Số 25 (6/2009)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2009
 
   
MỤC LỤC
Số 25 (6/2009) > |  PDF (369.00 KB)
MỤC LỤC
Số 25 (6/2009) > |  PDF (369.00 KB)
Tài nguyên nước mùa cạn Nam Trung Bộ (Phú Yên – Bình Thuận) và nguy cơ hạn hán, sa mạc hóa.
Số 25 (6/2009) > Trang 3-8 |  PDF (304.00 KB)
Phạm Quốc Hưng, PGS.TS Lê Đình Thành
Tóm tắt
Tài nguyên nước luôn là yếu tố đặc biệt quan trọng đảm bảo bền vững môi trường và là nền tảng của mọi hoạt động kinh tế, xã hội của bất kỳ khu vực nào. Khu vực Nam Trung Bộ (Phú Yên - Bình Thuận) luôn được coi là khu vực khô hạn nhất nước, và tiềm ẩn nhiều nguy cơ hạn hán, sa mạc hóa. Có nơi lượng mưa cả năm chỉ đạt trung bình hơn 700 mm (Phan Rang), mật độ sông suối thấp, lượng nước mùa cạn rất nhỏ trong thời gian dài. Những năm gần đây do ảnh hưởng của các hiện tượng như Elnino và biến đổi khí hậu nên tài nguyên nước khu vực này lại càng khó khăn cho khai thác sử dụng. Các tác giả bài báo này đã nghiên cứu đánh giá tiềm năng, diễn biến của tài nguyên nước mùa cạn trong khu vực, và một số vấn đề về hạn hán, sa mạc hóa liên quan đến tài nguyên nước. Các giải pháp lâu dài nhằm giảm nhẹ tác hại của thiếu nước, hạn hán, và sa mạc hóa cũng được đề cập trên cơ sở những điều kiện thực tế của các địa phương.
Nghiên cứu một số giải pháp định hướng nhằm hạn chế tình trạng úng ngập cho thượng lưu sông Phan – Cà Lồ, Vĩnh Phúc.
Số 25 (6/2009) > Trang 9-14 |  PDF (464.00 KB)
Nguyễn Thu Hiền
Tóm tắt
Sông Phan là nhánh của sông Cà Lồ với chiều dài khoảng gần 60 km, nằm phía hữu sông Cà Lồ. Hàng năm trong mùa mưa lũ khu vực thượng lưu sông Phan-Cà Lồ, tỉnh Vĩnh Phúc thường xuyên bị úng ngập gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất nông. Bài báo này đã ứng dụng mô hình toán thủy lực MIKE 11 để nghiên cứu một số giải pháp định hướng nhằm hạn chế tình trạng úng ngập cho khu vực này. Bốn phương án đã được đưa ra tính toán. Kết quả tính toán cho thấy phương án kết hợp bơm tiêu úng ra sông Hồng và xây dựng cống tiêu tại cửa sông Cà Lồ là phương án tiêu hiệu quả nhất cho vùng nghiên cứu.
Đánh giá biến động bờ biển khu vực cửa sông Thu Bồn bằng công nghệ viễn thám – GIS.
Số 25 (6/2009) > Trang 15-20 |  PDF (545.00 KB)
Đặng Đình Đoan
Tóm tắt
Trong những năm gần đây, phát triển vùng ven biển là ưu tiên trong chiên lược phát triển kinh tế xã hội của Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng. Một trong những nhân tố tác động tới quá trình phát triển là phát hiện qui luật tự nhiên và tương tác của các yếu tố thủy động lực với đường bờ. Thông qua việc nghiên cứu diễn biến đường bờ biển bằng công nghệ viễn thám, bài báo mong muốn đóng góp những giải pháp nhằm ổn định đường bờ, đặc biệt là cửa sông nhằm phát triển bền vững kinh tế xã hội cho khu vực.
Những khó khăn và giải pháp đổi mới trong công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long.
Số 25 (6/2009) > Trang 21-27 |  PDF (324.00 KB)
Nguyễn Đăng Tính, Võ Thị Phương Oanh
Tóm tắt
Công trình thủy lợi (CTTL) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội ở Đồng Bằng Sông Cửu Long(ĐBSCL). Hệ thống CTTL ở khu vực mang tính đặc thù riêng với kênh rạch chằng chịt, đa số là kênh chìm bằng đất, có liên quan đến nhiều tỉnh, huyện, ít có các công trình điều tiết trên kênh. Công trình lấy và tiêu thoát nước chủ yếu là tự chảy và chịu ảnh hưởng của thủy triều.
Tuy nhiên, công tác quản lý khai thác(QLKT) CTTL ở đây vẫn còn nhiều bất cập và không thống nhất giữa các tỉnh trong vùng do nhiều nguyên nhân. Bài viết này nêu lên những nguyên nhân, những tồn tại trong công tác QLKT CTTL ở ĐBSCL .
Thiết kế, chế tạo các thiết bị điều khiển phân tán cho các đối tượng thủy lợi điển hình.
