Số 47 (12/2014)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 12/2014
 
   
MỤC LỤC
Số 47 (12/2014) > |  PDF (340.00 KB)
Mối quan hệ giữa diện tích hồ điều hòa với tổng lưu lượng dòng chảy sau hồ ở hệ thống tiêu đô thị. Áp dụng cho lưu vực điển hình - lưu vực sông Đăm thuộc hệ thống thoát nước Hà Nội
Số 47 (12/2014) > trang 3-8 |  PDF (358.00 KB)
Lưu Văn Quân, Trần Viết Ổn
Tóm tắt
Các nghiên cứu gần đây chỉ xem xét hồ điều hòa về lĩnh vực môi trường, về ảnh hưởng của hồ tới quy mô công trình đầu mối... Bài báo này trình bày nghiên cứu mối quan hệ đồng thời giữa diện tích hồ và vị trí hồ tới lưu lượng của hệ thống tiêu đô thị. Tác giả sử dụng mô hình SWMM 5.0 mô phỏng thủy lực cho lưu vực sông Đăm thuộc hệ thống sông Nhuệ, Hà Nội. Kết quả chỉ ra quan hệ nghịch biến giữa diện tích hồ và lưu lượng sau hồ, giữa mức độ phân tán và tổng lưu lượng lớn nhất toàn hệ thống.
Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng đến định mức tiêu hao điện năng của các trạm bơm tưới
Số 47 (12/2014) > trang 9-14 |  PDF (328.00 KB)
Lê Văn Chín
Tóm tắt
Tỉnh Hưng Yên nói riêng và Đồng bằng sông Hồng nói chung việc tưới cho nông nghiệp chủ yếu bằng động lực (khoảng 80%). Để nâng cao hiệu quả tưới của các trạm bơm tưới cần thiết phải xây dựng đinh mức tiêu hao điện năng bơm tưới. Định mức tiêu hao điện năng bơm phụ thuộc 3 yếu tố chính là loại cây trồng, máy bơm và các yếu tố khí tượng (lượng mưa, nhiệt độ, gió, độ ẩm, số giờ nắng).
Trong bài báo này, tác giả nghiên cứu phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng đến tiêu hao điện năng của các trạm bơm tưới. Kết quả tính toán cho thấy yếu tố ảnh hưởng mạnh tới định mức tiêu hao điện năng bơm tưới là lượng mưa tiếp sau đó là nhiệt độ. Các yếu tố như gió, độ ẩm, số giờ nắng ảnh hưởng không nhiều.
Nghiên cứu lựa chọn cao trình thiết kế đáy kênh tháo của trạm bơm tiêu
Số 47 (12/2014) > trang 15-18 |  PDF (258.00 KB)
La Đức Dũng, Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Bài báo này đề xuất cách xác định cao trình thiết kế đáy kênh tháo của các trạm bơm tiêu dựa trên nguyên tắc tiết kiệm năng lượng bơm. Qua xem xét so sánh tổng điện năng tiêu thụ của trạm bơm tương ứng với các trường hợp cao trình đáy kênh tháo được xác định ứng với mực nước bể tháo thiết kế tần suất 10%, 30%, 40%, 50% và 60% của hai trạm bơm tiêu thuộc hệ thống Bắc Nam Hà, bài báo kiến nghị để lựa chọn cao trình thiết kế đáy kênh tháo hợp lý nên xem xét một số tần suất thiết kế của mực nước bể tháo thay vì 10% như hiện nay.
Đánh giá biến động tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai và vùng phụ cận
Số 47 (12/2014) > trang 19-26 |  PDF (558.00 KB)
Đỗ Đức Dũng, Nguyễn Ngọc Anh, Đoàn Thu Hà
Tóm tắt
Để phát triển kinh tế - xã hội, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai do nước, vấn đề khai thác, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên nước trên lưu vực sông Đồng Nai và vùng Phụ cận (LVĐN&PC) đã và đang được xem là tiền đề cơ bản cho mọi hoạt động ở vùng Đông Nam bộ. Nghiên cứu tác động tổng hợp từ phát triển và biến đổi khí hậu trong nhiều năm qua trên LVĐN&PC cho thấy, dòng chảy mặt trung bình năm có xu thế tăng, chủ yếu do tăng dòng chảy mùa lũ, trong khi dòng chảy mùa kiệt không tăng hoặc có xu thế giảm. Với kịch bản trung bình của Bộ Tài nguyên và Môi trường, dòng chảy mặt trung bình năm cũng có xu thế tăng tương ứng với lượng mưa năm. Với mô hình khí hậu khô hạn và ẩm ướt, xu thế chung của dòng chảy mặt cũng thấp hơn/cao hơn tương ứng so với trung bình đến 2030 và 2050 là -2,0 và -1,8%, +3,1 và +5,1%. Trong LVĐN&PC, với mô hình khô hạn, lưu vực sông Bé có sự biến động mạnh mẽ nhất, giảm đến 11,7% năm 2030 và 8,4% năm 2050. Với mô hình ẩm ướt, lưu vực thượng sông Đồng Nai cũng có sự biến động rất lớn, tăng 10,4% năm 2030 và 13,2% năm 2050.
