Số Đặc biệt (11/2009)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 11/2009 - Kỷ niệm 50 năm thành lập Trường Đại học Thủy lợi
 
   
Morphological response to port construction on sendai coast
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 3-12 |  PDF (2159.00 KB)
Hitoshi TANAKA, Sompratana RITPHRING, Eko PRADJOKO
Tóm tắt
This study carried out the analysis of historical topographic data composed of two study areas interacted with coastal structures, Sendai Port and Yuriage Port, located in the Miyagi Prefecture, northeast of Japan. In case of Sendai Port, there is the breakwater constructed in 1968, extending for approximately 2 km. The dominant waves caused northward longshore sediment transport; as the matter of fact, this area should be advanced owing to the sand trapping at breakwater. On the other hand, the severe erosion has progressed due largely to the oblique wave confront with breakwater result in wave reflection then interact in beach change. The second case study, Yuriage Port was constructed in the 1990s which included 2 jetties and breakwater. It was found that the predominant sediment transport move northwards that resulted in the advancement of shoreline in the southern area of port due to sand deposition in front of breakwater. This study aims to make a comparative study of topographic variability between Sendai Port and Yuriage Port where the predominant wave caused longshore sediment transport move to the same direction. The difference in topographic evolution observed in both cases caused by the layout of coastal structures interacted with wave action which should have more clear understanding before the construction of any sea defences. This study also attempted to analyse the shoreline behaviour around Nanakita River mouth by utilising the aerial photograph. The GIS tool also is used in processing aerial photograph which have taken regularly in that area. The results shows the left shoreline of river mouth tend to advance with rate around 1 m/year. On the contrary, the right shoreline tend to retreat with rate around -1.5 m/year during 1990 ~ 2007.
Numerical simulation of morphology in the tidal environments
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 13-28 |  PDF (2395.00 KB)
Yasuyuki Shimizu
Tóm tắt
The effects of global climate changes occur in the rising sea level, higher lake level, stronger more frequent storms and extreme temperature. And these changes will have real impacts on the natural environment as well as human-made infrastructures. For example, Acqua alta, or "high water", flooded Venice in Italy with more a meter of salty lagoon water in December, 2008. The acqua alta which was the most extreme in 22 years reached 156 cm and flooded most of the city (Figure 1). The activities and economics of the city were damaged due to the flood. Venice is planning to construct floodgates at the Lagoon's entrances to decrease the flood damages. But it remains to be seen whether acqua alta can be tamed without closing off the Lagoon from the sea and turning it into a freshwater lake. Recently, the wetland areas in the Lagoon is decreased to 30% of the area in 1810 by the human activities (Figure 2), which affected the decrease of the sediment inflow to the Lagoon, the increase of sediment discharge from it, the rising sea level and the settlement of the ground.
Modeling of fine suspended sediments
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 29-34 |  PDF (715.00 KB)
Hoang Ha Nguyen, Lloyd H.C.Chua
Tóm tắt
One of important processes transport is seltling velocity is affected by many factors. This paper presents models for estimating density of flocs, viscosity of mixtures, effect of turbulence on the drag coefficient of partickes, and flocculation of cohesive sediment. The concept of self-similarity of flocs and population - balanca equation (Smoluchowski's theory) are not used. Instead, the proposed models use physically-based arguments and dimensional analysis. The model were calibrate and verified againts measured data and existing models available in the literature. The proposed mdels are applicable to both non-cohesive and cohesive sediments. Some preliminary result from a field are also presented.
Low sea dikes in Vietnam
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 35-46 |  PDF (894.00 KB)
Gerrit Jan Schiereck, Mai Van Cong, Han Vrijling
Tóm tắt
Sea dikes in Vietnam have appeared to be vulnerable to attacks from the sea during typhoons. At many places, dikes were breached due to damage of the inner slope caused by wave overtopping. Making much higher dikes could prevent this but that will create new problems with the existing infrastructure and spatial planning in the area. Therefore, an attempt is being made to make new dikes not (much) higher than the existing ones (MSL + 5-6 m). In all cases, of course, the dike should be higher than the design water level which has typical values in the order of magnitude of MSL +3-4 m. The main remaining issue then is the wave overtopping.

There are several approaches to this issue with different possibilities and at different costs. Either the incoming waves are being reduced by means of seaward protection (e.g. breakwater, mangroves), the wave overtopping is reduced by means of the geometry of the dike (e.g. seaward slope, outer berm, height and shape of crest) or the inner slope is made strong enough to withstand the wave overtopping. Of course combinations of these options are possible. One of the challenges in the coming years for the Vietnamese "dike community" will be to come to affordable and realistic solutions.