Số 25 (6/2009) > Trang 28-32 |  PDF (1142.00 KB)
Lê Công Thành
Tóm tắt
Hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu SCADA (Supervisory Control And Data Acquisition) đang thu hút được sự quan tâm của giới chuyên môn. Thiết bị điều khiển phân tán có vai trò quyết định đến quy mô, chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống SCADA. Bài báo đề cập đến nghiên cứu chế tạo các thiết bị điều khiển phân tán trên cơ sở công nghệ PSoC. Các chip PSoC được cấu trúc và lập trình thích hợp để tạo ra các chip điều khiển chứa đựng đầy đủ các luật điều khiển điển hình thủy lợi đồng thời sẵn sàng cho các chức năng truyền thông cần thiết. Các phần cứng và phần mềm tương thích đã được xây dựng để khảo sát các chip điều khiển thủy lợi trên PC và trên mô hình thí nghiệm.
Phương pháp tính toán hạ thấp mực nước ngầm bằng hệ thống giếng.
Số 25 (6/2009) > Trang 33-37 |  PDF (552.00 KB)
Lương Văn Anh
Tóm tắt
Công tác tiêu nước hố móng liên quan đến điều kiện địa chất công trình của khu vực xây dựng, kích thước hố móng, biện pháp đào móng, khả năng ảnh hưởng đến các công trình lân cận vì vậy, nó phụ thuộc vào cả ba khâu: khảo sát, thiết kế và thi công. Giải pháp tiêu nước hố móng bằng cách hút nước từ hệ thống giếng bố trí xung quanh là giải pháp thông dụng, hiệu quả vì có cơ sở lý thuyết thấm chặt chẽ và thuận lợi trong tổ chức thi công. Tuy nhiên, cũng có trường hợp đã không thành công vì một số các nguyên nhân khác nhau. Bằng trường hợp cụ thể của cống Vân Cốc mà tác giả là người đã quan sát từ khi khởi công, tác giả đã sử dụng phần mềm Modflow tính toán lại và kết quả đã phù hợp với thực tế. Thông qua trường hợp này tác giả đã phân tích và đưa ra những nhận định về các nguyên nhân ở trong cả ba khâu khảo sát, thiết kế, thi công có thể làm cho giải pháp tiêu nước hố móng bằng bơm hút từ hệ thống giếng không thành công.
Ứng dụng mô hình phần tử tiếp xúc phân tích ổn định chống trượt đập bê tông trọng lực.
Số 25 (6/2009) > Trang 38-45 |  PDF (571.00 KB)
Vũ Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Hùng
Tóm tắt
Hiện nay khi kiểm tra ổn định chống trượt đập bê tông trọng lực thường sử dụng phương pháp cân bằng giới hạn và phương pháp kết hợp phân tích phần tử hữu hạn với cân bằng giới hạn. Các phương pháp này đã quen thuộc với người tính toán và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm. Lợi dụng đặc tính của phần tử tiếp xúc và tiêu chuẩn phá hoại Drucker - Prager có sẵn trong phần mềm ANSYS, bài báo đề xuất thêm một phương pháp mới đó là sử dụng mô hình tiếp xúc phần tử hữu hạn phân tích ổn định chống trượt đập bê tông trọng lực.
Đề xuất công nghệ cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt trong điều kiện tiết kiệm điện và không có điện để giảm chi phí sản xuất đối với khu vực nông thôn.
Số 25 (6/2009) > Trang 46-49 |  PDF (398.00 KB)
Đỗ Văn Quang
Tóm tắt
Công nghệ bơm dây kết hợp với công nghệ xử lý nước bằng xi phông sẽ khắc phục được những nhược điểm của các công nghệ cấp nước hiện tại như Bơm điện, bơm dầu, bơm pittông cho những khu vực chi phí sử dụng điện cao, điện chất lượng kém, không có điện. Có thể sử dụng bơm dây cho 4 mục đích sử dụng khác nhau mang lại hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội cho khu vực miền núi vùng sâu, vùng xa và khu vực nông thôn. Giảm tối đa chi phí cấp nước so với công nghệ hiện tại.
Tính toán giá trị kinh tế của đất đai tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng
Số 25 (6/2009) > Trang 50-55 |  PDF (291.00 KB)
Đào Văn Khiêm, Bùi Thị Thu Hòa
Tóm tắt
Phù hợp với mục đích của chính sách Tam nông là phát triển kinh tế nông nghiệp và đời sống của nông dân và khu vực nông thôn, các mô hình kinh tế phải phản ánh những khác biệt giữa khu vực nông nghiệp với phần còn lại của nền kinh tế dẫn tới những bất bình đẳng kinh tế giữa các khu vực trên.
Nội dung của bài báo này đề cập tới những khác biệt trong giá trị kinh tế của sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp và sử dụng đất cho khu vực thương mại, chủ yếu là khu vực phát triển nhà ở tại khu vực đô thị (Hà nội) trong thời gian qua. Phương pháp được sử dụng cho tính toán là phương pháp dựa vào Lý thuyết Tô kinh tế, là một trong hai phương pháp hay được sử dụng để xác định giá trị bất động sản. Kết quả tính toán trong bài viết có thể được coi là những xấp xỉ bước đầu trong việc ứng dụng các mô hình kinh tế để tính toán giá trị kinh tế của sử dụng đất đai, tuy nhiên, điều này đặt cơ sở cho việc phát triển các phương pháp khác hoàn chỉnh hơn ví dụ như phương pháp tính giá trị bất động sản dựa vào Lý thuyết Hưởng lạc (Hedonic property value model).
