Số 28 (3/2010)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2010
 
   
MỤC LỤC
Số 28 (3/2010) > |  PDF (220.00 KB)
Kiểm tra đánh giá chất lượng đắp đập chính hồ chứa nước Cửa Đạt
Số 28 (3/2010) > Trang 3-6 |  PDF (887.00 KB)
Nguyễn Hữu Huế
Tóm tắt
Đập Cửa Đạt là công trình đầu tiên áp dụng công nghệ đập đá đổ bản mặt bê tông do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn làm Chủ đầu tư. Kiểm soát chất lượng thi công đắp đập chính theo yêu cầu thiết kế là việc làm hết sức cần thiết. Những kết quả thí nghiệm trực tiếp tại hiện trường sẽ giúp Chủ đầu tư kiểm soát chặt chẽ chất lượng của các khối đắp cũng như giúp Chủ đầu tư khi nghiệm thu công trình. Bài viết này đề cập đến những vấn đề chính trong quá trình kiểm soát chất lượng đắp đập của nhóm tác giả.
Phương pháp thí nghiệm hiện trường kiểm tra đo đạc vết nứt bê tông bản mặt đập chính - hồ chứa nước Cửa Đạt
Số 28 (3/2010) > Trang 7-13 |  PDF (638.00 KB)
Nguyễn Hữu Huế
Tóm tắt
Hiện tượng nứt bê tông bản mặt của các công trình đập đá đổ là điều khó tránh khỏi, nhưng mức độ ảnh hưởng của nó lại rất khác nhau, có khi bình thường không cần xử lý, nhưng cũng có khi ảnh hưởng đến kết cấu công trình làm giảm sự ổn định làm việc của công trình. Vì vậy, việc kiểm tra đo đạc, đánh giá mức độ của các vết nứt và đề xuất các biện pháp xử lý là rất cần thiết.
Xác định khả năng và đánh giá mức độ hạn khí tượng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Số 28 (3/2010) > Trang 14-21 |  PDF (885.00 KB)
Nguyễn Đăng Tính
Tóm tắt
Trong những thập kỷ gần đây, tình trạng hạn hán ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng gia tăng, thậm chí có thể xảy ra ngay trong mùa mưa, ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế xã hội ở vùng này. Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá, xác định khả năng hạn hán ở vùng này có ý nghĩa thực tiễn đối với việc đề ra giải pháp phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Hạn hán được phân ra nhiều loại, trong công trình này các tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu loại hạn khí tượng. Để đánh giá khả năng và các đặc trưng hạn khí tượng, các tác giả đã sử dụng một số chỉ tiêu hiện đang được dùng ở các nước trên thế giới. Sau đó, các tác giả lựa chọn chỉ tiêu xác định hạn phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả lựa chọn cho thấy sử dụng chỉ tiêu Sa.I và SPI là phù hợp. Dựa vào các chỉ số này, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu các đặc trưng hạn khí tượng ở vùng này. Đây là cơ sở khoa học để các tác giả có thể tiến hành xây dựng mô hình dự báo hạn khí tượng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Các giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả của hệ thống giếng, hạ thấp mực nước ngầm khi thi công móng công trình trên nền cát chảy.
Số 28 (3/2010) > Trang 22-26 |  PDF (406.00 KB)
Trần Văn Toản
Tóm tắt
Các công trình được xây dựng trên nền cát chảy có yêu cầu hạ thấp mực nước ngầm (HMNN) trong quá trình thi công móng thì việc HMNN sẽ quyết định sự thành bại trong quá trình xây dựng, giá thành xây dựng, chất lượng nền, chất lượng móng và chất lượng công trình.
Hiện nay rất nhiều công trình đã thực hiện đã thành công nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều công trình thất bại do nhiều nguyên nhân khác nhau. Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý thuyết và các tồn tại từ thực tế HMNN xây dựng móng các công trình, tác giả đưa ra các giải pháp cải tiến kỹ thuật phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác HMNN.
Ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây bưởi vùng ven đô Thành phố Hà Nội
Số 28 (3/2010) > Trang 27-32 |  PDF (465.00 KB)
Trần Chí Trung
Tóm tắt
Ưu điểm lớn nhất cuả công nghệ tưới nhỏ giọt là tiết kiệm nước, do nước tưới được cấp trực tiếp cho cây trồng, không bị thất thoát do bốc hơi và thấm sâu. Tưới nhỏ giọt còn có khả năng giữ được độ ẩm đồng đều trong tầng đất canh tác góp phần nâng cao năng suất cây trồng. Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ tưới tưới nhỏ giọt cho một trang trại hộ gia đình có quy mô 0.2 ha trồng cây bưởi ở huyện Sóc Sơn ngoại thành Hà Nội. Kết quả nghiên cứu từ mô hình điểm là cơ sở khoa học và thực tiễn để nhân rộng mô hình tưới hiện đại cho các loại cây có giá trị kinh tế cao như cây bưởi để phát triển kinh tế hộ gia đình.
Một số vấn đề chính khi phát triển phong điện ở Việt Nam
Số 28 (3/2010) > Trang 33-38 |  PDF (337.00 KB)
Nguyễn Xuân Trường, GS. Wang Hong Hua, Nguyễn Quang Phú
Tóm tắt
Khi các nguồn năng lượng hoá thạch ngày càng bị cạn kiệt, việc sử dụng điện năng ngày một tăng cao, vấn đề môi trường và xã hội cần được quan tâm… thì việc tìm kiếm, khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng mới là rất cần thiết. Dùng năng lượng gió để phát điện sẽ tạo ra một dạng năng lượng sạch và có giá thành rẻ. Bài viết này phân tích ưu nhược điểm của Phong điện, từ đó tổng hợp và đánh giá tiềm năng phát triển của năng lượng gió để phát điện ở Việt Nam.
Cơ chế CDM và một số thách thức của Việt Nam khi tham gia nghị định thư kyoto
Số 28 (3/2010) > Trang 39-43 |  PDF (497.00 KB)
Cù Thị Phương
Tóm tắt
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển tham gia vào nghị định thư Kyoto. Trong những năm gần đây nhiều dự án phát triển sạch đã và đang được Việt Nam xây dựng và thực hiện. Bài viết này sẽ phân tích một số thách thức của Việt Nam khi tham gia Nghị định thư và một số giải pháp khi tiến hành dự án CDM.
Tìm kiếm sách lược vận hành hồ chứa nhà máy thủy điện bằng thuật toán di truyền
Số 28 (3/2010) > Trang 44-50 |  PDF (406.00 KB)
Tô Thúy Nga
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, Mô hình thuật toán di truyền được phát triển để tìm sách lượt tối ưu vận hành hồ chứa nước nhà máy Thủy điện A Vương. Hàm mục tiêu của nghiên cứu này là Maximum điện năng. Các biến quyết định là lưu lượng xả nước từ hồ chứa qua Tuabin. Kết quả vận hành sẽ được xây dựng dựa trên 3 năm điển hình ứng với các tần suất tương ứng P=10%, P=50% và P=90%. Trong bài báo này tác giả không phân tích độ nhạy trong mô hình thuật toán di truyền, Mô hình thuật toán di truyền lựa chọn số quần thể, xác suất giao phối, xác suất đột biến và số lần phát ra có giá trị tương ứng là 100, 0.75, 0.02, 100.
Một vài ý kiến về công trình dẫn dòng thi công dạng bậc nước
Số 28 (3/2010) > Trang 51-55 |  PDF (238.00 KB)
Trần Quốc Thưởng
Tóm tắt
Trong xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện lớn thời gian dẫn dòng thi công kéo dài vài ba năm; do đó khi xả lưu lượng dẫn dòng thi công vào mùa lũ qua cống hay tuy nen … sẽ rất tốn kém. Vì vậy, một số nước đã nghiên cứu và áp dụng biện pháp xả lũ thi công qua đập xây dở dạng bậc nước. Bài viết nêu một số ý kiến về vấn đề bậc nước bằng thảm rọ đá.