A hydrometeorological flood forecasting system for the Red river
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 47-54 |  PDF (1322.00 KB)
RANZI Roberto, BACCHI Baldassare, BARONTINI Stefano, GROSSI Giovanna, BUZZI Andrea, DROFA Oxana, DO Le Thuy, NGO Le An, VU Minh Cat, HOANG Thanh Tung
Tóm tắt
This paper describes a hydrological flood forecasting system for the Red River basin, across China and Vietnam, measuring 144,000 km² in size at the Son Tay streamgauge. The research objectives were to setup a hydrometeorological chain to forecast discharge flowing into reservoirs and at some streamgauges for flood control in downstream areas, including the heavily populated Northern Delta. The distributed hydrological model DIMOSHong forced by Quantitative Precipitation Forecasts provided by the BOLAM meteorological model and GIS information, including the orography, soil type, land use, river network of the basin was adopted. The forecasting chain structure and setup is described. Verification of the QPF versus observed rainfall at different scales showed a very good timing of the precipitation and flood forecast but some overestimation of the precipitation forecast. Resulting flood forecast up to 5 days in advance were reasonably good in view of reservoir operation.
The Netherlands: Challenges for the 21st century
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 55-63 |  PDF (386.00 KB)
Marcel JF Stive, Gerrit-Jan Schiereck
Tóm tắt
Recently, a State Committee (Second Delta Committee, 2008), installed by the Netherlands’ government, delivered a number of recommendations on making the Netherlands flood proof for the next 100 years and beyond with an integrated vision on new perspectives. In response to impacts of climate change new innovative concepts have been created in order to keep the country – largely a delta – an attractive and viable place to live, work, recreate and invest. Safety and sustainability are the two pillars of the strategy for the future. Besides the issue of flooding also draughts, fresh water availability and drainage were addressed. This chapter presents some of the findings and discusses these. Before doing so, we highlight the main triggers for concern and the paradigm shift needed to implement far-reaching recommendations.
Phương pháp phần tử hữu hạn tự thích ứng và ứng dụng trong phân tích đập bê tông trọng lực
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 64-70 |  PDF (331.00 KB)
Vũ Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Hùng
Tóm tắt
Phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) là một phương pháp số có hiệu quả cao trong giải các bài toán cơ học công trình. Tuy nhiên đây là một phương pháp gần đúng nên vấn đề khống chế sai số nâng cao độ chính xác lời giải bài toán cũng như đánh giá độ hội tụ bài toán phân tích ứng suất biến dạng công trình là một vấn đề mang tính khoa học cao. Bài báo này tập trung đi sâu nghiên cứu vào kỹ thuật phi tuyến tính hình học trong việc áp dụng FEM vào phân tích ứng suất đập bê tông trọng lực trên nền đá để từ đó hoàn thiện hơn công nghệ tính toán đập bê tông trọng lực. Những kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tế nhằm giải quyết vấn đề ứng suất cục bộ tại những vùng đặc biệt của đập bê tông trọng lực đang là vấn đề còn tồn tại của công tác thiết kế đập bê tông trọng lực của Việt Nam.
Đánh giá rạn nứt ban đầu của bê tông tính năng cao sử dụng vòng thí nghiệm bị kiềm chế
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 71-78 |  PDF (314.00 KB)
Nguyễn Quang Phú, Jiang Linhua, Liu Jiaping, Đỗ Viết Thắng
Tóm tắt
Bê tông tính năng cao (HPC) có những tính năng vượt trội về cường độ và tính bền so với bê tông thường. Các hỗn hợp bê tông tính năng cao luôn luôn được sản xuất với các tỷ lệ nước/chất kết dính thấp trong khoảng 0.2 đến 0.4 và có sự kết hợp cao với các thành phần hoạt tính pozzolan như silica fume (SF), fly ash (FA) và slag. Do đó nó không thể tránh khỏi sự thay đổi thể tích trong bê tông bởi hiện tượng co khô, tự co, phản ứng hóa học và sự thay đổi nhiệt độ. Biến dạng co ngót là một tính chất thường xuyên xảy ra đối với bê tông hiện trường và rạn nứt do co ngót, đặc biệt là rạn nứt sớm trong bê tông tính năng cao trở thành hiện tượng nổi cộm cần được xem xét. Bài báo đã đánh giá co ngót ban đầu của bê tông tính năng cao cho hai tỷ lệ nước/chất kết dính (W/B = 0.22 và 0.40) bằng cách sử dụng thí nghiệm vòng bị kiềm chế
