Số 49 (6/2015)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2015
 
   
MỤC LỤC
Số 49 (6/2015) > |  PDF (330.00 KB)
The influence of pile cap on bearing capacity of pile group
Số 49 (6/2015) > trang 3-7 |  PDF (509.00 KB)
Hoang Viet Hung
Tóm tắt
This research shows the influence of pile cap on bearing capacity of pile foundation, especially pile groups of shaft resistance. Using PLAXIS-3D FOUNDATION sofware to simulate a actual application with 4 piles in groups and assumption for 7 stiffness modulus of soil under pile cap. The output calculation expresses that in both the cap and the pile carrying the load. The cap is necessary to spread the vertical and horizontal loads and any overturning moments to all the piles in group and transfer load to soil underneath.

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÀI CỌC ĐẾN SỨC CHỊU TẢI CỦA NHÓM CỌC

Bài báo nêu kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của đài cọc đến sức chịu tải của móng cọc đặc biệt là móng cọc sức kháng ma sát (cọc treo). Nghiên cứu sử dụng phần mềm PLAXIS-3D FOUNDATION để mô phỏng ứng dụng móng cọc thực tế có 4 cọc với giả thiết 7 trị số độ cứng mô đun biến dạng của đất ngay dưới đáy đài. Kết quả tính toán mô phỏng chỉ rõ ảnh hưởng đài cọc đến sức chịu tải của cọc. Đài cọc đảm nhiệm phân phối tải trọng đứng và ngang, mô ment tới tất cả các cọc đồng thời còn truyền tải trọng vào lớp đất dưới đáy đài.
Từ khóa: Ảnh hưởng, đài cọc, sức chịu tải, truyền tải, sức kháng ma sát.
Giải pháp tăng cường độ và tính bền cho bê tông sử dụng trong các kết cấu bê tông bảo vệ mái đê biển
Số 49 (6/2015) > trang 8-13 |  PDF (333.00 KB)
Nguyễn Quang Phú, Đỗ Đoàn Dũng
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu việc sử dụng kết hợp phụ gia khoáng hoạt tính siêu mịn và phụ gia siêu dẻo trong thành phần bê tông để tăng cường độ và tính bền cho bê tông sử dụng trong các kết cấu kè lát mái bảo vệ đê biển. Cấp phối bê tông có sử dụng kết hợp 20% Tro bay và 10% Silica fume với 0,5% phụ gia siêu dẻo giảm nước bậc cao HWR100, CP5-F20S10P0,5 bê tông đạt cường độ ở tuổi 28 ngày là 49MPa, độ thấm ion Clo sau 6 tháng tại điểm đo vào sâu bên trong bê tông 4cm là 0,022% thỏa mãn các yêu cầu về độ đặc chắc, độ bền cao cho bê tông.
Phân tích ảnh hưởng của bấc thấm lý tưởng và bấc thấm không lý tưởng trong mô phỏng xử lý nền bằng phương pháp hút chân không kết hợp với bấc thấm
Số 49 (6/2015) > trang 14-21 |  PDF (1283.00 KB)
Lê Bá Vinh
Tóm tắt
Bài viết giới thiệu các phân tích về cách mô phỏng phương pháp hút chân không kết hợp với bấc thấm để xử lý nền đất yếu. Cách phân tích mô phỏng bấc thấm lý tưởng và không lý tưởng đã được thực hiện với 2 công trình thực tế. Các kết quả thu được về độ lún, chuyển vị ngang, áp lực nước lỗ rỗng thặng dư trong nền đã được so sánh, đối chiếu với các kết quả quan trắc thực tế. Do đó cần tùy theo điều kiện công nghệ bơm hút chân không cũng như kinh nghiệm của nhà thầu thi công để có thể xác định cách mô phỏng bấc thấm cho hợp lý nhất để thiết kế tính toán dự tính độ lún cuối cùng cũng như xem xét các ứng xử của nền đất một cách chính xác
Đánh giá nhận thức và sự chuẩn bị phòng chống thiên tai biển của người dân miền Trung và Nam Việt Nam
Số 49 (6/2015) > trang 22-28 |  PDF (830.00 KB)
Nguyễn Danh Thảo, Lê Tuấn Anh
Tóm tắt
Với đường bờ biển dài và có vị trí nằm ven bờ Thái Bình Dương, hằng năm, Việt Nam phải hứng chịu nhiều cơn bão và kèm theo đó là hiện tượng nước dâng do bão. Ngoài ra, trong bối cảnh nhiều trận sóng thần xảy ra trong thời gian gần đây gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều quốc gia, nguy cơ xảy ra thảm họa sóng thần ngay tại khu vực Biển Đông mà đặc biệt ở vùng ven biển Việt Nam là không thể bỏ qua. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống cảnh báo thảm họa cùng với việc thiết lập kế hoạch phòng chống và sơ tán trong trường hợp khẩn cấp để giảm thiểu thiệt hại về người và của là rất cấp thiết. Trong bài báo này, các tác giả đã tập trung vào tìm hiểu và đánh giá nhận thức và sự sẵn sàng ứng phó với thiên tai biển của người dân ven biển Miền Trung và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cũng như tính hiệu quả của những biện pháp phòng chống đã và đang được triển khai từ sự nỗ lực của các cấp chính quyền địa phương. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng mức độ người dân nhận thức được những hiểm họa đến từ biển khơi là tương đối cao nhưng song song với đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong công tác chuẩn bị và triển khai kế hoạch ứng phó.
Diễn biến môi trường đất vùng bán ngập ven biển dưới tác động của thủy triều và các yếu tố thời tiết
Số 49 (6/2015) > trang 29-34 |  PDF (490.00 KB)
Nguyen Thi Minh Hang
Tóm tắt
The beaches with mudflats located near islands surrounded by a sea are usually characterized by cyclic variations in soil moisture due to changes in temperature, evaporation, rainfall and tidal fluctuation. These issues of the unsaturated zone and mudflat behavior under varied boundary conditions were studied by establishing a new conceptual model for a study area, which is the Trieu Duong beach of Phu Quy Island, Binh Thuan Province. The effect of the tidal fluctuation on the variability of the moisture in the mudflat was also studied. We found that seawater intrusion has been expected in the beach line area. The variation of soil moisture follows daily cycles, rather than monthly or seasonal. These studied preliminary results help us/scientist to understand the behavior of the mudflat in terms of variation in moisture content and also salinity which may help in proper ecological management of the area.

DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT VÙNG BÁN NGẬP VEN BIỂN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA THỦY TRIỀU VÀ CÁC YẾU TỐ THỜI TIẾT

Nhiều bãi biển ven các hòn đảo có biển bao quanh thường được đặc trưng bởi các biến động có tính chu kỳ về độ ẩm của đất do sự thay đổi về nhiệt độ, bốc hơi, mưa và thủy triều. Những biến động này của vùng chưa bão hòa dưới tác động của các điều kiện biên khác nhau đã được nghiên cứu bằng cách thiết lập một mô hình toán cho một khu vực nghiên cứu là bãi biển Triều Dương của đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Ảnh hưởng do sự lên xuống của thủy triều đến sự thay đổi của độ ẩm trong các bãi bồi cũng đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy sự xâm nhập mặn đã và đang xảy ra ở khu vực đường bờ. Sự biến động về độ ẩm của đất theo chu kỳ hàng ngày, chứ không theo chu kỳ tháng hoặc theo mùa. Những kết quả ban đầu giúp làm rõ ứng xử về mặt môi trường của các bãi biển về sự thay đổi độ ẩm và độ xâm nhập mặn, từ cũng trợ giúp trong việc ra quyết sách quản lý sinh thái thích hợp của khu vực.
Từ khóa: Vùng đất không bão hòa, vùng ven biển, mô hình số, độ ẩm, đảo Phú Quý.
Nghiên cứu xây dựng mô hình thủy văn kinh tế lưu vực sông Ba trên cơ sở ngôn ngữ GAMS
Số 49 (6/2015) > trang 35-40 |  PDF (468.00 KB)
Nguyễn Thị Thu Nga, Hoàng Thanh Tùng, Kiều Trung Hiếu
Tóm tắt
Lưu vực sông Ba là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam hiện đang gặp nhiều vấn đề trong quản lý tài nguyên nước. Bài báo này tóm tắt các kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình phân bổ tài nguyên nước trên lưu vực sông Ba theo hướng tối ưu về kinh tế bằng việc ứng dụng ngôn ngữ GAMS (General Algebraic Modeling System). Các kết quả ban đầu cho thấy khả năng ứng dụng các phần mềm tối ưu vào bài toán phân bổ tài nguyên nước là khá tốt, cần được phát triển và mở rộng trong tương lai.
Nghiên cứu phân tích xác định các nguyên nhân gây suy giảm mực nước hạ du sông Hồng
Số 49 (6/2015) > trang 41-47 |  PDF (583.00 KB)
Bùi Nam Sách
Tóm tắt
Trong những năm gần đây, mực nước sông Hồng tại trạm thủy văn Hà Nội trong mùa kiệt luôn xuống rất thấp, có lúc hạ thấp tới mức lịch sử (0,10m ngày 21/II/2010), ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc cấp nước cho các hộ dùng nước đặc biệt là cấp nước cho nông nghiệp ở vùng hạ du sông Hồng. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm mực nước nhưng nguyên nhân nào là chủ yếu, do tự nhiên hay do tác động của con người. Bài báo nghiên cứu hai tác động chính đến sự suy giảm mực nước trên sông Hồng là hoạt động, vận hành của các hồ chứa thượng lưu và thay đổi tỷ lệ phân lưu nước từ sông Hồng sang sông Đuống. Bài báo cũng đã nghiên cứu đến sự biến động của đường quan hệ mực nước và lưu lượng về mùa cạn.
Ứng dụng phương pháp hàm thế giải bài toán truyền sóng đều qua đê chắn sóng dạng tường rèm theo phương pháp số phần tử biên
Số 49 (6/2015) > trang 48-53 |  PDF (332.00 KB)
Nguyễn Quốc Hòa
Tóm tắt
Công trình chắn sóng dạng tường rèm có kết cấu là một tường chắn sóng thẳng đứng được đỡ bằng hệ thống cọc, giữa mép dưới của tường chắn sóng và đáy biển có khoảng hở cho phép dòng chất lỏng chảy qua, được sử dụng để làm thay đổi các thông số sóng bề mặt ở các vùng ven biển. Bài báo này trình bày lý thuyết và thuật toán ‎tính toán sự biến đổi sóng khi lan truyền gặp công trình chắn sóng dạng rèm phẳng, mỏng, không có lỗ khoét bằng phương pháp phần tử biên. Kết quả nghiên cứu đã tạo ra được chương trình tính toán theo phương pháp số phần tử biên bằng ngôn ngữ Fortran 90 để khảo sát sự truyền sóng đều qua đê chắn sóng dạng tường rèm. Các tính toán so sánh bằng chương trình này cho thấy, khi chiều sâu ngập nước của tường chắn sóng giảm thì sự truyền sóng qua chân tường tăng lên, và ở vùng nước nông sự truyền sóng qua tường chắn sóng dạng rèm lớn hơn so với vùng nước sâu.
A method for estimating erosion parameters from Jet Erosion Test
Số 49 (6/2015) > trang 54-58 |  PDF (371.00 KB)
Van Nghia Nguyen
Tóm tắt
The erosion law of soil cohesive is modeled using the excess shear stress equation, which includes two erosion parameters: the erosion coefficient (kD) and the critical shear stress (τc). Between the exist devices, a Jet Erosion Test (JET) is a standardized device available for deriving the erosion parameters of soil cohesive. The JET data are typically analyzed using a Blaisdell solution approach. A second solution approach based on direct parameter optimization to the measured erosion depth data has recently been proposed but with limited evaluation. The aims of this work were to develop a new solution (or method) to predict erosion parameters, and to compare with three approaches. A series of JET conducted in laboratory on Silty soil were used to evaluate the performance of this new solution approach.

PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG CÁC THÔNG SỐ
TỪ THIẾT BỊ JET EROSION TEST
Định luật xói của đất dính được mô hình hóa sử dụng phương trình ứng suất chống cắt dư, phương trình bao gồm hai thông số xói: hệ số xói (kD) và ứng suất chống cắt giới hạn của đất (τc). Trong số những thiết bị hiện có, Jet Erosion Test (JET) là một thiết bị được tiêu chuẩn hóa để xác định các thông số xói của đất dính. Số liệu từ thí nghiệm JET được phân tích sử dụng cách tiếp cận của Blaisdell. Cách tiếp cận thứ hai là tối ưu hóa trực tiếp các thông số để đo thông số độ sâu hố xói được phát triển gần đây, tuy nhiên còn nhiều hạn chế. Mục đích của bài báo này là phát triển một cách tiếp cận mới (hoặc phương pháp) để dự đoán các thông số xói, và so sánh kết quả với ba cách tiếp cận hiện có. Một loạt các thí nghiệm JET thực hiện ở phòng thí nghiệm trên đất dính Silty được sử dụng để đánh giá hiệu quả của cách tiếp cận mới này.
Từ khóa: Jet Erosion Test (JET), thông số xói, hệ số xói, ứng suất chống cắt giới hạn.
Soil erosion: The influence of compaction curve - Application on Silt soil using the Jet Erosion Test
Số 49 (6/2015) > trang 59-65 |  PDF (798.00 KB)
Van Nghia Nguyen
Tóm tắt
The influence of some soil parameters on the erosion of a silty soil, characterized by the erosion coefficient kD, the critical shear stress τc, and the equilibrium erosion depth Pe, is studied. A series of test using the submerged Jet Erosion Tests was carried out to examine the influence of dry density ρd, compaction water content w. The results show that at dry side of compaction curve the erosion coefficient and the equilibrium erosion depth decrease when the dry density, the compaction water content, whereas the critical shear stress increases with these parameters. But an inverse relationship is observed at wet side of compaction curve.

XÓI MÒN ĐẤT: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐƯỜNG CONG ĐẦM NÉN –
ỨNG DỤNG CHO ĐẤT Á SÉT KHI SỬ DỤNG THIẾT BỊ JET EROSION TEST

Bài báo nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số của đất đến các thông số xói của đất á sét như hệ số xói kD, ứng suất giới hạn chống cắt τc và độ sâu cân bằng của hố xói Pe. Một loạt mẫu thí nghiệm được thực hiện sử dụng thiết bị Jet Erosion Test để nghiên cứu ảnh hưởng của dung trọng khô ρd và độ ẩm đầm nén của đất w. Kết quả cho thấy bên nhánh khô của đường cong đầm nén, hệ só xói và độ sâu cân bằng của hố xói giảm với độ tăng của độ ẩm đầm nén trong khi cường độ chống cắt giới hạn tăng. Nhưng bên phía nhánh ướt kết quả thu được ngược lại so với nhánh khô.
Từ khóa: Jet Erosion Test, thông số xói, hệ số xói, ứng suất giới hạn chống cắt.
Tính toán lũ thiết kế hồ chứa Buôn Tua Srah dưới tác động của biến đổi khí hậu
Số 49 (6/2015) > trang 66-72 |  PDF (1032.00 KB)
Ngô Lê An
Tóm tắt
Biến đổi khí hậu dẫn đến sự thay đổi về tài nguyên nước, đặc biệt là vấn đề về lũ như lưu lượng đỉnh lũ, tần suất lũ... Vì vậy, các hồ chứa được thiết kế trước đây có nguy cơ đối mặt với những rủi ro do sự thay đổi về lũ gây ra. Bài báo đã đưa ra một cách tiếp cận để tính toán lũ thiết kế trong điều kiện biến đổi khí hậu cho lưu vực hồ Buôn Tua Srahtheo các kịch bản phát triển RCP 4.5 và RCP 8.5 của mô hình HadGEM2-AO và HadGEM3-RA. Kết quả cho thấy dòng chảy lưu vực có xu thế giảm, lưu lượng đỉnh lũ thiết kế giảm từ 20-30% với cùng tần suất. Nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất tiêu chuẩn thiết kế lũ hồ chứa trong điều kiện biến đổi khí hậu như là một kết quả của đề tài cấp nhà nước, mã số: BĐKH 61.