Nghiên cứu thực nghiệm chế độ thủy lực tràn xả lũ nước trong – Quảng Ngãi
Số 28 (3/2010) > Trang 56-59 |  PDF (347.00 KB)
Trần Quốc Thưởng
Tóm tắt
Tràn xả lũ Nước Trong có tỷ lưu lớn, hạ lưu tràn là một đoạn sông cong có cầu giao thông và dân sinh sống ở bên bờ trái. Do đó việc nghiên cứu thí nghiệm xác định các thông số thủy lực chủ yếu để chọn biện pháp gia cố hạ lưu tràn là cần thiết.
Bài viết này nêu tóm tắt kết quả nghiên cứu thực nghiệm, chọn kết cấu tiêu năng tràn xả lũ hợp lý của công trình Nước Trong - Quảng Ngãi.
Thực thi thứ tự dùng nước ưu tiên trong phân phối nguồn nước lưu vực sông Kone
Số 28 (3/2010) > Trang 60-65 |  PDF (584.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng
Tóm tắt
In this research, water allocation in the Kone river basin have simulated and analyzed as scientific base for socio - economic development and integrated water resource management by applying WEAP (Water Evaluation and Planning) model. It is also proposed to use a water balance model for the water management authority to support decision – making. Implementation of demand priority in water allocation by applying modeling is useful tool for integrated water resources management, especially for developing countries.
Xác định giới hạn truyền triều trên sông và sự thay đổi mực nước, lưu tốc khi có công trình chắn
Số 28 (3/2010) > Trang 66-70 |  PDF (316.00 KB)
Hồ Sĩ Minh
Tóm tắt
Hiện nay, khi tính toán mực nước thiết kế các công trình trên các đoạn sông có thủy triều chúng ta chưa xét đến ảnh hưởng do chuyển động triều gặp công trình chắn ngang làm thay đổi đáng kể mực nước, lưu tốc. Nội dung bài báo giới thiệu một số kết quả trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2009: “ Hướng dẫn tính toán thủy lực ngăn dòng công trình ở vùng triều” do GS.TS Hồ Sĩ Minh chủ nhiệm.
Tính toán xói mái cỏ phía trong của đê biển tỉnh Thái Bình do sóng tràn
Số 28 (3/2010) > Trang 71-74 |  PDF (375.00 KB)
Nguyễn Bảo Khương, Nguyễn Bá Quỳ
Tóm tắt
Đê biển bắc bộ nói chung cũng như đê biển tỉnh Thái Bình nói riêng đa số đều có mái trong trồng cỏ, nhưng việc tính toán xói mái phía trong ít được đề cập khi có sóng tràn. Báo cáo này đưa ra kết quả tinh toán bằng số chiều sâu xói mái phía trong đê biển tỉnh Thái Bình, từ đó thấy được tầm quan trọng của cỏ trong việc bảo vệ mái đê phía trong khi có sóng tràn.
Nghiên cứu hiệu quả phòng chống lũ của hồ Bình Định cho hạ lưu sông Kone tỉnh BÌnh Định
Số 28 (3/2010) > Trang 75-80 |  PDF (497.00 KB)
Hồ Việt Hùng
Tóm tắt
Hồ chứa nước Định Bình là một dự án lớn được Nhà nước đầu tư cho Bình Định, một tỉnh thường xuyên bị thiên tai vùi dập gây ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân và sản xuất nông nghiệp. Nhiệm vụ của hồ Định Bình là: phòng chống lũ tiểu mãn, lũ sớm, lũ muộn, hạn chế tác hại của lũ chính vụ cho hạ du sông Kone; cung cấp nước cho nông nghiệp, dân sinh và các ngành kinh tế khác như thủy sản, công nghiệp; cấp nước duy trì dòng chảy mùa kiệt làm giảm xâm nhập mặn và bảo vệ môi trường sinh thái; kết hợp phát điện. Bài báo này trình bày nội dung tính toán thủy lực hệ thống sông Kone trước và sau khi có hồ nhằm đánh giá hiệu quả phòng chống lũ của hồ Định Bình cho vùng hạ lưu sông Kone tỉnh Bình Định.
12