Sự cố trượt mái mỏ đá điii của công trình thuỷ điện Bản Vẽ, phân tích nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 79-85 |  PDF (665.00 KB)
Phạm Hữu Sy
Tóm tắt
Công trình thuỷ điện Bản Vẽ nằm trên sông Cả, thuộc địa phận xã Yên Na huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An. Mỏ đá ĐIII là mỏ đá chính trong dự án thủy điện Bản Vẽ. Trong quá trình khai thác đã xảy ra sự cố nghiêm trọng làm chết 18 người và chôn vùi các máy móc thiết bị. Với tư cách là chuyên gia của Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng tham gia trong tổ điều tra nguyên nhân sự cố, tác giả bài báo đã thu thập tài liệu, điều tra thực địa, phân tích tỷ mỷ các nguyên nhân dẫn đến sự cố để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm trong khảo sát, thiết kế khai thác các mỏ đá nói chung
Phân tích nguyên nhân vỡ đập KE 2/20 REC – Hà Tĩnh
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 86-91 |  PDF (629.00 KB)
Nguyễn Chiến, Hồ Sỹ Tâm
Tóm tắt
Đập KE 2/20 REC (Hà Tĩnh) bị sự cố trong thời kỳ không có mưa lũ, vào thời điểm ban đêm nên diễn biến quá trình vỡ đập không được ai chứng kiến. Việc phân tích nguyên nhân vỡ đập vì vậy đã gặp rất nhiều khó khăn. Trong bài báo trình bày quá trình khảo sát, thu thập tài liệu hiện trường cũng như hồ sơ lưu trữ về công trình để tìm manh mối, từ đó đặt ra các kịch bản về diễn biến vỡ đập. Bằng tính toán phân tích thấm, ổn định, ứng suất - biến dạng của đập, cống lấy nước và nền, kết hợp với tài liệu thu thập được đã cho phép đưa ra kết luận về nguyên nhân và diễn biến vỡ đập. Những kết luận này đã được các bên liên quan thừa nhận, và lấy làm căn cứ để thiết kế sửa chữa phục hồi đập.
Tiêu chuẩn an toàn đê biển- ước lượng tổn thất về người
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 92-97 |  PDF (828.00 KB)
Nguyễn Bá Qùy, Phạm Thu Hương
Tóm tắt
Xác định tiêu chuẩn an toàn đối với đê biển Việt nam, ngoài phương việc xem xét chọn tối ưu về kinh tế thì việc đánh giá, ước lượng tổn thất về con người khi có sự cố về đê cũng đặc biệt quan trọng và phải được kết hợp vào tiêu chuẩn kinh tế để người ra quyết định có thể lựa chọn nâng cao hay hạ thấp tiêu chuẩn an toàn
Xác định tỉ lệ hợp lý phụ gia khoáng hoạt tính tro bay và tro trấu trong bê tông
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 98-103 |  PDF (274.00 KB)
Nguyễn Tiến Trung
Tóm tắt
Phụ gia tro bay và tro trấu đều là các phụ gia khoáng hoạt tính có ảnh hưởng đối với các tính chất của bê tông. Tuy nhiên chúng cũng có ưu và nhược điểm, đặc biệt là một số ưu điểm của phụ gia này lại là nhược điểm của phụ gia kia và ngược lại. Nếu dùng cả tro bay và tro trấu theo một tỉ lệ thích hợp trong bê tông sẽ phát huy được ưu điểm và khắc phục được nhược điểm của từng loại phụ gia, và có tác dụng tốt đối với bê tông, trong đó có vấn đề chống thấm. Để xác định tỉ lệ hợp lý của hai loại phụ gia đã dùng phương pháp toán qui hoạch thực nghiệm nhằm mục đích giảm khối lượng thí nghiệm, mà vẫn đạt được bê tông có độ hút nước nhỏ nhất. Tỉ lệ cụ thể là tro bay 16%, tro trấu 6%. Hiệu quả của các phụ gia khoáng hoạt tính chủ yếu phụ thuộc vào thành phần SiO2ht, Al2O3ht, Fe2O3ht trong phụ gia, vì chúng có khả năng tương tác với vôi Ca(OH)2 là chất dễ hòa tan, đông cứng yếu trong bê tông để tạo ra các hợp chất hóa học mới không hòa tan cứng hóa tốt và có cường độ làm đặc chắc bê tông
Quan hệ giữa cường độ kháng nén của mẫu lập phương và mẫu trụ, giữa cường độ kháng nén và kháng kéo của bê tông thi công theo công nghệ đầm lăn đập thuỷ điện Sơn La
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 104-108 |  PDF (294.00 KB)
Phạm Thanh Hoài, Nguyễn Khắc Hoan
Tóm tắt
Thông qua báo cáo, tác giả phân tích các thí nghiệm cường độ kháng nén trên các mẫu bê tông lập phương 15x15x15cm, mẫu trụ đúc và mẫu nõn khoan DxH=15x30cm tại kết cấu công trính đối với bê tông thi công theo công nghệ đầm lăn (RCC) và bê tông thường (CVC), thí nghiệm cường độ kháng kéo trên mẫu trụ đúc và mẫu trụ khoan đối với bê tông RCC để xác định các hệ số tương quan bằng phương pháp thực nghiệm.
