡ đối xứng nghịch đảo.
Từ khóa: giá trị tới hạn, tham số trật tự, thế hiệu dụng, phục hồi đối xứng, phá vỡ đối xứng nghịch đảo.
Xây dựng bản đồ mưa ngày lớn nhất cho tỉnh Quảng Nam dựa trên phân tích tần suất mưa vùng và suy luận Bayesian
Số 56 (3/2017) > trang 65-71 |  PDF (776.00 KB)
Nguyễn Chí Công
Tóm tắt
Trong thiết kế và quản lý công trình thủy lợi-thủy điện hiện nay, thông tin về tần suất thiết kế và kiểm tra của lượng mưa ngày lớn nhất là rất quan trọng. Tại Việt Nam, do chuỗi quan trắc của các trạm đo mưa ngắn nên dẫn đến kết quả ước tính lượng mưa ngày thiết kế hoặc kiểm tra của công trình thường kém tin cậy. Bên cạnh đó, do mật độ mạng lưới trạm đo mưa ở nước ta khá thưa nên thường không đại diện mưa cho lưu vực tính toán. Để khắc phục hạn chế này, tác giả sử dụng cách tiếp cận vùng và suy luận Bayesian để làm lớn kích thước dữ liệu các trạm, nhằm tăng độ tin cậy của ước tính tần suất và sau đó xây dựng bản đồ phân bố mưa ngày lớn nhất phục vụ thiết kế và quản lý công trình. Vùng nghiên cứu là tỉnh Quảng Nam với 16 trạm đo mưa và kết hợp với 09 trạm đo mưa tại các tỉnh tiếp giáp với tỉnh Quảng Nam làm cơ sở cho việc xây dựng bản đồ mưa ngày lớn nhất. Kết quả nghiên cứu đã khắc phục những hạn chế hiện nay và phù hợp với xu thế mưa trong vùng. Ngoài ra, các kết quả này còn ước tính được lượng mưa tương ứng với tần suất thiết kế hoặc chu kỳ lặp lại tại bất kỳ vị trí nào.
Từ khóa: phân tích tần suất vùng, suy luận Bayesian, độ tin cậy, mưa ngày lớn nhất, tỉnh Quảng Nam.
Chọn hàm phân phối xác suất đại diện cho phân phối mưa 1 ngày Max ở Việt Nam
Số 56 (3/2017) > trang 72-79 |  PDF (724.00 KB)
Nguyễn Trường Huy, Nguyễn Hoàng Lâm, Võ Ngọc Dương, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Chí Công
Tóm tắt
Thông tin về tần suất và cường độ mưa cực hạn là vô cùng quan trọng trong việc thiết kế và quản lý các công trình xây dựng. Thông tin này có được thông qua việc phân tích tần suất mưa (PTTS). Thách thức đặt ra là hiện nay có rất nhiều hàm phân phối xác suất (HPPXS) khác nhau được sử dụng rộng rãi trong việc PTTS nhưng vẫn chưa có sự nhất trí chung về việc nên sử dụng HPPXS nào. Do đó, trong thực tế tính toán, một số HPPXS thông dụng sẽ được lựa chọn và so sánh mức độ khớp để chọn ra hàm thích hợp nhất. Bài báo này so sánh mức độ khớp của 07 HPPXS phổ biến sử dụng số liệu mưa ngày cực hạn từ 155 trạm mưa toàn Việt Nam. Kết quả phân tích dựa trên các dạng đồ thị và các chỉ tiêu thống kê cho thấy hàm phân phối chuẩn tổng quát là HPPXS thích hợp nhất cho việc mô tả mưa ngày cực hạn ở Việt Nam. Hai hàm Pearson loại III và giá trị cực hạn tổng quát cũng cho giá trị gần như tương đồng.
Từ khóa: hàm phân phối xác suất, đường tần suất, mưa lớn nhất, phân tích tần suất.
Removal lead from waste water in battery recycle village of Viet Nam by low cost adsorbent created from treated fy ash and polyurethane foam (Xử lý nước bị ô nhiễm Chì tại làng tái chế Chì ở Việt Nam bằng vật liệu Composit chi phí thấp từ tro bay biến tính và Polyurethane foam)
Số 56 (3/2017) > trang 80-87 |  PDF (946.00 KB)
Pham Thi Hong, Nguyen Duc Long, Bui Thi Mai Huong, Do Thuan An
Tóm tắt
The objective of this research is to create a low cost material with high heavy metal removal capacity. Our study focuses on preparing a composit which can remove lead from wastewater of battery recycle villages of Vietnam, based on treated fly ash (TFA) and polyurethane (PU) foam. Fly ash after treating by thermal and NaOH has the surface area of 250.12 m2/g which leads to its high adsorption capacity, monolayer adsorption capactity = 3gPb/g. The preparation of PU foam and treated fly ash (TFA) process was conducted by mixing TFA and PU foam then treated withthermal. The TFA supported PU can increase the absorption capacty of PU. The PU/TFA composit was performed its removal of 87% lead in wastewater of batery recycle village. In this research, we successfully created a low cost adsorbent that can be used in recycle villages in Vietnam where heavy metal contaminated wastewater has not been treated properly.