Nghiên cứu đề xuất phương pháp xác định dung tích điều tiết trước trạm bơm cấp 1 của hệ thống cấp nước trong trường hợp lấy nước nguồn từ kênh thủy lợi
Số 47 (12/2014) > trang 27-32 |  PDF (339.00 KB)
Lê Văn Chín
Tóm tắt
Nước sạch là một là một trong những nhu cầu cơ bản nhất trong đời sống hàng ngày của mọi người và đang trở thành đòi hỏi bức bách trong việc bảo vệ sức khoẻ và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, việc cấp nước sạch ở nước ta cơ bản vẫn còn đang ở mức thấp, hầu hết các hệ thống cấp nước kể cả ở đô thị và nông thôn chưa đảm bảo được tiêu chuẩn cấp nước cả về số lượng và chất lượng; tỷ lệ trung bình trên cả nước của người dân nông thôn được sử dụng nước sạch qua xử lý mới chỉ đạt 30-35%; đặc biệt một bộ phận lớn dân cư ở nông thôn chủ yếu vẫn sử dụng nước trực tiếp từ các nguồn tự nhiên mà không có sự kiểm soát. Hiện nay, đảm bảo nước sinh hoạt cho nông thôn và những vùng khan hiếm nước là một nhu cầu cấp bách, đặc biệt là những vùng có nguồn nước không đảm bảo cả về trữ lượng và chất lượng (như nguồn nước bị nhiễm mặn và ô nhiễm). Trong bài báo này tác giả giới thiệu phương pháp xác định dung tích bể điều tiết trước trạm bơm cấp 1 của hệ thống cấp nước lấy nước nguồn từ kênh thủy lợi để khắc phục những khó khăn của những vùng có nguồn nước không đảm bảo về trữ lượng và chất lượng. Do đặc thù hoạt động của hệ thống cấp nước là liên tục suốt ngày đêm, còn hệ thống tưới làm việc theo đợt tưới. Khoảng cách giữa các đợt tưới kênh thủy lợi sẽ không làm việc. Kết quả nghiên cứu nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà quy hoạch, thiết kế và xây dựng hệ thống cấp nước.
Hiện trạng và nguyên nhân biến động hình thái khu vực cửa sông Ninh Cơ qua tài liệu đo đạc
Số 47 (12/2014) > trang 33-39 |  PDF (1791.00 KB)
Vũ Thanh Thủy, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Đình Cương
Tóm tắt
Sông Ninh Cơ là một phân lưu của dòng chính sông Hồng đổ trực tiếp ra Vịnh Bắc Bộ qua cửa Lạch Giang. Sông chảy hoàn toàn trên địa phận tỉnh Nam Định, là ranh giới tự nhiên giữa các huyện Xuân Trường, Trực Ninh, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Sông Ninh Cơ có vai trò quan trọng về thoát lũ, tưới tiêu và là tuyến giao thông thủy quan trọng bậc nhất nối hệ thống sông Hồng với biển. Những năm gần đây, khu vực cửa sông Ninh Cơ có sự biến động mạnh về hình thái, gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thoát lũ và giao thông thủy. Bài báo trình bày kết quả phân tích hiện trạng và nguyên nhân biến động hình thái khu vực cửa sông qua tài liệu đo đạc.
Đánh giá tác động của các bậc thang thủy điện trên dòng chính đến thay đổi thủy văn dòng chảy và thời gian lan truyền ảnh hưởng về châu thổ sông Mê Công
Số 47 (12/2014) > trang 40-49 |  PDF (2582.00 KB)
Tô Quang Toản, Bùi Minh Tuấn, Tăng Đức Thắng
Tóm tắt
Lưu vực sông Mê Công có diện tích lưu vực khoảng 795.000 km2, chảy qua địa phận ở 6 quốc gia: Trung Quốc, Myanma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam với chiều dài dòng chính là 4.800 km, tổng lượng dòng chảy bình quân hàng năm vào khoảng 475 tỷ m3, sông Mê Công được sắp thứ 21 trên thế giới về diện tích lưu vực, thứ 12 về chiều dài và thứ 8 về tổng lượng dòng chảy. Là lưu vực có da dạng sinh học cao, với khoảng 1.300 loài thủy sản, sản lượng cá hàng năm đứng thứ 2 trên thế giới, là nguồn cung cấp lương thực cho khoảng 300 triệu người. Sông có tiềm năng thủy điện cao, vào khoảng 53.000MW, trong đó 23.000 MW ở thượng lưu thuộc Trung Quốc, 13.000 MW ở dòng chính phía hạ lưu và hơn 17.000 MW là thủy điện dòng nhánh ở các nước hạ lưu vực. Kế hoạch xây dựng 12 đập thủy điện dòng chính có thể gây tác động bất lợi đến chế độ thủy văn, chất lượng nước, đa dạng sinh học và ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của hàng chục triệu người dân phía hạ lưu. Bài báo này trình bày các đánh giá tác động có thể của các đập thủy điện dòng chính nếu được xây dựng đến thay đổi chế độ dòng chảy và thời gian lan truyền ảnh hưởng các tác động phía thượng lưu về châu thổ sông Mê Công nhằm thấy được mặt lợi cũng như bất lợi đối với vùng đồng bằng châu thổ để chủ động các giải pháp ứng phó.