Bài báo này tác giả muốn trình bày một số kết quả thu được từ đề tài nghiên cứu “Quan hệ giữa cường độ kháng nén của mẫu lập phương và mẫu trụ, giữa cường độ kháng nén và kháng kéo đối với bê tông thi công theo công nghệ đầm lăn đập thuỷ điện Sơn La’’ do Ban quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Sơn La, EVN thực hiện.
Công trình thuỷ điện Sơn La có khối lượng khoảng 3 triệu m3 RCC và hơn 2 triệu m3 CVC, đây là công trình có khối lượng bê tông lớn nhất từ trước tới nay ở Việt Nam và là công trình được quản lý rất chặt chẽ về chất lượng. Do đó có điều kiện để xác định các hệ số tương quan nêu trên.
Một số vấn đề kết cấu trong xây dựng đập đá đổ bản mặt bê tông
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 109-114 |  PDF (611.00 KB)
Nguyễn Văn Lệ
Tóm tắt
Đập đá đổ bản mặt bê tông là loại đập mới được xây dựng nhiều trong khoảng vài chục năm trở lại đây và được xem là một tiến bộ về công nghệ xây dựng đập. Ở Việt Nam, loại hình đập mới này cũng chỉ mới được đưa vào, đầu tiên là đập Na Hang (Tuyên Quang), cao 92,2m, tiếp theo là đập Rào Quán (Quảng Trị), cao 78m, và đập Cửa Đạt (Thanh Hoá), cao 117m. Một trong những thành công trong việc ứng dụng các công nghệ mới này là việc đề xuất các giải pháp kết cấu, thiết lập và giải các bài toán kết cấu phục vụ cho việc thiết kế và thi công công trình. Báo cáo trình bày những nét chính về công nghệ, những vấn đề kết cấu nảy sinh, cách giải, kết quả thu được và một số kiến nghị..
Ảnh hưởng của chế độ nước mặt ruộng đến năng suất lúa, mức tưới và lượng mưa hiệu quả
Số Đặc biệt (11/2009) > trang 115-126 |  PDF (591.00 KB)
Trần Viết Ổn
Tóm tắt
Đề tài đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên quy mô 32 ô thí nghiệm có kích thước 1,5 x 1,5 m đặt tại Trung tâm Nghiên cứu Thủy nông Bắc bộ thuộc Viện Khoa học Thủy lợi tại Thường Tín. Thí nghiệm bố trí 10 công thức tưới theo chế độ tưới là nông/sâu thường xuyên; nông/sâu lộ liên tiếp và nông/sâu lộ phơi với thời gian phơi ruộng là 3, 6 hay 9 ngày. Mỗi công thức được nhắc lại 3 lần. Giống thí nghiệm được chọn là giống lúa Khang dân được thí nghiệm trong cả 5 vụ Xuân 2006, 2007 và 2008, Mùa 2006 và 2007. Mước trên các ô thí nghiệm được quan trắc ngày 2 lần. Khi ruộng cạn nước, căn cứ theo thời gian phơi ruộng, tiến hành tưới đến giá trị amax. và đo đạc lượng nước tưới trong mỗi ô thí nghiệm. Kết quả phân tích cho thấy:
+ Lượng mưa hiệu quả tăng dần theo số ngày phơi ruộng và độ sâu trữ nước trên mặt ruộng. Tuy nhiên lượng mưa hiệu quả phụ thuộc chặt chẽ vào công thức tưới và sự phân bố lượng mưa hơn là tổng lượng mưa vụ. Thời gian phơi ruộng càng dài, hệ số sử dụng nước mưa càng lớn. Độ sâu lớp nước tối đa càng lớn, hệ số sử dụng nước mưa càng tăng.
+ Mức tưới phụ thuộc vào 2 yếu tố của công thức tưới là thời gian phơi ruộng và độ sâu lớp nước mặt ruộng. Thời gian phơi ruộng tỷ lệ nghịch với mức tưới. Mức tưới của các công thức nông-lộ phơi và sâu lộ phơi đều chênh lệch nhau theo xu thế tăng tỷ lệ thuận với chiều sâu lớp nước mặt ruộng của công thức tưới.
+ Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt giữa thời gian phơi ruộng và năng suất thường không đáng kể khi thời gian phơi ruộng không vượt quá 3 ngày (vụ mùa) và 6 ngày (vụ Xuân). Như vậy, công thức tưới tốt nhất là tưới nông-lộ-phơi với thời gian phơi ruộng tương ứng là 3 ngày (vụ mùa) và 6 ngày (vụ xuân).
123