Số 29 (6/2010)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2010
 
   
MỤC LỤC
Số 29 (6/2010) > |  PDF (380.00 KB)
Ứng dụng phương pháp Lý thuyết tập mờ (Fuzzy Set Theory) đánh giá hiệu quả quản lý tưới
Số 29 (6/2010) > Trang 3-7 |  PDF (318.00 KB)
Trần Chí Trung
Tóm tắt
Để nâng cao hiệu quả của các công trình thuỷ lợi cần phải đánh giá hiệu quả tưới của hệ thống thủy lợi được quản lý bằng các mô hình quản lý khác nhau, tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện các mô hình quản lý tưới. Bài báo này giới thiệu việc ứng dụng phương pháp Lý thuyết tập mờ (Fuzzy Set Theory), là một công cụ toán học hiện đại để đánh giá khách quan hiệu quả quản lý tưới.
Tưới tiết kiệm nước cho dứa vùng Đồng Giao, Ninh Bình
Số 29 (6/2010) > Trang 8-13 |  PDF (386.00 KB)
Phạm Thị Minh Thư, Nguyễn Trọng Hà
Tóm tắt
Tưới tiết kiệm nước là một vấn đề đang được đề cập đến ở nhiều diễn đàn các nhà quản lý nước trên thế giới trước nguy cơ khan hiếm nước ngọt trên diện rộng do sự biến đổi của khí hậu toàn cầu, do khai thác quá mức nguồn nước ngọt dự trữ của trái đất, do nhu cầu sử dụng nước ngọt của các lĩnh vực kinh tế, sản xuất, con người ngày càng gia tăng. Bài viết giới thiệu tóm tắt một phần kết quả công trình nghiên cứu chế độ tưới tiết kiệm nước và giữ ẩm cho dứa vùng Đồng Giao, Ninh Bình của tập thể các giảng viên trường Đại học Thủy lợi, phối hợp với các cán bộ kỹ thuật tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao với sự hỗ trợ kinh phí của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Kết quả nghiên cứu thể hiện sự kết hợp nỗ lực giữa các nhà quản lý, doanh nghiệp và các nhà khoa học để có thể áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất.
Đánh giá ảnh hưởng của các cầu qua sông tới khả năng thoát lũ trên đoạn sông Hồng qua Hà Nội
Số 29 (6/2010) > Trang 14-19 |  PDF (749.00 KB)
Nguyễn Ngọc Quỳnh
Tóm tắt
Bài báo phân tích kết quả tính toán biến động mực nước lũ trên đoạn sông Hồng qua Hà Nội khi xét đến sự tồn tại của 2 cầu mới xây dựng ( Thanh Trì, Vĩnh Tuy) và 1 cầu dự kiến xây dựng năm 2008 ( Nhật Tân). Kết quả phân tích, đánh giá trên sẽ trả lời câu hỏi hiện đang tồn tại đó là liệu các cầu mới xây và dự kiến xây dựng có ảnh hưởng tới khả năng thoát lũ hay không và nếu có thì ảnh hưởng tới mức độ nào?
Vấn đề quy hoạch sử dụng đất lồng ghép
Số 29 (6/2010) > Trang 20-22 |  PDF (314.00 KB)
Phạm Thị Minh Thư
Tóm tắt
Quy hoạch sử dụng đất (QHSD đất) là công cụ giúp quản lý việc sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý, tuy nhiên trong quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất, các tác động về xã hội cũng như môi trường có thể xảy ra khi thực hiện phân bổ diện tích đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Do đó, việc sử dụng bền vững tài nguyên đất hiện nay chỉ có thể đạt được thông qua việc gắn kết các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường vào trong quy hoạch sử dụng đất.
Do đó, vai trò của quy hoạch sử dụng đất phải được mở rộng hơn, bao trùm cả các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu, xã hội và kinh tế cũng như tạo điều kiện để các bên chịu ảnh hưởng từ các thay đổi trong sử dụng đất có thể tham gia vào quá trình quy hoạch. Việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi phải điều chỉnh lại cách tiếp cận đối với quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với trình độ phát triển cũng như cách tiếp cận trong quy hoạch sử dụng đất sao cho hài hòa với xu thế toàn cầu hóa và tạo ra một hành lang để quản lý quá trình phát triển đất nước một cách hợp lý, bền vững. Điều này khiến cho việc chuyển hướng lập quy hoạch sử dụng đất từ cách tiếp cận tĩnh và nặng về mô tả sang một cách tiếp cận mới mang nhiều tính chiến lược và thiên về phân tích trở nên cần thiết hơn.
