Số 43 (12/2013)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 12/2013
 
   
Đánh giá hiện trạng cấp nước nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất giải pháp phát triển
Số 43 (12/2013) > trang 3-10 |  PDF (469.00 KB)
Đoàn Thu Hà
Tóm tắt
Hiện trạng cấp nước nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã được phân tích đánh giá. Kêt quả đánh giá cho thấy Hiện nay toàn vùng có 75,82% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh (HVS), chỉ có 36,52% dân số được sử dụng nước đạt QCVN02:2009/BYT. Nhiều công trình cấp nước tập trung quy mô nhỏ và rất nhỏ đang ở tình trạng xuống cấp, chất nước nước cấp không đảm bảo yêu cầu. Các giải pháp phát triển cấp nước sinh hoạt nông thôn vùng ĐBSCL được đề xuất nhằm đáp ứng mục tiêu về cấp nước sinh hoạt nông thôn của Chiến lược cấp nước và VSMT nông thôn đến năm 2020
Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế đến cân bằng nước của hồ chứa Phú Lợi, huyện Chí Linh, Hải Dương
Số 43 (12/2013) > trang 11-17 |  PDF (352.00 KB)
Lê Văn Chín
Tóm tắt
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về biến đổi khí hậu (BĐKH) tác động đến các lĩnh vực và đời sống của con người. Kết quả của những nghiên cứu đã chỉ ra rằng BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng tới sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp sẽ dễ bị tổn thương nhất.
Tại Việt Nam, trong những năm qua, diễn biến của khí hậu theo chiều hướng cực đoan. Cụ thể, lượng mưa tăng mạnh vào mùa lũ và giảm vào mùa kiệt cùng với nhiệt độ trung bình đã tăng. Biến đổi khí hậu làm tăng thêm các thiên tai lũ lụt và hạn hán ngày càng khốc liệt. Ảnh hưởng đồng thời của phát triển kinh tế (PTKT) và BĐKH đến nhu cầu nước sẽ rất nghiêm trọng trong tương lai. Trong những năm gần đây, hiện tượng thiếu hụt nước cung cấp cho các ngành kinh tế xảy ra thường xuyên với mức độ nghiệm trọng tại huyện Chí Linh. Do vậy cần có nghiên cứu đánh giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH và PTKT đến cân bằng nước của hệ thống thủy lợi. Bài báo này giới thiệu kết quả đánh giá tác động của BĐKH và PTKT đến nhu cầu nước của các cây trồng ở hệ thống tưới và sự thay đổi dòng chảy đến hồ chứa Phú Lợi, Chí Linh, Hải Dương. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhu cầu nước tưới sẽ tăng lên đáng kể, cùng với sự giảm dòng chảy đến nên sự thiếu hụt nước của hồ là rất lớn trong tương lai. Cụ thể, nhu cầu nước tăng khoảng 3,09 % so với thời kỳ 1980-1999 vào năm 2020 và 10,7% vào năm 2050, ứng với kịch bản B2. Cùng với sự tăng mạnh của nhu cầu nước và giảm dòng chảy mùa kiệt đã dẫn đến làm tăng mạnh sự thiếu hụt nước trong tương lai với sự thiếu hụt nước của hệ thống tăng 17,9% vào năm 2020 và 40,2% vào năm 2050.
