Số 27 (11/2009)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 11/2009
 
   
Ứng dụng phân tích rủi ro vào việc lựa chọn tiêu chuẩn an toàn cho đê biển Việt Nam
Số 27 (11/2009) > trang 3-9 |  PDF (293.00 KB)
Nguyễn Văn Thìn, Nguyễn Bá Quỳ
Tóm tắt
Tiêu chuẩn an toàn cho đê biển là đưa ra một mức an toàn ứng với một tần suất thiết kế nào đó mà mức độ rủi ro của vùng được đê bảo vệ là chấp nhận được. Có nhiều cách để xác định tiêu chuẩn an toàn của đê biển, một trong các hướng đó là tiêu chuẩn an toàn trên cơ sở tối ưu về kinh tế đang được nhiều nước tiên tiến chấp nhận và cũng rất phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay
Tần suất và cấp lưu lượng thiết kế dẫn dòng theo quy định của TCXDVN 285-2002- Những bất cập cần được xem xét điều chỉnh
Số 27 (11/2009) > trang 10-14 |  PDF (146.00 KB)
Lê Xuân Roanh, Lê Tuấn Hải
Tóm tắt
Việc lựa chọn tần suất và cấp lưu lượng thiết kế công trình tạm trong xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện được quy định trong TCXDVN 285-2002. Theo tiêu chuẩn này nếu công trình thi công trong 1 mùa khô thì lưu lượng thiết kế ngăn dòng, lưu lượng thiết kế chặn dòng chỉ được phép lấy tần suất P = 10% của tập hợp các trị số lưu lượng lớn nhất xảy ra tại tuyến công trình. Trường hợp khi công trình thi công trong nhiều năm (thời gian thi công lớn hơn 2 mùa khô) thì công trình cấp I và cấp II được phép lấy P = 5% trong suất thời kỳ dẫn dòng. Cũng như vậy công trình cấp nhỏ hơn chỉ được phép lấy P = 10%. Điều này đã xảy ra những bất cập cho người thiết kế, nhà thầu thi công mà đặc biệt vào giai đoạn cuối thi công khi thiết kế lưu lượng dẫn dòng vẫn giữ mực không đổi. Bài viết này sẽ trình bày ý kiến phân tích những bất cập cần được chỉnh sửa trong lần biên soạn tới.
Một số vấn đề tính toán thiết kế-thi công và ứng dụng túi vải địa kỹ thuật
Số 27 (11/2009) > trang 15-26 |  PDF (1600.00 KB)
Hoàng Việt Hùng, Trịnh Minh Thụ, Ngô Trí Viềng, Nguyễn Hoà Hải
Tóm tắt
Công nghệ sử dụng túi vải địa kỹ thuật để bơm vật liệu như cát, đất bùn, hay vữa xi măng vào trong, tạo nên những kết cấu dạng túi hoặc ống cỡ lớn, được đặt đơn lẻ hay xếp chồng thành những kết cấu thay đê biển, kè bảo vệ bờ đang có xu hướng được nhiều nước trên thế giới áp dụng.Tuy nhiên ở Việt Nam công nghệ này còn rất mới và chưa được áp dụng nhiều.
Báo cáo tổng hợp các ứng dụng và phương pháp tính toán túi vải địa kỹ thuật. Đặt bài toán cụ thể để tính toán, phân tích tính kinh tế và ưu, nhược điểm của giải pháp công nghệ này. Đưa ra các khuyến cáo khi thiết kế, thi công túi vải địa kỹ thuật trong thực tế.
Kết quả nghiên cứu sẽ được áp dụng là một trong các tiêu chuẩn thiết kế đê biển tràn nước ở Việt Nam.
Một số đề xuất hoàn thiện công tác đấu thầu xây lắp công trình ở Việt Nam
Số 27 (11/2009) > trang 27-33 |  PDF (180.00 KB)
Phạm Thị Trang
Tóm tắt
Để tạo nên sự công bằng và tính minh bạch, đảm bảo tính cạnh tranh cao trong lĩnh vực xây dựng, vấn đề nghiên cứu và hoàn thiện công tác đấu thầu xây dựng cần phải được quan tâm để tạo nên sự phù hợp trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hóa hiện nay.
