Số 24 (3/2009)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2009
 
   
MỤC LỤC
Số 24 (3/2009) > |  PDF (417.00 KB)
Nguyên nhân và các giải pháp chống ngập úng ở TP Hồ Chí Minh
Số 24 (3/2009) > Trang 3-6 |  PDF (329.00 KB)
Đào Xuân Học
Đánh giá biến đổi dòng chảy về Kratie theo các kịch bản phát triển ở thượng lưu.
Số 24 (3/2009) > Trang 7-15 |  PDF (944.00 KB)
Nguyễn Quang Kim, Tô Quang Toản, Tăng Đức Thắng, Nguyễn Đăng Tính
Tóm tắt
Đồng bằng Sông Cửu Long có diện tích tự nhiên khoảng 3,9 triệu ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp vào khoảng 2,4 triệu ha, địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, với cao độ bình quân khoảng 1m so với mực nước biển. Nó được xem là vựa lúa chính của cả nước với sự đóng góp khoảng 40% sản lượng lương thực và 85% sản lượng lúa gạo xuất khẩu. ĐBSCL nằm ở cuối nguồn sông Mê Công, chịu tác động do phát triển ở thượng lưu, đặc biệt các phát triển làm gia tăng nhu cầu nước (nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp…) và làm thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy trên lưu vực (thủy điện, chuyển nước…), điều kiện thủy văn, thủy lực và chất lượng nước về đồng bằng, làm thay đổi diễn biến lũ lụt và xâm nhập mặn ở ĐBSCL, đe dọa an toàn và an ninh lương thực. Nghiên cứu này đánh giá biến đổi dòng chảy về Kratie theo các kịch bản phát triển ở các nước thuộc lưu vực sông Mê Công. Đây được xem như dự báo dòng chảy đến thượng lưu đồng bằng trong tương lai để có giải pháp hợp lý trong quản lí và khai thác nguồn nước thích ứng với các kịch bản phát triển thượng lưu ở ĐBSCL.
Đánh giá thay đổi nhu cầu nướ điều kiện phát triển năm 2000 và theo các kịch bản phát triển ở thượng lưu.
Số 24 (3/2009) > Trang 16-22 |  PDF (758.00 KB)
Nguyễn Quang Kim, Tô Quang Toản, Tăng Đức Thắng, Nguyễn Đăng Tính
Tóm tắt
Đồng bằng Sông Cửu Long có diện tích tự nhiên khoảng 3,9 triệu ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp vào khoảng 2,4 triệu ha, địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, với cao độ bình quân khoảng 1 m+MSL. Nó được xem là vựa lúa chính của cả nước với sự đóng góp khoảng 40% sản lượng lương thực và 85% sản lượng lúa gạo xuất khẩu. Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cuối nguồn sông Mê Công, chịu tác động do phát triển ở thượng lưu, đặc biệt các phát triển làm gia tăng nhu cầu nước (nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp…) làm giảm lưu lượng mùa kiệt xuống hạ lưu cũng như việc gia tăng quá mức các nguồn nước gây ảnh hưởng đến chất lượng nước, đe dọa gia tăng xâm nhập mặn ở ĐBSCL và an toàn - an ninh lương thực. Nghiên cứu này đánh giá sự thay đổi nhu cầu nước ở thượng lưu ở điều kiện phát triển năm 2000 và các điều kiện phát triển dự kiến trong tương lai nhằm đánh giá mức độ thay đổi sử dụng nước ở thượng lưu phục vụ dự báo dòng chảy về thượng lưu đồng bằng trong tương lai để có giải pháp hợp lý trong quản lí và khai thác nguồn nước thích ứng với các kịch bản phát triển thượng lưu ở ĐBSCL.
Khảo sát Amonia và hydrogensulfide trong các mô hình nuôi tôm sú trên các loại đất khác nhau ở tỉnh Cà Mau.
Số 24 (3/2009) > Trang 23-29 |  PDF (470.00 KB)
Cao Phương Nam
Tóm tắt
Nồng độ trung bình ammonia, hydrogensulfide trong nước ở các mô hình nuôi tôm sú trên đất Sj2M, Sp1Mn cao hơn trên đất M và Mn, tăng cao vào các thời điểm tháng 3, tháng 6, tháng 9 của mùa vụ nuôi, tương ứng với thời điểm tôm được 1-2 tháng tuổi. Nồng độ trung bình ammnonia và hydrogensulfide trong bùn đáy cao gấp hàng chục đến hàng trăm lần so với trong lớp nước phía trên của đáy ao nuôi; trên trảng và dưới mương của ao nuôi tôm ở các mô hình QCCT và TL cao hơn và biến thiên lớn hơn so với mô hình TC. Tỷ lệ tôm sống ở các mô hình QCCT, TL đạt nhỏ hơn 20%, trong khi đó ở mô hình TC tỷ lệ tôm sống đạt trên 70%, dẫn đến năng suất tôm nuôi ở các mô hình QCCT, TL đạt thấp hơn rất nhiều so với mô hình TC.
Nghiên cứu ảnh hưởng của dạng mô hình phân phối mưa đến chế độ tiêu nước mặt ruộng lúa.