Đánh giá bước đầu về phương pháp xác định mực nước thiết kế bể xả của các trạm bơm tiêu
Số 43 (12/2013) > trang 17-20 |  PDF (331.00 KB)
La Đức Dũng, Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu kết quả đánh giá bước đầu về phương pháp xác định mực nước thiết kế bể xả của các trạm bơm tiêu hiện nay dựa trên liệt tài liệu quan trắc thực tế của trạm bơm Nhân Hòa, Hà Nam. Qua so sánh mực nước bể tháo và mực nước sông trong thời gian từ năm 2004 đến năm 2011, bài báo đã đánh giá sơ bộ được mức độ lãng phí cột nước bơm dẫn đến điện năng bơm tăng thêm của trạm bơm do đáy kênh tháo được thiết kế thiên cao
Xử lý ammoni trong nước ngầm hà nội áp dụng phương pháp sinh học ứng dụng kỹ thuật mới “SWIM-BED”
Số 43 (12/2013) > trang 21-26 |  PDF (410.00 KB)
Đoàn Thu Hà
Tóm tắt
Ammoni có trong nước uống ở nồng độ cao có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe, đặc biệt đối với trẻ sơ sinh. Công nghệ mới sử dụng giá thể mang vi khuẩn hoạt động ở trạng thái nửa cố định, nửa di động (tên gọi “Swim-bed”) làm bằng sợi tổng hợp Biofringe được sử dụng trong nghiên cứu xử lý ammoni trong nước ngầm Hà Nội. Hai bể thí nghiệm, nitrat hóa (NBF) và denitrat hóa (DNBF) được sử dụng trong nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu chứng minh hiệu quả loại ammoni cũng như các ưu điểm của bể NBF và DNBF. Tải lượng loại bỏ ammoni ở mức cao so với các nghiên cứu tương tự, ổn định, hàm lượng chất lơ lửng đầu ra nhỏ, quản lý dễ dàng. Công trình xử lý ammoni áp dụng kỹ thuật “swim-bed” và vật liệu BF có thể được áp dụng để xử lý ammoni trong nước ngầm khu vực Hà Nội
Ứng dụng mô hình dòng chảy rối trong tính toán dòng chảy tự do qua đập tràn
Số 43 (12/2013) > trang 11-17 |  PDF (1301.00 KB)
Nguyễn Công Thành
Tóm tắt
Đối với dòng chảy qua đập tràn của các công trình thủy lợi, dòng chảy thường có tính nhớt và độ rối tương đối cao. Việc mô phỏng dòng chảy qua đập tràn trước đây bằng phương pháp số thường áp dụng phương pháp phần tử hữu hạn với tính chất của chất lỏng là không nhớt, dòng không xoáy… Với sự phát triển của máy tính hiện nay cũng như sự phát triển của các nghiên cứu về mô hình dòng chảy rối, việc mô phỏng dòng chảy qua đập tràn nói riêng và dòng chảy tự do nói chung bằng mô hình toán đã có những bước phát triển đáng kể. Bài báo này sẽ trình bày tổng hợp một số mô hình dòng chảy rối phổ biến, ứng dụng mô hình ứng suất rối Reynolds và phương pháp thể tích hữu hạn vào việc mô phỏng và tính toán dòng chảy tự do qua đập tràn mặt cắt WES. Kết quả giữa mô phỏng số và thí nghiệm mô hình đã được kiểm tra và sự sai khác nhau là không đáng kể.