Bài báo đã nghiên cứu quy trình đấu thầu xây lắp nước ta hiện nay, trên cơ sở thực trạng, phân tích kinh nghiệm, so sánh với quy trình đấu thầu của các nước và tổ chức trên thế giới, bài báo đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác đấu thầu ở Việt Nam
Tưới tiết kiệm nước cho dứa vùng Đồng Giao, Ninh Bình
Số 27 (11/2009) > trang 34-41 |  PDF (262.00 KB)
Phạm Thị Minh Thư, Nguyễn Trọng Hà
Tóm tắt
Tưới tiết kiệm nước là một vấn đề đang được đề cập đến ở nhiều diễn đàn các nhà quản lý nước trên thế giới trước nguy cơ khan hiếm nước ngọt trên diện rộng do sự biến đổi của khí hậu toàn cầu, do khai thác quá mức nguồn nước ngọt dự trữ của trái đất, do nhu cầu sử dụng nước ngọt của các lĩnh vực kinh tế, sản xuất, con người ngày càng gia tăng. Bài viết giới thiệu tóm tắt một phần kết quả công trình nghiên cứu chế độ tưới tiết kiệm nước và giữ ẩm cho dứa vùng Đồng Giao, Ninh Bình của tập thể các giảng viên trường Đại học Thủy lợi, phối hợp với các cán bộ kỹ thuật tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao với sự hỗ trợ kinh phí của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Kết quả nghiên cứu thể hiện sự kết hợp nỗ lực giữa các nhà quản lý, doanh nghiệp và các nhà khoa học để có thể áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất
Phát triển hệ thống giao thông vận tải bền vững với biến đổi khí hậu
Số 27 (11/2009) > trang 42-49 |  PDF (247.00 KB)
Phạm Đức Thanh
Tóm tắt
Bài báo này nêu quan điểm mang tính nguyên tắc chung về phát triển hệ thống giao thông vận tải bền vững, đồng thời đề cập một cách khái quát tương tác giữa hệ thống giao thông với biến đổi khí hậu (BĐKH) và mực nước biển dâng (MNBD) từ đó tập hợp các nhóm giải pháp và gởi mở các hướng nghiên cứu trong ngành giao thông vận tải có thể thích ứng và giảm thiểu BĐKH và MNBD.
Nghiên cứu, sử dụng mạng nơ-ron nhân tạo trong dự báo lưu lượng nước đến hồ Hoà Bình trước mười ngày
Số 27 (11/2009) > trang 50-57 |  PDF (767.00 KB)
Phạm Thị Hoàng Nhung, Hà Quang Thuỵ
Tóm tắt
Dự báo thuỷ văn nói chung, dự báo lưu lượng nước nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc điều tiết, phòng chống thiên tai ở Việt Nam [2]. Sử dụng mô hình mạng nơ-ron nhân tạo trong dự báo lưu lượng nước đến các hồ chứa là một hướng tiếp cận được sự quan tâm đặc biệt của một số nhóm nghiên cứu trên thế giới [3-6,8-11]. Áp dụng các giải pháp được trình bày trong [4,6,9,11] vào thực tế dự báo thủy văn Việt Nam, báo cáo này trình bày một mô hình áp dụng mạng nơron nhân tạo dự báo lưu lượng nước đến hồ Hòa Bình với thời gian dự kiến 10 ngày. Kết quả thực nghiệm đưọc thực hiện trên phần mềm tương ứng cho thấy mô hình dự báo được đề xuất là có tính khả thi cao
Xóa bỏ các khu chậm lũ sông Hồng, sông Đáy sau khi có hồ chứa Sơn la
Số 27 (11/2009) > trang 58-66 |  PDF (226.00 KB)
Hà Văn Khối, Phạm Thị Hương Lan, Nguyễn Thị Thu Nga, Nguyễn Văn Lai, Nguyễn Thế Toàn, Nguyễn Mạnh Linh
Tóm tắt
Bài báo này tóm tắt những kết quả nghiên cứu của đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xóa các khu chậm lũ sông Hồng, sông Đáy và sông Hoàng Long” do trường Đại học Thủy lợi thực hiện trong năm 2008-2009, GS.TS Hà Văn Khối làm chủ nhiệm đề tài. Trong quá trình nghiên cứu, một số giải pháp đã được xem xét làm cơ sở khoa học cho việc xóa các khu chậm lũ, trong đó giải pháp nâng cao hiệu quả cắt lũ của hồ chứa Hòa Bình – Sơn La, phân lũ vào sông Đáy kết hợp với cải tạo lòng dẫn sông Đáy, sông Hoàng Long và tạo dòng chảy thường xuyên cho sông Đáy trong thời kỳ mùa lũ.
Nghiên cứu, dự báo xu thế diễn biến xâm nhập mặn do nước biển dâng cho vùng cửa sông ven biển Bắc bộ
Số 27 (11/2009) > trang 67-78 |  PDF (672.00 KB)
Vũ Hoàng Hoa Trường, Lương Hữu Dũng
Tóm tắt
Mực nước biển dâng cao do khí hậu thay đổi là một nguy cơ nghiêm trọng có tính toàn cầu, và nguy cơ này càng trở nên nghiêm trọng hơn đối với những nước có mật độ dân cư dày đặc ở những vùng đất thấp và ven biển như Việt Nam. Mực nước biển dâng cao làm quá trình xâm nhập mặn tại vùng cửa sông thuộc dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ diễn biến phức tạp và càng lấn sâu vào trong đất liền, ảnh hưởng đến quá trình lấy nước phục vụ các ngành kinh tế. Vì vậy cần phải có tính toán xác định diễn biến quá trình thủy lực và xâm nhập mặn của hệ thống vùng cửa sông ven biển.