Nghiên cứu xây dựng chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Số 47 (12/2014) > trang 50-57 |  PDF (617.00 KB)
Phùng Văn Ngọc, Đoàn Thị Vân, Đặng Thế Ba, Đào Ngọc Hiếu
Tóm tắt
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững đang là nhu cầu thực tế. Tuy nhiên đây là công việc phức tạp, đa lĩnh vực, liên quan đến nhiều đối tượng vì vậy rất cần có một công cụ hỗ trợ. Bài báo này trình bày tóm tắt cách tiếp cận xây dựng chương trình hỗ trợ ra quyết định quản lý tổng hợp tài nguyên nước (HTRQĐ) quy mô lưu vực hiện đang được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới. Trên cơ sở đó, một chương trình HTRQĐ được đóng gói dưới dạng phần mềm máy tính với giao diện tiếng Việt đã được xây dựng. Để minh họa cho phương pháp và chương trình, một bài toán thử nghiệm cho quản lý xây dựng đập Đakmi 4 đã được thực hiện. Các phương án và tiêu chí đánh giá dựa trên quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của TP. Đà Nẵng và Quy hoạch Thủy điện lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Đakmi 4 là một công trình thủy điện lớn trên hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn, có tầm ảnh hưởng đến đời sống và môi trường ở lưu vực sông. Vì vậy rất cần thiết có một nghiên cứu sâu hơn cho công trình thủy điện này nhằm phục vụ quản lý tài nguyên nước trên lưu vực sông.
Công nghệ thi công neo gia cố các tấm lát mái kiểu hai chiều bảo vệ đê biển
Số 47 (12/2014) > trang 58-62 |  PDF (1080.00 KB)
Hoàng Việt Hùng
Tóm tắt
Giải pháp sử dụng neo xoắn, xoáy sâu vào thân đê và liên kết với tấm lát mái kiểu hai chiều bảo vệ mái đê biển của tác giả bài báo và các cộng sự đã được Bộ Khoa học Công nghệ cấp bằng độc quyền sáng chế:”Neo gia cố các tấm lát mái bảo vệ đê biển” số 10096 theo quyết định số QĐ/SHTT 9903 ngày 29/02/2012. Để ứng dụng được công nghệ này vào thực tế, việc thí nghiệm lắp đặt thử nghiệm neo tại hiện trường đã được thực hiện. Bài báo trình bày các kết quả công nghệ đúc rút từ nghiên cứu, tập trung chủ yếu vào trình tự thi công và kỹ thuật xử lý hiện trường để hoàn thiện công nghệ, ứng dụng vào thực tiễn nhằm đảm bảo tính ổn định lâu dài cho công trình
Vai trò quản lý chất lượng của các chủ thể tham gia thi công công trình thủy điện
Số 47 (12/2014) > trang 63-68 |  PDF (834.00 KB)
Đồng Kim Hạnh, Đào Duy Dương
Tóm tắt
Số liệu chính thức của Bộ Công Thương cho thấy, hiện cả nước có 284 công trình thủy điện với tổng công suất lắp máy là 14.698,1 MW đang vận hành phát điện; ngoài ra còn 204 dự án đang thi công (công suất 6.146,56 MW) dự kiến đến năm 2017 sẽ vận hành phát điện và 250 dự án (công suất 3.049,0 MW) đang nghiên cứu đầu tư. Hàng loạt các công trình bị vỡ, nứt, hư hỏng trong thời gian qua đa phần là do CĐT, Nhà thầu thi công, Nhà tư vấn,... không có kinh nghiệm hoặc kinh nghiệm còn yếu kém trong việc quản lý, thi công công trình thủy điện. Bài viết tổng hợp lại những vấn đề thường gặp phải trên các công trường xây dựng thủy điện và đưa ra các giải pháp kiểm soát chất lượng nhằm nâng cao vai trò quản lý chất lượng của các chủ thể tham gia thi công công trình thủy điện.