Nghiên cứu giải pháp sử dụng nước ngầm thay thế nước cấp từ hệ thống kênh tưới tiêu kết hợp cung cấp cho các khu nuôi thủy sản
Số 43 (12/2013) > trang 26-34 |  PDF (374.00 KB)
Nguyễn Thế Anh
Tóm tắt
Hiện nay xu hướng chuyển đổi ruộng sâu không có khả năng canh tác hoặc canh tác với năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản đang được thực hiện ở nhiều địa phương. Nguồn cung cấp nước cho các ao nuôi chủ yếu vẫn dựa vào hệ thống kênh tưới tiêu nội đồng phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp. Chất lượng nguồn nước từ hệ thống kênh tưới tiêu kết hợp thường có chất lượng thấp không đảm bảo cho nuôi trồng thủy sản do ảnh hưởng của các loại hóa chất sử dụng trong quá trình canh tác nông nghiệp. Hơn nữa, chế độ thay nước của ao nuôi phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ bơm nước của các trạm bơm thủy lợi-không phù hợp với chu kỳ thay nước của các ao nuôi, gây ảnh hưởng tới sản lượng nuôi trồng thủy sản. Vì vậy, giải pháp sử dụng các nguồn nước đảm bảo chất lượng và trữ lượng cung cấp cho ao nuôi theo đúng quy trình nuôi là rất cần thiết. Trong bài báo này, tác giả sẽ giới thiệu về giải pháp sử dụng nguồn nước ngầm thay thế nước cấp từ hệ thống kênh tưới tiêu kết hợp cung cấp cho ao nuôi thủy sản, đồng thời đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng của mô hình xây dựng thí điểm
Xử lý Amoni trong nước ngầm bằng bể lọc sinh học cần được ứng dụng, mở rộng cho hệ thống cấp nước nông thôn
Số 43 (12/2013) > trang 35-42 |  PDF (6378.00 KB)
Lương Văn Anh
Tóm tắt
Xử lý nước ở khu vực nông thôn cho vùng có nguồn nước chứa hàm lượng Amoni cao, yêu cầu xử lý phức tạp. Đặc biệt công tác quản lý vận hành ảnh hưởng đến hàm lượng Amoni sau xử lý, nếu vận hành tốt, đúng yêu cầu thì đảm bảo hiệu quả sau xử lý, nếu vận hành không đúng qui trình thì cho kết quả xử lý không đạt theo thiết kế.
Xử lý Amoni trong nước ngầm ở khu vực nông thôn, cần phải có phương pháp phù hợp, đảm bảo yêu cầu là hiệu quả xử lý cao, làm việc ổn định, chi phí chấp nhận được, phù hợp với các thông số chất lượng nước của các vùng nông thôn. Nhiều nghiên cứu gần đây, trong số các phương pháp xử lý Amoni trong nước cấp theo phương pháp oxy hóa vi sinh - lọc sinh học ngập nước có thổi khí, có hoặc không có quá trình khử nitrat có nhiều ưu điểm hơn cả. Phương pháp này không gây ô nhiễm, không cần giai đoạn xử lý phụ như phương pháp clo hóa, hoặc tốn kém trong công đoạn hoàn nguyên vật liệu như trao đổi Cation.
Nghiên cứu thực nghiệm đánh giá sức chịu tải kéo nhổ của neo xoắn
Số 43 (12/2013) > trang 48-53 |  PDF (1139.00 KB)
Hoàng Việt Hùng
Tóm tắt
Để gia tăng ổn định mảng gia cố đê biển, tác giả đề xuất giải pháp sử dụng neo xoắn, xoắn vào trong thân đê và liên kết neo với tấm lát mái. Tác giả đã thiết lập biểu thức xác định sức chịu tải kéo nhổ của neo xoắn. Bài báo trình bày các thí nghiệm trong phòng và hiện trường để đánh giá sức chịu tải kéo nhổ của neo xoắn và kiểm chứng cùng biểu thức giải tích đã thiết lập. Kết quả thí nghiệm cho thấy neo xoắn có khả năng neo giữ rất tốt và độ sâu tối ưu cắm neo
Nghiên cứu ứng dụng màn cừ bê tông cốt thép dự ứng lực để bảo vệ bờ sông trong các khu đô thị
Số 43 (12/2013) > trang 54-60 |  PDF (464.00 KB)
Lê Xuân Khâm
Tóm tắt
Ứng dụng kết cấu tường cừ bê tông dự ứng lực để bảo vệ bờ trên những đoạn sông lớn trong các khu đô thị vùng đồng bằng có nhiều hiệu quả rõ rệt như: Chịu được tải trọng ngang lớn hơn kết cấu bê tông thông thường nên tận dụng hết khả năng làm việc chịu kéo của cốt thép và chịu nén của bê tông, giảm được rất nhiều trọng lượng vật tư cho công trình; tận dụng được quỹ đất, giảm được chi phí giải phóng mặt bằng; thi công dễ dàng chính xác, không cần mặt bằng rộng; được sử dụng nhiều điều kiện địa hình và địa chất khác nhau đặc biệt là vùng địa chất yếu có hiện tượng cát đùn, cát chảy.