Kết quả nghiên cứu ứng dụng quy trình tưới tiết kiệm nước cho lúa tại Phương Đình – hệ thống Đan Hoài
Số 29 (6/2010) > Trang 23-26 |  PDF (559.00 KB)
Trần Viết Ổn, Phạm Tất Thắng, Giang Thu Thảo
Tóm tắt
Áp dụng quy trình tưới tiết kiệm nước cho cây lúa là xu thế tất yếu. Việc áp dụng quy trình này ngoài việc giảm lượng nước tưới còn có thể làm tăng năng suất cây lúa. Tuy vậy, kết quả giảm lượng nước tưới và tăng năng suất là rất khác nhau tùy thuộc vào chế độ lớp nước mặt ruộng và đặc biệt phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh tại nơi thí nghiệm như đất đai và các yếu tố khí hậu có liên quan khác (mưa, độ ẩm, vv…).
Thành lập bản đồ thảm thực vật trên cơ sở phân tích, xử lý ảnh viễn thám.
Số 29 (6/2010) > Trang 27-33 |  PDF (784.00 KB)
Hoàng Xuân Thành
Tóm tắt
Thảm phủ thực vật là một trong nhiều yếu tố quan trọng được sử dụng để đánh giá các quá trình tự nhiên như xói lở, trượt lở, lũ lụt cũng như tốc độ phá hủy môi trường tự nhiên do các hoạt động nhân sinh. Đối với những khu vực miền núi hiểm trở, thành lập bản đồ thảm phủ gặp nhiều khó khăn do không thể tiến hành lấy mẫu phân tích đều khắp vùng. Thành lập sơ đồ thảm phủ thực vật từ phân tích ảnh viễn thám đã rút gọn thời gian và làm tăng độ chính xác của bản đồ.
Kết quả phân tích và phân loại có kiểm định đối với ảnh Landsat vùng Tủa Chùa – Lai Châu có kết quả tốt với hệ số chính xác K = 0.7, nằm trong giới hạn độ chính xác cao theo phương pháp kiểm tra sau phân loại Kappa. Kết quả cho thấy thảm phủ thực vật vùng Tủa Chùa được phân ra bảy lớp khác nhau là rừng ổn định, rừng non, rừng hỗn hợp, lúa và hoa màu, cây bụi, đất trống đồi trọc và nước.
Khảo sát ứng dụng phương pháp bình sai truy hồi trong xử lý số liệu lưới trắc địa công trình
Số 29 (6/2010) > Trang 34-38 |  PDF (417.00 KB)
Trần Khánh
Tóm tắt
Bài báo có nội dung nghiên cứu khảo sát phương pháp bình sai truy hồi và ứng dụng để xử lý kết nối các trị đo mặt đất và trị đo GPS trong mạng lưới khống chế trắc địa công trình hỗn hợp. Đã đề xuất thuật toán xử lý số liệu đối với dạng lưới nêu trên theo phương pháp bình sai truy hồi. Quy trình tính toán đưa ra trong bài báo có tính chặt chẽ và thuận tiện cho việc lập trình trên máy tính.
Nghiên cứu tính chất điện hoá của thép kết cấu trong môi trường nước mặn
Số 29 (6/2010) > Trang 39-43 |  PDF (504.00 KB)
Nguyễn Đình Tân
Tóm tắt
Qúa trình ăn mòn thép kết cấu trong môi trường nước là ăn mòn điện hoá. Vì vây các tính chất điên hoá là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn vật liệu thích hợp chế tạo cửa van thép trên công trình thuỷ lợi và kết cấu thép vùng ven biển. Báo cáo này trình bày một số kết quả nghiên cứu tính chất điện hoá trong môi trường nước có nồng độ muối khác nhau.
Vật liệu thép kết cấu trên các công trình thủy lợi Việt Nam
Số 29 (6/2010) > Trang 44-47 |  PDF (656.00 KB)
Nguyễn Đình Tân
Tóm tắt
Trong hơn 100 năm qua, kết cấu công trình, hệ thống cửa van, vật liệu kết cấu và ác phương pháp bảo vệ chống ăn mòn trên các công trình thuỷ lợi luôn thay đổi và phát triển. Vì vậy cho việc đi sâu đánh giá tổng thể hiện trạng làm việc của kết cấu thép trên công trình thuỷ lợi là rất cần thiêt. Bài báo này trình bày một số kết quả nghiên cứu đánh giá tổng thể hiện trạng ăn mòn và vật liệu thép cửa van trên công trình thuỷ lợi.
