Số 48 (3/2015)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2015
 
   
MỤC LỤC
Số 48 (3/2015) > |  PDF (314.00 KB)
Nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ giám sát và điều khiển trong quản lý vận hành hệ thống tưới
Số 48 (3/2015) > trang 3-9 |  PDF (502.00 KB)
Ngô Đăng Hải
Tóm tắt
Hiện nay, các mô hình công nghệ GS&ĐK đã và đang được ứng dụng trên các HTT ở nước ta chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu GS&ĐK các HTT theo số liệu quan trắc tức thời hoặc theo định kỳ và đòi hỏi vốn đầu tư lớn, khó có thể triển khai ứng dụng rộng rãi. Vấn đề về công nghệ truyền thông không những có vai trò quan trọng trong việc ra quyết định kịp thời, chính xác cho QLVH mà còn có liên quan nhiều đến việc lựa chọn các thiết bị GS&ĐK khác, chi phí đầu tư và duy trì hệ thống SCADA,... Bài báo này trình bày những kết quả chính trong việc nghiên cứu ứng dụng, phát triển một số công nghệ tiên tiến, hiện đại GS&ĐK các HTT. Mục tiêu nghiên cứu là đề xuất, phát triển một mô hình công nghệ giám sát và điều khiển tiên tiến, hiện đại phù hợp nhất với điều kiện thực tế ở Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vận hành các HTT theo số liệu quan trắc thực tế và giảm các chi phí đầu tư, duy trì, bảo dưỡng hệ thống GS&ĐK xuống mức thấp nhất có thể. Nội dung và kết quả nghiên cứu bao gồm:
- Tổng quan về các công nghệ GS&ĐK được ứng dụng ở Việt Nam và định hướng nghiên cứu.
- Hiện đại hóa QLVH và GS&ĐK các HTT thông qua mạng Internet.
- Lập trình xây dựng phần mềm hiện đại hóa quản lý vận hành hệ thống tưới.
- Công cụ hỗ trợ từng bước hiện đại hóa giám sát, điều khiển hệ thống tưới.
- Phát triển, ứng dụng công nghệ truyền thông hiện đại và lựa chọn thiết bị GS&ĐK hợp lý.
- Xây dựng bộ công cụ tự động hỗ trợ miễn phí công tác hiện đại hóa QLVH các HTT.
Diễn biến lòng dẫn sông Hồng từ Sơn Tây đến cửa Ba Lạt và ảnh hưởng của nó đến dòng chảy mùa kiệt
Số 48 (3/2015) > trang 10-16 |  PDF (653.00 KB)
Lê Văn Hùng, Phạm Tất Thắng
Tóm tắt
Bài viết cung cấp tới độc giả diễn biến lòng dẫn sông Hồng về mùa kiệt những năm gần đây, đồng thời phân tích bản chất hiện tượng hạ thấp mực nước sông và đặt vấn đề cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm tìm ra nguyên nhân và giải pháp kỹ thuật và quản lý phù hợp.
Mô hình quản lý vận hành hệ thống tưới theo số liệu quan trắc
Số 48 (3/2015) > trang 17-22 |  PDF (426.00 KB)
Ngô Đăng Hải
Tóm tắt
Hiện nay, công tác quản lý vận hành (QLVH) hàng ngày các hệ thống tưới (HTT) ở Việt Nam hầu như hoàn toàn thực hiện theo kế hoạch lập sẵn từ đầu vụ tưới hoặc theo kinh nghiệm định kỳ các đợt tưới. Trong thực tế, các yếu tố khí tượng thay đổi thường xuyên do đó nhu cầu nước của cây trồng sẽ khác so với kết quả tính toán khi lập kế hoạch đầu mỗi vụ. Mặt khác, do nguồn nước thay đổi hàng ngày nên điều kiện, khả năng lấy - cấp nước của các công trình đầu mối và các công trình trên HTT cũng khác nhiều so với số liệu khi lập kế hoạch. Một điều thực tế nữa là trong quá trình QLVH thường không có đầy đủ các thông tin quan trắc phản hồi về lớp nước mặt ruộng và độ ẩm trong tầng đất nuôi cây nên việc vận hành các HTT không hợp lý gây ra tình trạng bơm nước, lấy nước không hiệu quả, chi phí QLVH lớn và năng suất cây trồng không cao... Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý vận hành HTT theo số liệu quan trắc thực tế.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài “Mô hình quản lý vận hành hệ thống tưới theo số liệu quan trắc“ là đề xuất và xây dựng một mô hình mới về cập nhật số liệu quan trắc thực tế, tính toán và tổ chức thực hiện quản lý vận hành theo hướng hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các HTT. Nội dung và kết quả nghiên cứu bao gồm:
- Cơ sở khoa học và thực tiễn về quản lý vận hành các HTT theo số liệu quan trắc thực tế.
