Số 26 (9/2009)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9/2009
 
   
MỤC LỤC
Số 26 (9/2009) > |  PDF (384.00 KB)
Đánh giá, dự báo phát triển kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng nước và xác định các kịch bản phát triển nguồn nước phía thượng lưu sông Mê Công.
Số 26 (9/2009) > Trang 3-9 |  PDF (400.00 KB)
Nguyễn Quang Kim, Nguyễn Đăng Tính
Tóm tắt
Sông Mê Công bắt nguồn từ cao nguyên Tibet của Trung Quốc ở độ cao hơn 4.000 m, chảy qua Myama, Lào, Thái Lan, Campuchia, vào Việt Nam rồi đổ ra biển Đông qua hệ thống sông Cửu Long, với tổng chiều dài hơn 4.800 km và diện tích hơn 795.000 km2
Các hoạt động xây dựng hồ chứa nói chung; vận chuyển nước trong và ngoài lưu vực; phát triển nông nghiệp; quản lý vận hành, và yếu tố tự nhiên hay thay đổi chế độ thủy văn của lưu vực là quan trọng. Trong số các yếu tố quan trọng trên, việc quản lý và vận hành các công trình có thể gây ảnh hưởng không xảy ra thường xuyên và có thể xem xét là yếu tố bổ trợ cho các kịch bản; vận chuyển nước trong hay ngoài lưu vực chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp, các yếu tố khác được xem là ít quan trọng hơn như công nghiệp hóa, thủy sản, du lịch và gia tăng dân số được xem xét kết hợp vào kịch bản nông nghiệp vì nhu cầu nước cho các ngành này tỷ lệ với phát triển nông nghiệp nói chung, như vậy một kịch bản được xây dựng trên cơ sở tổ hợp của : Điều kiện tự nhiên- dòng chảy ;Phát triển hồ chứa, và phát triển kinh tế xã hội.Trong nghiên cứu, tác giả đã sơ bộ chọn được 24 tổ hợp kịch bản đánh giá tác động của các yếu tố phát triển thượng lưu thay đổi chế độ dòng chảy xuống hạ lưu nói chung và làm gia tăng xâm nhập mặn nói riêng.
Nghiên cứu phân vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản tỉnh Đồng Tháp phục vụ khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên bền vững.
Số 26 (9/2009) > Trang 10-16 |  PDF (407.00 KB)
Huỳnh Phú
Tóm tắt
Đồng Tháp là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, có nguồn nước ngọt dồi dào do nằm giữa 2 con sông lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long: sông Tiền và sông Hậu, lại thêm kênh rạch chằng chịt và hệ thống thuỷ lợi nội đồng tương đối hoàn chỉnh. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp và là môi trường thích hợp cho đời sống của nhiều loài thủy sinh vật phục vụ cho việc nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu phân vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản nhằm khai thác tài nguyên đất, tài nguyên nước của tỉnh theo định hướng “ phát triển bền vững” là vấn đề có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Đồng Tháp.
Đánh giá tiềm năng phát triển thủy điện phục vụ công tác quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước xuyên biên giới ở lưu vực sông Mê Công.
Số 26 (9/2009) > Trang 17-22 |  PDF (726.00 KB)
Nguyễn Đăng Tính
Tóm tắt
Sông Mê Công có tiềm năng thủy điện rất phong phú từ dòng chính đến các dòng nhánh trên lưu vực với tổng công suất ước tính khoảng 53.000MW, trong đó các nước hạ lưu khoảng 30.000MW bao gồm chủ yếu Lào, Camphuchia và Việt nam, và phần thượng lưu vực sông Mê Công có tiềm năng ước tính đạt 23.000 MW, chủ yếu ở Trung Quốc. Với tiềm năng thủy điện rất lớn nên cần được nghiên cứu và có chiến lược sử dụng, quản lý tài nguyên nước một cách hợp lý nhằm phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh những thế mạnh về tiềm năng thủy điện ở lưu vực sông Mê Công, cũng còn có rất nhiều vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu để không những đảm bảo phát huy hết tiềm năng thủy điện mà còn đảm bảo sự công bằng về mặt sử dụng nguồn nước giữa các nước trong lưu vực và vấn đề môi trường sinh thái trên toàn lưu vực.