Ảnh hưởng của nền và chiều cao đập đến độ lún của đập đất
Số 29 (6/2010) > Trang 48-51 |  PDF (546.00 KB)
Nguyễn Trọng Tư
Tóm tắt
Trong xây dựng và đăc biệt là xây dựng thủy lợi, việc sử dụng vật liệu địa phương để đắp đập và đê quai được áp dụng rộng rãi. Với các công trình đắp bằng vật liệu địa phương như đê, đập trong quá trình thi công công trình luôn được chất tải cho đến khi công trình được xây dựng hoàn thành. Bản thân các công trình vật liệu địa phương sẽ bị lún theo thời gian, với các công trình đang trong quá trình xây dựng luôn được gia tải nên quá trình lún sẽ phát triển nhanh hơn. Một phần lún do bản thân phần đất đắp và một phần lún do nền lún khi bị chất tải do công trình. Quá trình lún của công trình sẽ là tổ hợp tác động lún của nền và công trình. Mức độ lún của công trình chịu tác động của nhiều yếu tố, đánh giá được quá trình lún của đập có thể đề ra được các phiện pháp đề phòng, xử lý các trường hợp bất lợi do lún gây ra. Bài báo này đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố chiều sâu nền đập và chiều cao đập đến quá trình lún đập.
Nghiên cứu, đề xuất loại cửa van thích hợp cho dự án chống ngập úng khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Số 29 (6/2010) > Trang 52-58 |  PDF (470.00 KB)
Trịnh Công Vấn
Tóm tắt
Dự án thủy lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) bao gồm 12 cống kiểm sóat triều quy mô lớn, đòi hỏi lắp đặt các cửa van có khẩu độ lớn chưa từng được áp dụng ở Việt nam. Trên cơ sở nghiên cứu các cửa van lớn được chế tạo và lắp đặt tại các nước Hà lan, Đức, Anh, Mỹ… nhiều năm qua, tác giả đề xuất việc ứng dụng các cửa van khẩu độ lớn cho dự án thủy lợi chống ngập tại TPHCM nhằm kiểm sóat mực nước đồng thời đảm bảo giao thông thủy nội địa từ cấp II đến cấp IV khi cửa cống mở. Phương pháp phân tích các tiêu chí tổng hợp đã được trình bày nhằm hỗ trợ việc lựa chọn lọai cửa van thích hợp cho dự án.
Nghiên cứu mô hình thủy lực lựa chọn sơ đồ dẫn dòng thi công ở thủy điện Sơn La
Số 29 (6/2010) > Trang 59-61 |  PDF (608.00 KB)
Nguyễn Danh Oanh
Tóm tắt
Nghiên cứu mô hình thuỷ lực các giai đoạn tháo các lưu lượng thi công được thực hiện trên mô hình không gian tỷ lệ 1:801:100. Trên đó đã nghiên cứu tháo qua lòng sông thu hẹp, qua kênh thi công và qua đập xây dở cùng các cống dẫn dòng. Kết quả các nghiên cứu thuỷ lực tháo lưu lượng thi công ở các giai đoạn xây dựng công trình đầu mối đã xác định các thông số dòng chảy và đánh giá sự biến dạng trầm tích aluvi ở hạ lưu. Làm chính xác hoá kết cấu các công trình dẫn dòng thi công.
Từ khoá: nghiên cứu mô hình thuỷ lực, đê quai, kênh dẫn dòng, cống;
Nghiên cứu ứng dụng mặt cắt đập tràn thực dụng dạng Creager-ophixerop và Wes ở công trình tháo lũ cột nước cao.
Số 29 (6/2010) > Trang 62-66 |  PDF (423.00 KB)
Nguyễn Danh Oanh
Tóm tắt
Thiết kế mặt cắt tràn hợp lý là chọn cột nước thiết kế Hd để có hệ số lưu lượng lớn, có thể tiết kiệm vật liệu, nhưng cần hạn chế hình thành áp suất chân không lớn gây xâm thực trên mặt tràn và có chế độ thuỷ lực thuận lợi. Việc ứng dụng các loại mặt cắt đập tràn thực dụng dạng Creager-Ophicerop và WES, thực tế về bản chất không có những khác biệt lớn, đều là đập tràn thực dụng hình cong không chân không. Bài báo tóm tắt một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm mô hình thuỷ lực ứng dụng 2 dạng đập này ở Việt Nam, phân tích và so sánh những đặc trưng về hình dạng, kích thước và các thông số thuỷ lực nhằm giúp ích cho việc sử dụng trong thực tế.
Phân tích nguyên nhân sự cố sạt, trượt tuyến ngầm tràn thuộc hệ thống thủy lợi xã Tráng Việt huyện Mê Linh
Số 29 (6/2010) > Trang 67-71 |  PDF (980.00 KB)
Nguyễn Hữu Huế
Tóm tắt
Tuyến ngầm tràn Tráng Việt bị sự cố khi mực nước sông Hồng lên cao, nước lũ tràn qua mặt tuyến ngầm tràn đã gây sự cố sạt trượt mái hạ lưu. Việc phân tích, đánh giá nguyên nhân sự cố gặp rất nhiều khó khăn vì phải xem xét lại toàn bộ quá trình thực hiện dự án. Qua phân tích đánh giá nguyên nhân sự cố để rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cho các nhà quản lý, tư vấn thiết kế, đơn vị thi công và giám sát thi công.
12