Nghiên cứu dự báo dòng chảy lũ đến các hồ chứa Sơn La, Hòa Bình và Tuyên Quang trên sông Hồng
Số 49 (6/2015) > trang 73-79 |  PDF (914.00 KB)
Ngô Lê An, Vũ Thị Minh Huệ
Tóm tắt
Từ năm 2007, hàng loạt các hồ chứa ở thượng nguồn sông Hồng thuộc địa phận Trung Quốc được xây dựng và đưa vào vận hành làm thay đổi đáng kể dòng chảy lũ về Việt Nam. Bài báo đã đưa ra phương án dự báo lũ đến các hồ chứa chính của Việt Nam trên sông Hồng nhằm nâng cao khả năng phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do lũ. Phương pháp tự hồi qui được sử dụng để dự báo dòng chảy cho các trạm thuỷ văn sát biên giới mô phỏng khả năng vận hành hồ chứa ở thượng nguồn. Mô hình mưa dòng chảy Hec-HMS sử dụng để mô phỏng dòng chảy lũ khu giữa từ biên giới về các hồ chứa ở hạ lưu kết hợp lượng mưa dự báo từ mô hình MM5. Với thời gian dự báo dự kiến 24 giờ, mô hình thống kê tự hồi qui dự báo cho các vị trí thượng nguồn nằm sát biên giới cho số lần dự báo đạt yêu cầu là 60% ở Mường Tè và 68% ở Bắc Mê. Số lần dự báo đạt yêu cầu dòng chảy lũ đến hồ Sơn La cho 24 giờ tới là 63%, đến hồ Tuyên Quang là 50% và hồ Hoà Bình là 74%.
Đặc điểm lưu vực sông Ba trong vận hành hồ chứa và đánh giá môi trường tích lũy
Số 49 (6/2015) > trang 80-85 |  PDF (309.00 KB)
Ngô Đình Tuấn, Lương Hữu Dũng, Nguyễn Văn Sỹ
Tóm tắt
Lưu vực sông Ba là lưu vực sông lớn nhất vùng ven biển Miền Trung và đã được nhiều cơ quan, nhà khoa học nghiên cứu và đã đưa ra những đặc điểm lưu vực theo mục đích quy hoạch thủy lợi, thiết kế công trình, đánh giá tài nguyên nước. Trong bài báo này, các tác giả tiếp cận bài toán vận hành liên hồ chứa và đánh giá môi trường tích lũy trên cơ sở phân tích các đặc điểm chính của lưu vực sông Ba có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
The use of artificial neural networks for prediction of discharge capacity of a spillway with a breast wall
Số 49 (6/2015) > trang 86-93 |  PDF (554.00 KB)
Nguyen Cong Thanh
Tóm tắt
The accuracy of discharge estimation is very important from an operational, environmental and economic point of view in irrigation or hydroelectric projects. This accuracy affects the safety in the activities and operation of the entire work systems. This paper describes the application of Artificial Neural Networks (ANNs) and Adaptive Network Fuzzy Inference System (ANFIS) models to predict the discharge capacity of a breast wall spillway. The performance of these models is compared to the conventional non-linear regression (NLR) and multi-linear regression (MLR) models based on experimental data. Root mean square errors ( ), average error ( ), average absolute deviation ( ) and correlation coefficient ( ) statistical parameters are used as comparing criteria for the evaluation of these model’s performance. The comparison result indicates that these neural networks could be employed successfully in the discharge prediction of the spillway with a breast wall. The results also show that the performance of the ANFIS and FFBP model are found superior to those of the MLR, NLR and FFCC models with the lowest error and the highest correlation coefficient.