- Xây dựng và ứng dụng mô hình quản lý vận hành HTT theo số liệu quan trắc thực tế…
Xác định và đề xuất chỉ thị đánh giá tác động tích lũy của hệ thống liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba
Số 48 (3/2015) > trang 23-29 |  PDF (435.00 KB)
Nguyễn Văn Sỹ, Lê Đình Thành
Tóm tắt
Lưu vực sông (LVS) Ba là lớn nhất nam Trung bộ. Sông Ba có nguồn nước, tiềm năng thủy điện phong phú, đóng vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội của khu vực. Hiện nay trên LVS đã xây dựng nhiều hồ chứa thủy lợi, thủy điện lớn như Ayun Hạ, Sông Hinh, Sông Ba Hạ, Krông H’Năng, An Khê - Ka Nak,... Hệ thống hồ chứa này đã và đang tạo ra những tác động tích lũy mang tích bất lợi và gây mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Đánh giá các tác động tích lũy này là rất khó khăn và phức tạp do tính chất, đặc điểm hoạt động của các công trình hồ chứa. Trong bài báo này bước đầu tác giả nghiên cứu, phân tích và đánh giá để xác định ra các tác động tích lũy chủ yếu do hệ thống liên hồ chứa (LHC) trên lưu vực gây ra, từ đó đề xuất các tiêu chí để đánh giá chi tiết các tác động tích lũy này
Nghiên cứu phân bổ nguồn nước trên lưu vực sông Ba
Số 48 (3/2015) > trang 30-38 |  PDF (475.00 KB)
Hoàng Thanh Tùng, Nguyễn Thị Minh Tâm, Nguyễn Thị Thu Nga
Tóm tắt
Nước là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, cần thiết cho mọi hoạt động sống. Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, nhu cầu dùng nước cũng ngày càng tăng trong khi nguồn nước đến có hạn, đòi hỏi phải sử dụng nguồn nước hợp lý. Phần mềm WEAP (Water Evaluation and Planning System - Hệ thống Đánh giá và Quy hoạch nguồn nước) ngoài khả năng tính toán cân bằng nước cho lưu vực, còn cho phép đánh giá hiệu quả kinh tế từ việc sử dụng nước. Bài báo này tóm tắt các kết quả sử dụng phần mềm WEAP nghiên cứu phân bổ nguồn nước trên lưu vực sông Ba. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy đây là một mô hình mô phỏng khá tốt và là một công cụ đơn giản và hữu hiệu nhằm đưa ra phương án phân bổ nguồn nước hợp lý hơn cho lưu vực sông Ba, góp phần tăng hiệu quả kinh tế từ các hoạt động dùng nước.
Soil erosion on the mix of sand-kaolin: The influence of soil parameters and hydraulic parameters
Số 48 (3/2015) > trang 39-44 |  PDF (425.00 KB)
Van-Nghia Nguyen, Jean-Marie Fleureau
Tóm tắt
This work presents the influence of soil parameters on erosion parameters of sand-kaolin an the influence of hydraulic parameters on the result of erosion. The tests were carried out on the mix of sand-kaolin by using the Jet Erosion Test. It found that the erosion resistance increases with an increase of dry density, and the influence of compaction water content on erosion is negligible. For influence of hydraulic parameters, it found that the erosion parameters (erosion coefficient kD and critical shear stress τc) deduced from theoretical head hydraulic and real head hydraulic are not similar, and the head hydraulic influence only the erosion coefficient but not critical shear stress.

XÓI MÒN CỦA ĐẤT HỖN HỢP CÁT-ĐẤT SÉT KAOLIN:
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THÔNG SỐ CỦA ĐẤT VÀ THÔNG SỐ THỦY LỰC

Bài báo giới thiệu ảnh hưởng của các thông số của đất và thong số thủy lực đến các thông số xói mòn của đất hỗn hợp cát-đất sét Kaolin. Thiết bị Jet Erosion Test được sử dụng để tiến hành các thí nghiệm trên đất cat-sét. Kết quả chỉ ra rằng, độ bền chống xói của đất tăng khi dung trọng khô tăng nhưng gần như không thay đổi khi độ ẩm đầm nén thay đổi. Đối với các thông số thủy lực, kết quả cho thấy các thông số xói sẽ thay đổi nếu sử dụng cột nước ly thuyết và cột nước thực để dự đoán các thông số này. Cột nước tác dụng không ảnh hưởng đến độ bền kháng xói của đất mà chỉ ảnh hưởng đến tốc độ xói của đất.