Nghiên cứu đề xuất phương pháp thí nghiệm tính thấm nước phù hợp cho bê tông có độ bền cao
Số 47 (12/2014) > trang 69-74 |  PDF (392.00 KB)
Nguyễn Thị Thu Hương
Tóm tắt
Để đánh giá độ bền cho bê tông các kết cấu làm việc hay có tiếp xúc với môi trường nước, một trong các chỉ tiêu quan trọng phải được xem xét là tính thấm nước của bê tông. Hiện các tiêu chuẩn đang được sử dụng để xác định chỉ tiêu này đều có hạn chế về độ chính xác đối với bê tông có độ bền lâu dài, là loại có độ đặc chắc cao và tính thấm nước ít. Bài báo đề cập đến các phương pháp xác định chỉ tiêu tính thấm nước của bê tông, qua đó phân tích so sánh và đề xuất phương pháp tối ưu nhất đối với loại bê tông có độ bền cao ứng dụng cho các kết cấu đê và công trình bảo vệ bờ biển.
Nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi sử dụng vốn ODA
Số 47 (12/2014) > trang 75-80 |  PDF (285.00 KB)
Nguyễn Hữu Huế, Đặng Công Toàn
Tóm tắt
Vốn ODA có vai trò quan trọng, góp phần nâng cấp các hệ thống công trình thủy lợi, phục vụ phát triển nông nghiệp và các ngành kinh tế - xã hội khác, từng bước nâng cao mức đảm bảo an toàn trước thiên tai. Việc quản lý dự án sử dụng vốn ODA đã có những tiến bộ nhất định và đạt hiệu quả rõ rệt, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập cần được quan tâm đúng mức
Một số kết quả nghiên cứu nâng cao khả năng chống thấm cho bê tông tự lèn dùng trong các công trình thủy lợi
Số 47 (12/2014) > trang 81-88 |  PDF (289.00 KB)
Nguyễn Quang Phú
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu việc lựa chọn một số giải pháp để nâng cao khả năng chống thấm cho bê tông tự lèn thi công các công trình Thủy lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long
Low strength effluent treatment with cyclic technologies in Vietnam
Số 47 (12/2014) > trang 89-96 |  PDF (965.00 KB)
Nguyen Phuong Quy, Le Thanh, Vu Duc Toan
Tóm tắt
Wastewater with low pollution concentrations are common in cities of the developing countries also in Vietnam because sewer network for wastewater is not yet construction that rely on combined sewer network. The results of the decomposition of organic matter partly in combined sewer network significantly reduced levels of BOD, while reducing nitrogen only a small part. The imbalance of BOD, nitrogen ratio is a challenge for treatment of wastewater - especially to ensure the nitrogen meets requirements. Results of the analysis of influent and effluent concentrations in Yen So (Hanoi), Vinh (Nghe An) wastewater treatment plants where applied cyclic activated sludge technologies base on sequencing batch reactors, with good control of operation to show that the effluent quality is stability and meet Vietnamese standard.

HIỆU QUẢ XỬ LÝ CỦA CÔNG NGHỆ BÙN HOẠT TÍNH DẠNG MẺ TUẦN HOÀN TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI NỒNG ĐỘ Ô NHIỄM THẤP Ở VIỆT NAM
Nước thải có nồng độ ô nhiễm thấp là phổ biến ở các thành phố của các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng do mạng lưới thu gom nước thải riêng vẫn chưa được xây dựng hoàn chỉnh mà phải dựa vào hệ thống cống thu gom chung. Kết quả của quá trình phân hủy một phần chất hữu cơ trong hệ thống thoát nước chung của các thành phố này làm giảm đáng kể nồng độ BOD, trong khi nitơ chỉ được giảm một phần nhỏ. Sự mất cân đối tỷ lệ các thông số BOD, nitơ là một thách thức trong việc xử lý – đặc biệt là đảm bảo các chỉ tiêu nitơ đạt yêu cầu. Kết quả phân tích nồng độ đầu vào và sau xử lý tại Nhà máy xử lý nước thải Yên Sở (Hà Nội), Vinh (Nghệ An) áp dụng công nghệ bùn hoạt tính dạng mẻ tuần hoàn, bằng việc điều khiển vận hành hợp lý đã cho kết quả xử lý là tương đối ổn định và đạt tiêu chuẩn Việt Nam theo quy định.
Từ khóa: Loại bỏ Nitơ, Nitrate hóa / Đề nitrate hóa, Công nghệ bùn hoạt tính dạng mẻ tuần hoàn, SBR cải tiến / SBR.