Keywords: Battery recycle village, low cost adsorbent, material removal, polyurethane foam, treated fly ash.

XỬ LÝ NƯỚC BỊ Ô NHIỄM CHÌ TẠI LÀNG TÁI CHẾ CHÌ Ở VIỆT NAM
BẰNG VẬT LIỆU COMPOSIT CHI PHÍ THẤP TỪ TRO BAY BIẾN TÍNH
VÀ POLYURETHANE FOAM

Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung chế tạo vật liệu chi phí thấp có khả năng xử lý ô nhiễm kim loại trong môi trường nước. Đây là loại vật liệu composit được hình thành từ tro bay biến tính ở Phả Lại và chất PU foam tạo xốp trong công nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tro bay biến tính sau khi được hoạt hóa bằng NaOH có diện tích bề mặt lớn là 250.12 m2/g và đương lượng hấp phụ lớp đơn phân tử lớn nhất là = 3gPb/g và chỉ số CEC trao đổi cao là 40.4 cmolc kg-1 Vật liệu composit từ PU foam và tro bay biến tính (chiếm 5% khối lượng vật liệu) được tạo thành có diện tích bề mặt hấp phụ là 37,2 m2/g có khả năng hấpphụ 87% chì trong nước với nồng độ chì ban đầu là 0,77mg/L nước đầu vào lấy tại vùng nước mặt làng nghề tái chế chì Đông Mai, Hưng Yên. Ngoài khả năng xử lí chì tốt, loại vật liệu này rất dễ tạo khuôn, thích hợp cho việc lắp ráp vào các thiết bị xử lý có hình dạng khác nhau trong quá trình ứng dụng.
Từ khóa: Làng tái chế chì, vật liệu hấp phụ chi phí thấp, xử lý kim loại nặng, polyurethane foam, tro bay biến tính
Ứng dụng phụ gia khoáng tro bay vào công nghệ vữa xi măng tự chảy không co ngót
Số 56 (3/2017) > trang 88-91 |  PDF (320.00 KB)
Hoàng Quốc Gia, Vũ Quốc Vương
Tóm tắt
Mục đích của bài báo này là thử nghiệm sự kết hợp giữa vữa xi măng tự chảy không co ngót và phụ gia khoáng tro bay. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là thay thế một phần vữa xi măng bằng nhiều tỉ lệ tro bay khác nhau (từ 0 – 30%) sau đó thực hiện các thí nghiệm đánh giá độ lưu động (độ chảy xòe) và cường độ chịu nén (ở 28 ngày tuổi). Các kết quả thí nghiệm đã chỉ ra hàm lượng tro bay tối ưu và cho thấy triển vọng để ứng dụng loại phụ gia khoáng này vào công nghệ vữa xi măng tự chảy.
Từ khóa: Vữa xi măng tự chảy không co ngót, tro bay, độ lưu động, cường độ nén.
Nghiên cứu thí nghiệm cố kết thấm và sức kháng cắt của đất yếu phân bố ở đồng bằng ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng phục vụ quy hoạch và thiết kế công trình giao thông
Số 56 (3/2017) > trang 92-101 |  PDF (603.00 KB)
Nguyễn Thị Ngọc Yến
Tóm tắt
Bài báo trình bày những kết quả nghiên cứu đặc trưng cố kết thấm và sức kháng cắt của đất yếu đa nguồn gốc đồng bằng ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu cho thấy đất yếu chủ yếu là bùn sét, bùn sét pha có tuổi và nguồn gốc khác nhau (ambQ23; mbQ22; ambQ22 và abmQ21) mới được thành tạo, diện phân bố không đều, bề dày có sự thay đổi lớn và ít lộ ra trên mặt. Đất hầu như chưa được cố kết, áp lực tiền cố kết bé (Pc = 52,55 kPa ÷61,5 kPa đối với bùn sét pha và Pc = 45,50 kPa ÷ 58,8 kPa đối với bùn sét), hệ số nén lún lớn (a0,5-1≥ 10 kPa-1), hệ số cố kết ngang thể hiện tính chất bất đồng nhất rõ rệt, môđun tổng biến dạng nhỏ (E0,5-1 ≤ 5000 kPa) và sức kháng cắt thấp. Đây là những đối tượng có ảnh hưởng bất lợi đến công tác quy hoạch, thiết kế công trình nói chung và đường giao thông nói riêng.
Từ khóa: Đất yếu; sức kháng cắt; đặc trưng cố kết thấm; hệ số cố kết ngang.
12