Phát triển tổng hợp bền vững không gian nông thôn – hướng tới một làng quê thuần Việt trong thế kỷ 21.
Số 25 (6/2009) > Trang 56-61 |  PDF (652.00 KB)
Nguyễn Trung Dũng
Tóm tắt
Không gian nông thôn là một phạm trù không gian và đối lập với không gian đô thị. Nó bao gồm các điểm dân cư sinh sống, cùng với các vật kiến trúc riêng công (nhà, sân, vườn, các diện tích công năng), các cơ sở hạ tầng như đường xá, công/khuôn viên, quảng trường, hệ thống cung ứng điện nước, hệ thống tiêu thoát nước thải, rác thải, các điểm phục vụ cho hoạt động công ích (trường học, trạm xá, câu lạc bộ, sân thể thao, …), các điểm mang tính chất tôn giáo (đền, chùa, miếu, nhà thờ, nghĩa trang, …), các điểm phục vụ cho kinh tế - xã hội (chợ, …), diện tích và khoảng không dành cho nghỉ ngơi, giải trí và tĩnh dưỡng cũng như các diện tích đặc chủng khác. Chúng thường được liên kết chặt chẽ về mặt chức năng với các yếu tố môi trường xung quanh như đất, nước, cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan văn hóa … Không gian nông thôn Việt đã hình thành lâu đời và mang bản sắc riêng rất Việt. Cho đến nay bên cạnh các chức năng khác thì chức năng sản xuất nông nghiệp được đề cao hàng đầu và phát triển bằng mọi giá. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, với trình độ người nông dân còn quá thấp, trình độ quản lý của chính quyền địa phương lại quá non kém, hệ thống pháp lý thì yếu và không hoàn thiện, nên không gian nông thôn đang có nguy cơ ngày càng bị “ô nhiễm”. Chúng ta khó có thể phát huy và bảo tồn những gì tinh hoa vốn có của nó. Đã đến lúc nhà nước cần có một chính sách phát triển tổng hợp bền vững không gian nông thôn Việt mà vẫn đảm bảo mọi mục tiêu đề ra về sản xuất, môi trường, cảnh quan và văn hoá để rồi vẫn còn có một làng quê thuần Việt trong thế kỷ 21.
Ứng dụng công nghệ chế biến rác thải thu hoạch lúa thành thức ăn chăn nuôi, phân bón xử lý ô nhiễm môi trường.
Số 25 (6/2009) > Trang 62-64 |  PDF (511.00 KB)
Đỗ Văn Quang
Tóm tắt
Các loại cây trồng nói chung cây lúa nói riêng trong quá trình sinh trưởng và phát triển đã lấy đi của đất nguồn dinh dưỡng rất lớn. Một phần dinh dưỡng đó nằm trong sản phẩm thu hoạch phục vụ con người, phần còn lại (không nhỏ) ở trong phế thải nông nghiệp. Hiện nay những phế thải nông nghiệp này thường được nông dân đố. Biện pháp này đã gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến người và làm mất đi vĩnh viễn nhiều nguyên tố quan trọng. Đất là một nguồn tài nguyên không tái tạo. Trả lại cho đất những gì đã lấy đi của nó là việc làm cần thiết cấp bách của con người.
Làm dược việc này chúng ta sẽ bảo vệ môi trường không bị ô nhiễm bởi khói, hạn chế được việc lạm dụng phân hoá học và thuốc hoá học trên đồng ruộng mà vẫn đảm bảo được năng suất & ngày nâng cao chất lượng nông sản. Dần dần chúng ta sẽ lấy lại được độ phì nhiêu cho đất – làm tăng hàm lượng các chất khoáng – tăng độ tơi xốp của đất – tăng hàm lượng vi sinh vật hữu hiệu trong đất vi sinh vật là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc chuyển hoá phân bón thành thức ăn cho cây trồng) – giảm tối thiểu các loại vi khuẩn có hại các loại mầm mốmg sâu &nấm bệnh gây hại cho cây. đay cũng Là giải pháp quan trọng tạo nên một nền nông nghiệp sạch – an toàn và bền vững
Tầm vóc và ý nghĩa vượt trước thời đại trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường sống.
Số 25 (6/2009) > Trang 65-67 |  PDF (223.00 KB)
Nguyễn Thị Nga
Tóm tắt
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của con người và xã hội. Người cho rằng con người phải hiểu biết tự nhiên, phải biết bảo vệ và gìn giữ môi trường sống; coi đó là chiến lược lâu dài cho sự phát triển bền vững của xã hội trong hiện tại và tương lai. Ngày nay khi con người phải đối mặt với những vấn đề về môi trường, hơn lúc nào hết chúng ta càng thấy rõ những tư tưởng vượt trước thời đại của Hồ Chí Minh về môi trường sống.