Mô hình số tính toán lan truyền sóng.
Số 26 (9/2009) > Trang 23-28 |  PDF (379.00 KB)
Bùi Thùy Duyên, Dr. XuFuMin
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu một số phương pháp số để tính toán lan truyền sóng từ vùng nước sâu đến vùng ven bờ và phân tích hạn chế của từng mô hình. Trọng tâm bài báo tập trung vào mô hình tích phân theo độ sâu (depth integrated models) và mô hình phương trình RANS (Reynolds Averaged Navier-Stokes equations).
Đặc điểm môi trường nước chua phèn gây ăn mòn bê tông cốt thép công trình thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long.
Số 26 (9/2009) > Trang 29-36 |  PDF (724.00 KB)
Khương Văn Huân, Lê Minh
Tóm tắt
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long rộng khỏang 390.000 km2. Diện tích môi trường đất nhiễm chua mặn chiếm tới 60 %. Các công trình thủy lợi bê tông cốt thép xây dựng trong khu vực phần lớn bị ăn mòn. Theo kết quả ngiên cứu, nguyên nhân gây ăn mòn chính đối với bê tông cốt thép là do công trình nằm trong môi trường có pH thấp.Bê tông bị ăn mòn theo cơ chế ăn mòn nhóm II Diện tích môi trường nước chua phèn có thể gây ăn mòn bê tông cốt thép chiếm tới gần 60%, trong đó diện tích gây ăn mòn mạnh tới 10 % diện tích khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Ảnh hưởng của một số phụ gia hóa học đến co ngót của vữa tính năng cao.
Số 26 (9/2009) > Trang 37-43 |  PDF (573.00 KB)
Nguyễn Quang Phú, Jiang Linhua, Liu Jiaping, Nguyễn Như Oanh, Đỗ Viết Thắng
Tóm tắt
Vữa tính năng cao có nhiều tính năng vượt trội so với vữa thông thường trong việc sửa chữa các công trình bê tông và bê tông cốt thép khi mà cường độ nén, cường độ dính kết và độ bền cao cần được công nhận. Tuy nhiên, hỗn hợp vữa tính năng cao luôn luôn được chế tạo với tỷ lệ nước/chất kết dính (W/B) thấp trong khoảng 0.200.40 và trong hỗn hợp có sự kết hợp cao với các hoạt tính pozzolan như muội silíc (silica fume, SF), tro bay (fly ash, FA), xỉ (slag). Do đó nó không tránh khỏi sự thay đổi thể tích xuất hiện trong vữa và bê tông, đó là do kết quả của hiện tượng co khô, tự co, phản ứng hóa học và sự thay đổi nhiệt độ. Co ngót và rạn nứt luôn là các tính chất thường xảy ra trong nghiên cứu bê tông hiện trường, đặc biệt là rạn nứt sớm đã được xét tới. Bài báo này đã đánh giá ảnh hưởng của một số phụ gia hóa học đến co ngót của vữa tính năng cao cho hai hỗn hợp vữa (W/B = 0.22 và 0.40).
Ô nhiễm bởi một số chất hữu cơ thơm đa vòng (PAH) trong không khí tại Hà Nội.
Số 26 (9/2009) > Trang 44-49 |  PDF (357.00 KB)
Vũ Đức Toàn
Tóm tắt
Một số chất hữu cơ thơm đa vòng (PAH) được phân tích trong không khí tại Hà Nội năm 2003 và 2007. Kết quả cho thấy ô nhiễm PAH trong không khí tại Hà Nội đã ở mức độ cao. Nồng độ cực đại của 28 PAH trong các mẫu bụi và mẫu khí năm 2007 lần lượt là 290 và 1300 ng/m3. PAH phân bố ở phạm vi rộng với hàm lượng đáng kể của một số PAH có khả năng gây ung thư cao. Nguồn thải PAH chủ yếu là từ khói thải của các động cơ sử dụng xăng không có bộ xử lí khí thải.
Thực trạng và giải pháp di dân tái định cư từ các công trình phát triển tài nguyên nước.