Vấn đề đặt ra là khi sử dụng cừ để gia cố nếu cừ quá dài thì tốn kém, cừ ngắn thì không đảm đảm bảo ổn định. Vì vậy cần phải có giải pháp neo hợp lý, từ đó xác định chiều dài cừ vừa đủ để cừ đảm bảo độ bền và chuyển vị đầu cừ vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Trong bài báo này tác giả nghiên cứu ứng cho một công trình thực tế, từ đó đưa ra một số kết quả và kết quả này có thể dùng để làm tài liệu để tham khảo cho những đoạn sông có địa hình, địa chất tương tự.
Ảnh hưởng của một số kết cấu gia tăng độ cứng đến khả năng kháng chấn theo phương ngang của đập bê tông trụ chống
Số 43 (12/2013) > trang 61-64 |  PDF (1795.00 KB)
Nguyễn Ngọc Thắng
Tóm tắt
Đập hoặc tường chắn có trụ chống là dạng kết cấu được sử dụng rộng rãi trong các công trình thủy lợi, thủy điện. Kết cấu dạng này có độ mảnh lớn theo phương ngang nên khả năng của chúng chịu tải trọng, đặc biệt là tải trọng động theo phương này kém hơn so với khi chịu tải trọng theo các phương khác. Nội dung của bài báo này đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của một số kết cấu gia tăng độ cứng đến khả năng kháng chấn theo phương ngang của đập bê tông trụ chống.
Dùng phương pháp phần tử hữu hạn để phân tích cố kết của đập đất
Số 43 (12/2013) > trang 65-71 |  PDF (1227.00 KB)
Phạm Huy Thanh, Cheng Jing
Tóm tắt
Phương pháp phần tử hữu hạn là một công cụ hữu ích để giải các bài toán phức tạp trong kỹ thuật nói chung và trong công trình thủy lợi nói riêng. Bài báo này phân tích vấn đề cố kết của đập đất bằng cách đánh giá ảnh hưởng đồng thời của ứng suất và áp lực nước lỗ rỗng trong đập đất sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn. Áp lực nước lỗ rỗng trong phần lõi của đập đất đóng một vai trò quyết định trong quá trình xây dựng và sử dụng của đập. Sử dụng phần mềm phần tử hữu hạn ABAQUS để phân tích một đập đất đại diện. Kết quả tính toán cho thấy, áp lực nước lỗ rỗng có thể cao trong suốt quá trình xây dựng đập nhưng nó sẽ phân tán dần dần vì quá trình cố kết của lõi đập diễn ra trong một thời gian dài. Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn nếu mực nước hồ rút đột ngột sẽ dẫn tới sự giảm nhanh của áp lực nước lỗ rỗng trong thân đập, các lực tác dụng lên phân tử đất sẽ đột ngột tăng nhanh do sự giảm nhanh của lực đẩy nổi. Lực kháng cắt giữa các phân tử đất có thể không đủ để chống lại sự gia tăng của ứng suất cắt mà nó phải chịu. Một số kết quả quan trọng được trình bày cho sự phân bố của áp lực nước lỗ rỗng và độ lún của đập đất trong suốt thời kỳ xây dựng, khi hồ tích nước và mực nước hồ rút nhanh.