Từ khóa: Thông số xói, hệ số xói, ứng suất giới hạn chống xói, thông số thủy lực, thông số của đất.
Đánh giá dòng chảy tối thiểu ở Việt Nam
Số 48 (3/2015) > trang 45-49 |  PDF (305.00 KB)
Ngô Đình Tuấn
Tóm tắt
Ở Việt Nam dòng chảy tối thiểu đã được quy định trong các Nghị định và Luật Tài nguyên nước. Đây là dòng chảy bắt buộc các dự án thủy lợi, thủy điện phải cung cấp đủ. Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm và phương pháp đánh giá dòng chảy tối thiểu vẫn đang được hiểu rất khác nhau. Nhằm góp phần vào sự thống nhất đánh giá dòng chảy tối thiểu ở Việt Nam, bài báo kiến nghị công thức tổng quát biểu thị dòng chảy tối thiểu theo định nghĩa của Luật Tài nguyên nước 2012, đề xuất các phương pháp đánh giá các thành phần, từ đó vận dụng tính toán cho 12 đoạn sông cụ thể ở Việt Nam.
Nghiên cứu thành phần và đề xuất cách thức sử dụng tro xỉ từ lò đốt rác sinh hoạt phát điện
Số 48 (3/2015) > trang 50-56 |  PDF (513.00 KB)
Ngô Trà Mai, Bùi Quốc Lập
Tóm tắt
Đã có nhiều nghiên cứu về tro xỉ từ các nhà máy nhiệt điện, song nghiên cứu tro xỉ từ lò đốt rác sinh hoạt phát điện là một vấn đề mới. Trong 3 Dự án về đốt rác phát điện đang triển khai ở phía Bắc, có Dự án Nhà máy xử lý rác Đan Phượng đã vận hành. Kết quả lấy mẫu, phân tích cho thấy hàm lượng các chất độc hại nằm dưới ngưỡng của QCVN 07:2009/BTNMT. Bài báo bước đầu đề xuất sử dụng tro xỉ trong: công nghiệp vật liệu; cải tạo đất và phục vụ việc hoàn nguyên cải tạo môi trường sau khai thác tại các mỏ đá vôi. Tuy nhiên cần có các nghiên cứu sâu hơn về thành phần, tính chất lý hóa học, tỷ lệ phối trộn để đảm bảo các quy định về môi trường của Việt Nam.
Các phương pháp quan trắc và xác định chuyển vị trụ tháp cầu dây văng của hệ thống quan trắc công trình cầu (SHMS)
Số 48 (3/2015) > trang 57-63 |  PDF (812.00 KB)
Lương Minh Chính
Tóm tắt
Hệ thống quan trắc công trình cầu dây văng là một hệ thống phức tạp, được tích hợp nhiều công nghệ tiên tiến nhằm quan trắc giám sát trạng thái công trình liên tục trong thời gian thực. Công nghệ GPS là một trong những công nghệ được áp dụng với mục đích giám sát các dao động và biến dạng của công trình. Nhưng với giá thành cao, giải pháp này có thể đươc thay thế bởi các cảm biến đo góc nghiêng với độ chính xác tương đương nhưng với giá thành rẻ hơn tới cả chục lần. Yếu tố kinh tế là một yếu tố quan trọng cần được lưu ý đối với việc thiết lập một hệ thống quan trắc công trình với những cầu dây văng đang triển khai ở nước ta. Qua bài viết này tác giả đưa ra những so sánh và đánh giá độ chính xác giữ hai công nghệ nhằm xác định biến dạng và dao động của trụ tháp cầu dây văng.
Nghiên cứu vận hành hệ thống hồ chứa lớn trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn phục vụ phòng chống lũ
Số 48 (3/2015) > trang 64-69 |  PDF (1433.00 KB)
Tô Thúy Nga
Tóm tắt
Các hồ chứa thượng nguồn đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến chế độ lũ và ngập lụt hạ du lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Nếu có chế độ vận hành hợp lý các hồ chứa này sẽ có tác động tích cực đối với vùng hạ du mà vẫn đảm bảo được mục tiêu phát điện và an toàn hồ chứa; ngược lại, nếu không có chế độ vận hành thích hợp sẽ có tác động tiêu cực và trong nhiều trường hợp gây thiệt hại lớn cho vùng hạ du. Trong nghiên cứu này, đề xuất phương án xả lũ hợp lý cho hệ thống Vu Gia – Thu Bồn để giảm lũ cho hạ du mà không ảnh hưởng lớn đến mục tiêu phát điện của các hồ chứa.