ỨNG DỤNG MẠNG NƠ-RON NHÂN TẠO TRONG TÍNH TOÁN KHẢ NĂNG THÁO
CỦA ĐẬP TRÀN CÓ SỬ DỤNG TƯỜNG NGỰC

Việc xác định chính xác khả năng tháo của công trình tháo lũ có vai trò quan trọng trong khai thác, vận hành các dự án thủy lợi, thủy điện. Sự chính xác này ảnh hưởng đến độ an toàn trong vận hành của toàn bộ hệ thống công trình. Bài báo này trình bày ứng dụng mô hình Artificial Neural Networks (ANNs) and Adaptive Network Fuzzy Inference System (ANFIS) trong dự báo khả năng tháo của đập tràn có sử dụng tường ngực. Kết quả của những mô hình này được so sánh với mô hình hồi quy tuyến tính (MLR) và không tuyến tính (NLR) dựa trên kết quả thí nghiệm mô hình thủy lực. Những đại lượng thống kê như sai số quân phương (RMSE), sai số trung bình (AE), độ lệch sai số trung bình () và hệ số tương quan (R) được sử dụng để so sánh kết quả dự báo của những mô hình này. Kết quả tính toán chỉ ra rằng mô hình ANFIS và FFBP dự báo chính xác hơn so với các mô hình FFCC, MLR và NLR với sai số là thấp nhất và hệ số tương quan là cao nhất.
Từ khóa: Neural network, ANFIS, lưu lượng, đập tràn có tường ngực, phân tích hồi quy.
12