Số 26 (9/2009) > Trang 50-54 |  PDF (440.00 KB)
Nguyễn Thị Hoàng Hoa
Tóm tắt
Hầu hết các dự án phát triển thuỷ điện, thuỷ lợi trên thế giới đều có liên quan đến việc di dân tái định cư, điều này ít nhiều làm gián đoạn đáng kể đến kế sinh nhai hiện tại của người dân. Nói chung có những tác động bất lợi về kinh tế, xã hội, môi trường cho người dân di dời. Bài báo này đưa ra thực trạng công tác di dân tái định cư ở các dự án Thuỷ điện, thuỷ lợi ở Việt Nam trong thời gian qua và thảo luận một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực. Điều này ngụ ý rằng người dân và cộng đồng bị ảnh hưởng trong ngắn hạn, phải ít nhất là không bị ảnh hưởng tiêu cực về tình trạng sống của họ, và trong trung và dài hạn cần phải có những cơ hội để cải thiện nâng cao đời sống. Đặc biệt chú ý để cải thiện tình trạng của người nghèo và dễ bị tổn thương trong cộng đồng có liên quan. Để đảm bảo người dân tái định cư đến nơi ở mới có điều kiện phát triển bền vững.
Tính toán cầu và giá trị kinh tế của nước tưới.
Số 26 (9/2009) > Trang 55-60 |  PDF (506.00 KB)
Đào Văn Khiêm, Bùi Thị Thu Hòa, Đỗ Thị Ngân
Tóm tắt
Nước tưới đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, tuy nhiên giá trị kinh tế của tưới thấp so với nhiều sử dụng nước khác như nước sinh hoạt đô thị, nước phục vụ phát điện, nước cho công nghiệp, vv…. Do vậy việc tính cầu và giá trị kinh tế của nước tưới rất quan trọng nhằm đề xuất các công cụ quản lý đối với phân bổ tài nguyên nước một cách hiệu quả để đáp ứng các mục tiêu an ninh lương thực. Nội dung của bài viết chúng tôi muốn đề cập đến một số phương pháp ước lượng cầu và giá trị kinh tế của nước tưới tại ba hệ thống thuộc lưu vực sông Hồng – Thái bình như La Khê, Liễn Sơn và Núi Cốc và thực hiện so sánh các kết quả nhằm khẳng định độ chính xác của các phương pháp trên.
Nghiên cứu sự phát sinh nhiễu trong quá trình điều chỉnh công suất bù của thiết bị điều tốc tải giả trong các trạm thủy điện nhỏ bằng phương pháp mô phỏng
Số 26 (9/2009) > Trang 61-65 |  PDF (560.00 KB)
Ngô Thị Thanh Nga, Thái Duy Thức
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu phương pháp mô phỏng bằng Matlab để xác định nhiễu phát sinh khi điều chỉnh Công suất bù tải giả bằng phương pháp điều chỉnh điện áp xoay chiều ở các trạm thủy điện nhỏ và rất nhỏ. Đồng thời phân tích các phương pháp đấu tải giả để hạn chế nhiễu đến mức thấp nhất, đưa ra kết luận về bậc của các loại nhiễu có thể xuất hiện khi điều chỉnh tải giả bằng phương pháp điều chỉnh điện áp xoay chiều.
Lựa chọn tỷ lệ xi măng với đất khi chế tạo cọc xử lý nền đất yếu.
Số 26 (9/2009) > Trang 66-69 |  PDF (302.00 KB)
Thân Văn Văn
Tóm tắt
Xử lý nền đất yếu bằng cọc xi măng-đất đối với nước ta còn mới mẻ. Một trong những chỉ tiêu quan trọng khi thiết kế cọc xi măng-đất là lựa chọn tỷ lệ xi măng với đất. Để lựa chọn tỷ lệ xi măng với đất phù hợp với từng loại đất nền cần phải xử lý, tác giả giới thiệu những ảnh hưởng của tỷ lệ xi măng với đất đến tính chất của hỗn hợp vật liệu, sức chịu tải của cọc đơn, sức chịu tải của nền đất sau khi được gia cố và kinh nghiệm lựa chọn tỷ lệ xi măng với đất đối với các loại đất khác nhau cần phải xử lý để độc giả tham khảo.