Nghiên cứu ổn định vách hào thi công trong dung dịch bentonite theo trạng thái không gian ba chiều
Số 43 (12/2013) > trang 72-80 |  PDF (701.00 KB)
Nguyễn Cảnh Thái, Tô Quang Trung
Tóm tắt
Tường hào bentonite là một giải pháp chống thấm mới áp dụng hiệu quả để xử lý thấm thân và nền đê, đập. Hào được đào trong dung dịch bentonite để giữ ổn định vách, Trong quá trình thi công dễ xảy ra hiện tượng mất ổn định vách hào. Do đó, việc tính toán ổn định vách hào trong quá trình đào cần đặc biệt được quan tâm. Trong bài báo này tác giả đi sâu nghiên cứu các ảnh hưởng của yếu tố không gian ba chiều, mức dung dịch trong hào, dung trọng của dung dịch đến sự ổn định của vách hào
Xây dựng công cụ đánh giá nhanh tác động của biến đổi khí hậu đến hiệu quả khai thác các hồ chứa ở miền Trung Việt Nam
Số 43 (12/2013) > trang 81-88 |  PDF (1104.00 KB)
Hoàng Thanh Tùng, Lê Kim Truyền, Dương Đức Tiến, Nguyễn Hoàng Sơn
Tóm tắt
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã, đang và sẽ tác động xấu đến nhiều lĩnh vực trong đó có tài nguyên nước của Việt Nam. Nước ta là nước nông nghiệp có rất nhiều hồ chứa thủy lợi. Các công trình này có vai trò rất lớn trong việc điều tiết dòng chảy nhằm cung cấp nước cho các ngành kinh tế. Dưới những tác động bất lợi của BĐKH như làm tăng nhiệt độ, bốc hơi, thay đổi lượng và phân bố mưa dẫn đến nhu cầu cấp nước, dòng chảy đến hồ thay đổi theo hướng bất lợi thì hiệu quả khai thác của các hồ chứa cũng thay đổi theo hướng bất lợi và cần phải đánh giá để có giải pháp thích ứng. Bài báo này trình bày tóm tắt phương pháp đánh giá nhanh tác động của BĐKH đến hiệu quả khai thác các hồ chứa ở Miền Trung của Việt Nam
Tận dụng phế thải từ lốp xe ô tô trong việc gia cố và nâng cấp mặt đường nhựa bị nứt gãy, chịu nhiệt độ cao
Số 43 (12/2013) > trang 89-92 |  PDF (455.00 KB)
Lương Minh Chính
Tóm tắt
Hàng năm trên thế giới thải ra gần một tỷ lốp xe các loại, nhưng chỉ một phần nhỏ của con số đó được tái sử dụng trong xây dựng công nghiệp và cơ sở hạ tầng. Việc sử dụng phụ gia cao su từ lốp xe ô tô cũ vào bê tông nhựa phục vụ cho việc nâng cấp và sửa chữa các mặt đường bị hư hỏng, nứt gãy mang lại hiệu quả cao về chất lượng cũng như kinh tế so với các loại nhựa đường cao cấp khác. Ngoài ra đây cũng là một giải pháp hữu hiệu đối với điều kiện nhiệt độ mặt đường cao trong mùa hè ở Việt Nam. Đồng thời cũng rất đơn giản trong việc sử dụng và sản xuất.
Lựa chọn quy mô công trình đẫn dòng trong cùng một thời đoạn trên quan điểm chi phí nhỏ nhất
Số 43 (12/2013) > trang 93-96 |  PDF (326.00 KB)
Nguyễn Trọng Hoan
Tóm tắt
Dẫn dòng thi công là nội dung quan trọng khi xây dựng các công trình trên sông, suối. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian thi công, giá thành xây dựng và chất lượng công trình. Khi xây dựng công trình trên những dòng sông có lưu lượng thiết kế dẫn dòng thi công lớn, thường sử dụng đồng thời hai, ba hoặc có thể nhiều công trình để dẫn dòng trong cùng một thời đoạn. Việc xác định quy mô của từng công trình là bài toán tối ưu về kinh phí, thời gian và khả năng thi công. Từ lưu lượng thiết kế dẫn dòng thi công cần phải xác định qui mô của mỗi công trình để có tổng chi phí dẫn dòng cho thời đoạn đó là nhỏ nhất. Bài toán được xây dựng dựa trên lý thuyết quy hoạch tuyến tính, giải bài toán để tìm kết quả tối ưu phương án dẫn dòng thi công công trình thủy lợi, thủy điện
12