Nghiên cứu ứng xử chịu uốn của dầm bê tông cốt thép được tăng cường bằng bê tông cốt lưới dệt
Số 48 (3/2015) > trang 70-76 |  PDF (820.00 KB)
Nguyễn Huy Cường, Vũ Văn Hiệp, Lê Đăng Dũng
Tóm tắt
Công nghệ sử dụng bê tông cốt sợi dệt để tăng cường, sửa chữa các kết cấu bê tông bị xuống cấp đã và đang được nghiên cứu phát triển. Bài báo này trình bày nghiên cứu về ứng xử chịu uốn của dầm bê tông cốt thép được tăng cường bằng bê tông cốt lưới dệt bọc bên ngoài. Mô hình phần tử hữu hạn (PTHH) bằng phần mềm ABAQUS được sử dụng để mô phỏng sự làm việc chịu uốn của kết cấu, có xét đến đặc điểm làm việc phi tuyến của vật liệu cũng như hình học. Mô hình ứng xử dính bám giữa hai lớp vật liệu được sử dụng để mô tả chính xác sự làm việc cũng như cơ chế phá hoại của kết cấu dầm được tăng cường. Kết quả mô phỏng được so sánh với kết quả thí nghiệm với mục đích kiểm chứng sự chính xác của mô hình.
Dẫn dòng thi công công trình Cửa Đạt 2005-2009 và sự cố vỡ đập 04-10-2007
Số 48 (3/2015) > trang 77-84 |  PDF (880.00 KB)
Mai Lâm Tuấn, Lê Văn Hùng
Tóm tắt
Công trình đầu mối Cửa Đạt - Thanh Hóa được khởi công ngày 02 tháng 02 năm 2004, phương án dẫn dòng xây dựng 2005-2009, khánh thành công trình 27-11-2010. Quá trình xây dựng có nhiều thành công và bài học kinh nghiệm. Bài viết sẽ trình bày những điểm cơ bản trong tổng kết công tác dẫn dòng thi công.
Công nghệ “soil nailing” trong gia cố mái dốc công trình
Số 48 (3/2015) > trang 85-91 |  PDF (947.00 KB)
Đồng Kim Hạnh
Tóm tắt
Xây dựng các công trình để khắc phục những hậu quả do mái dốc gây ra như trượt đất, sạt lở đất đá đang được nghiên cứu và thi công tại nhiều quốc gia. Phương pháp sử dụng công nghệ “soil nailing” hay còn gọi là “đinh đất” thường được áp dụng để khắc phục hậu quả và ổn định độ dốc mái đất, thực hiện trên bề mặt mái của công trình giao thông như mái taluy đường, mái mố trụ cầu; công trình thủy lợi như mái đê, mái đập. Biện pháp đào mở sườn tầng thi công theo phương pháp “top down” đã rút ngắn được thời gian thi công và giảm khối lượng đất đào. “Đinh đất” được thi công đúng thiết kế và kỹ thuật là một biện pháp ổn định mái dốc có hiệu quả, tiết kiệm chi phí. Trong bài báo này, quy trình thi công “đinh đất” được trình bày trên cơ sở tổng kết các giải pháp thi công trên thế giới để phù hợp với điều kiện thi công của Việt Nam.
Nghiên cứu thiết lập bài toán tối ưu chi phí đầu tư xây dựng hệ thống tiêu đô thị: Nghiên cứu điển hình cho lưu vực phía tây Hà Nội
Số 48 (3/2015) > trang 92-98 |  PDF (532.00 KB)
Lưu Văn Quân, Trần Viết Ổn
Tóm tắt
Chi phí đầu tư xây dựng của các hạng mục công trình trong hệ thống tiêu có sự phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau. Nội dung bài báo trình bày phương pháp thiết lập hàm mục tiêu, điều kiện ràng buộc và các bước giải. Tác giả đã ứng dụng tìm các hàm hồi quy để xác định giá trị đầu tư xây dựng trong hệ thống tiêu như khu đầu mối, kênh cấp 1 và 2, kênh cấp 3 và hồ điều hòa nhằm xác định giá trị hàm mục tiêu ứng với khu vực nghiên cứu là hệ thống tiêu đô thị phía Tây Hà Nội.
12