Báo cáo trình bày kết quả nghiên cứu về diễn biến xâm nhập mặn tại chín cửa sông chính vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ để làm cơ sở xây dựng biện pháp ứng phó với mối hiểm họa này
Nghiên cứu kết cấu họng cản của tháp điều áp hợp lí và hiệu quả kinh tế mà nể mang lại
Số 27 (11/2009) > trang 79-83 |  PDF (453.00 KB)
Nguyễn Văn Sơn
Tóm tắt
Hiện nay do yêu cầu điện năng cho mục tiêu phát triển kinh tế ở nước ta ngày một cao, xây dựng và khai thác thuỷ điện đóng vai trò quan trọng dảm bảo an ninh năng lượng của đất nước. Các trạm thuỷ điện có đường dẫn nước dài, cột nước cao, có bố trí tháp điều áp đang được thiết kế và xây dựng rất phổ biến, trong đó vốn đầu tư xây dựng tháp điều áp cũng rất cao. Do đó nội dung báo cáo tập trung nghiên cứu kết cấu họng cản của tháp điều hợp lý nhằm giảm thể tích tháp nhưng vẫn đảm bảo hạn chế áp lực nước va, nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án thuỷ điện phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước.
Một số loại cửa van có thể áp dụng cho thiết kế, xây dựng công trình ngăn sông lớn ở Việt Nam
Số 27 (11/2009) > trang 84-89 |  PDF (699.00 KB)
Trần Đình Hòa, Trương Đình Dụ, Lê Đình Hưng, Thái Quốc Hiền, Vũ Tiến Thư, Nguyễn Đức Hưng
Tóm tắt
Cửa van là một bộ phận quan trọng trong công trình thủy lợi nói chung và công trình kiểm soát triều, ngăn mặn giữu ngọt nói riêng. Nhiệm vụ của cửa van là điều tiết mực nước theo yêu cầu của thực tế sản xuất. Đối với các công trình ngăn sông lớn việc nghiên cứu lựa chọn phương án loại hình kết cấu cửa van và thiết bị đóng mở là một vấn đề hết sức quan trọng, quyết định đến hiệu quả và đảm bảo mục tiêu của dự án trong vận hành và khai thác công trình.
Trên cơ sở tổng quan các loại cửa van khẩu độ lớn đã được áp dụng trong thực tế, bài báo đề xuất, lựa chọn, giới thiệu một số loại kết cấu cửa van khẩu độ lớn có thể áp dụng được cho các công trình ngăn sông lớn ở nước ta.
Sử dụng hồi qui đồng tích hợp để xử lý vấn đề nghiệm đơn vị trong nghiên cứu xác định hàm cầu nhập khẩu urê của Việt Nam
Số 27 (11/2009) > trang 90-95 |  PDF (40.00 KB)
Nguyễn Thế Hòa
Tóm tắt
Một trong những nghiên cứu cơ bản và có nhiều ý nghĩa trong kinh tế học là việc xác
định hàm cầu cũng như cầu nhập khẩu hàng hóa trên một thị trường. Từ hàm cầu ước lượng được có thể dùng để dự báo lượng cầu trong tương lai, hay đánh giá giá ảnh hưởng của các chính sách của chính phủ, nhất là chính sách thuế đến sự thay đổi phúc lợi của người tiêu dùng và người sản xuất, và nhiều mục đích kinh tế khác. Phân tích hồi qui nhiều biến nghiên cứu mối liên hệ phụ thuộc có tính thống kê của một biến ngẫu nhiên với nhiều biến giải thích khác. Sự thành công trong phân tích hồi qui phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng số liệu thống kê thích hợp và phương pháp sử l‎ý các số liệu đó. Tuy nhiên, các chuỗi số lấy theo thời gian của những đại lượng kinh tế còn nhiều biến động theo thời gian lại thường có nghiệm đơn vị (tức chuỗi không dừng). Khi tiến hành hồi qui một chuỗi không dừng lên một chuỗi khác có thể dẫn đến kết quả hồi qui giả. Khi đó việc sử dụng hàm cầu tìm được để dự báo lượng cầu (nhập khẩu) không còn ý nghĩa. Nhưng nếu kiểm định nghiệm đơn vị lại không bác bỏ được giả thuyết chuỗi có nghiệm đơn vị, tức chuỗi số liệu là không dừng thì ta có thể dùng sai phân để có được các chuỗi dừng trước khi sử dụng cho hồi qui. Tuy nhiên, việc dùng sai phân có thể dẫn tới mất thông tin về mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Vậy liệu chúng ta có thể tiến hành hồi qui giữa hai biến ở các mức ban đầu xt và y¬t, ngay cả khi cả hai biến đều có nghiệm đơn vị hay không. Theo R.F Engle và C.W.J. Granger thì điều này có thể được khi tổ hợp tuyến tính của chúng zt = xt -λyt là một chuỗi dừng; khi đó ta gọi xt và yt là hai chuỗi đồng tích hợp. Vận dụng ý tưởng này tác giả đã phân tích và kiểm định nhằm khẳng định tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn thật sự giữa cầu nhập khẩu urê (biến phụ thuộc) với giá urê, tổng sản lượng lương thực, cung urê trong nước, và diện tích canh tác nông nghiệp (các biến giải thích) của Việt Nam thời gian qua.
Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu và xây dựng phần mềm quản lí, phân tÍch cơ sở dữ liệu tài nguyên nước Việt Nam
Số 27 (11/2009) > trang 96-102 |  PDF (551.00 KB)
Hoàng Thanh Tùng, Ngô Lê An, Trịnh Quang Toàn
Tóm tắt
Đề tài “Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu và xây dựng phần mềm quản lý, phân tích cơ sở dữ liệu tài nguyên nước Việt Nam” đi giải quyết các vấn đề khó khăn và những hạn chế hiện nay trong quản lý dữ liệu của ngành tài nguyên nước Việt Nam. Những hạn chế này bao gồm: i) số liệu được lưu trữ không đồng bộ, với nhiều định dạng khác nhau, ii) khuôn thức lưu trữ cũng không thống nhất, không nhất quán về bố cục, iii) rất khó tập hợp dữ liệu về một dạng chuẩn, và quản lý dữ liệu theo hệ thống, iv) chưa có cơ chế đánh giá rõ ràng về chất lượng của số liệu trong cơ sở dữ liệu, v) không có tính kết nối giữa hệ thống các trạm đo đạc, về số liệu và vị trí địa lý giữa các trạm. Với mục đích như vậy, nghiên cứu đã xây dựng được một hệ thống các môdun bao gồm môdun chuẩn hóa dữ liệu kết hợp với phần mềm quản lý, phân tích cơ sở dữ liệu cho lĩnh vực “Tài Nguyên Nước Việt Nam” với các chức năng nhằm giải quyết những hạn chế vừa nêu trên đồng thời hỗ trợ đắc lực cho việc tính toán, phân tích thủy văn cũng như kết nối với các mô hình tính toán thủy văn, thủy lực thông dụng hiện nay
Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Số 27 (11/2009) > trang 103-108 |  PDF (156.00 KB)
Nguyễn Thị Ngọc Dung
Tóm tắt
Đổi mới với nước ta như một vận hội để thành đạt, một thời cơ của lịch sử đòi hỏi chúng ta phải biết nắm bắt. Nhưng Đảng ta cũng xác định được rằng, để thực hiện được những mục tiêu của sự nghiệp đổi mới không chỉ bằng nhiệt tình và lòng dũng cảm như trước đây, mà cần phải huy động trí tuệ và mọi tài năng sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân để tìm các giải pháp tích cực và phù hợp với hoàn cảnh của nước ta. Để trở thành nước tiên tiến, nhanh chóng hòa nhập, chúng ta chỉ có một con đường là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ là chìa khóa để mở cửa đi vào khai thác những tiềm năng thiên nhiên phong phú như: đất đai, khí hậu, động thực vật…và những tiềm năng trí tuệ còn tiềm ẩn, trong đó nguồn tài nguyên trí tuệ đã trở thành tài sản quý báu nhất. Đặc biệt từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X, Đảng đưa ra quan điểm công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tháng 7 năm 2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết quan trọng: “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Rõ ràng, trong thời đại ngày nay, tri thức ngày càng giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của đất nước. Trí thức Việt Nam đang đứng trước những thời cơ, vận hội lớn và cả những thách thức gay gắt.
Vấn đề đạo đức học môi trường ở Việt Nam hiện nay
Số 27 (11/2009) > trang 109-111 |  PDF (73.00 KB)
Phạm Văn Hiển
Tóm tắt
Trong sự phát triển, hầu hết các các quốc gia đã áp dụng các thành tựu khoa học- công nghệ để thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường. Vì thế đã làm gia tăng nhu cầu khai thác tự nhiên của con người. Với quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đã làm cho khả năng tự phục hồi của tự nhiên không cân bằng được với mức độ khai thác của con người. Tình trạng suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái và ô nhiễm môi trường không những tác động đối với sự biến đổi khí hậu, tác động xấu tới sự phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của con người, thậm chí là ảnh hưởng tới sự tồn vong của loài người.
12