Số 24 (3/2009) > Trang 30-33 |  PDF (331.00 KB)
Trịnh Kim Sinh
Tóm tắt
Mưa là yếu tố ảnh hưởng lớn đến chế độ tiêu nước mặt ruộng lúa, không chỉ độ lớn lượng mưa, quy luật phân bố mưa, mà đặc biệt là dạng mô hình phân phối mưa có ảnh hưởng đáng kể. Vì vậy bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu xác định dạng mô hình phân bố mưa tiêu thiết kế và ảnh hưởng của nó đến chế độ tiêu nước ruộng lúa cho khu vực tỉnh Hà Nam.
Quy trình vận hành hồ chứa của nhà máy thủy điện EaKrong Rou với dòng chảy đến được mô phỏng bằng phương pháp Monte-carlo
Số 24 (3/2009) > Trang 34-37 |  PDF (366.00 KB)
Lê Hùng
Tóm tắt
Chế độ vận hành hợp lý của nhà máy thủy điện phụ thuộc vào đặc điểm dòng chảy đến, mà dòng chảy đến này lại mang bản chất ngẫu nhiên. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công cụ tính toán thì việc ứng dụng phương pháp mô phỏng Monte-Carlo để kéo dài chuỗi dòng chảy trở nên dễ dàng hơn, khi tính toán điều tiết theo liệt dòng chảy kéo dài đó, sẽ cho kết quả giống như hàm phân phối xác xuất, lúc đó, mặc dù vẫn tính điều tiết theo phương pháp tất định nhưng ta đã tính đến theo hàm phân phối xác suất ban đầu. Với bài báo này, tác giả quan niệm dòng chảy đến là quá trình ngẫu nhiên, sử dụng chương trình Crystall Ball mô phỏng chuỗi dòng chảy và dùng phương pháp qui hoạch động để giải và lập chương trình tính bằng ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng Borland Delphi.
Nghiên cứu ứng dụng mô hình toán hai chiều - 2D đánh giá ảnh hưởng của công trình cầu đến dòng chảy.
Số 24 (3/2009) > Trang 38-43 |  PDF (618.00 KB)
Phạm Thị Hương Lan
Tóm tắt
Việc xây dựng các công trình trên sông, trong đó có cầu giao thông đã ảnh hưởng đến chế độ thủy động lực và diễn biến lòng dẫn. Việc nghiên cứu ứng dụng các mô hình toán hai chiều hiện nay để đánh giá ảnh hưởng của các công trình cầu đến dòng chảy là cần thiết. Báo cáo này xin đề cập đến kết quả nghiên cứu ứng dụng mô hình MIKE21FM và mô hình EFDC đánh giá ảnh hưởng của cầu Thị Nại đến dòng chảy khu vực đầm Thị Nại.
Cân bằng nước trong mô hình phân phối BTOPMC phục vụ quản lý tổng hợp lưu vực sông KONE.
Số 24 (3/2009) > Trang 44+48 |  PDF (474.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng, Nguyễn Thị Thảo Hương, KENGO SUNADA, SATORU OISHI
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này các tác giả đã trình bày kết quả mô phỏng cân bằng nước phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Kone bằng áp dụng mô hình BTOPMC. Kết quả cũng đã chỉ ra rằng mô hình BTOPMC cũng có thể áp dụng cho các lưu vực khác ở Việt Nam bởi tính tiện lợi khi sử dụng và tính hữu ích của kết quả thu được.
Đánh giá mức độ tồn lưu và sự biến đổi của HCH trong đất tại Hà Nội và Bắc Ninh.
Số 24 (3/2009) > Trang 49-55 |  PDF (515.00 KB)
Vũ Đức Toàn
Tóm tắt
Một số đồng phân điển hình của HCH (ỏ, õ, ó và ọ-HCH) được lựa chọn để phân tích trong các mẫu đất tại Hà Nội và Bắc Ninh. Các mẫu được lấy tại khu vực nông nghiệp đồng thời được lấy ngẫu nhiên tại các khu đô thị và công nghiệp nhằm đại diện cho khu vực nghiên cứu. Kết quả thu được cho thấy, nồng độ của HCH tổng nằm trong khoảng từ <0,05 đến 20,57 ng g-1. Nhìn chung, HCH phân bố trong đất tại Hà Nội và Bắc Ninh ở mức thấp (nồng độ trung bình < 12 ng g-1). Tuy nhiên, việc tìm thấy chất nghiên cứu trong phần lớn các mẫu đất (76 mẫu/tổng số 100 mẫu) là rất đáng chú ý. Đánh giá về phần trăm các đồng phân điển hình của HCH chỉ ra ít có nguồn ô nhiễm HCH bổ sung. HCH kỹ thuật là nguồn gây ô nhiễm chủ yếu so với lindan trong quá khứ.
Công tác lắp đặt thiết bị quan trắc ở đập Tân Giang, đập Lòng Sông và một số đề xuất đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa.
Số 24 (3/2009) > Trang 56-64 |  PDF (732.00 KB)
Phạm Ngọc Quý, Đỗ Văn Lượng, Đoàn Văn Hướng
Tóm tắt
Hiện nay chúng ta đang xây dựng nhiều công trình Thủy Lợi, Thủy Điện lớn với công trình đầu mối là đập bê tông trọng lực thuộc loại bê tông khối lớn (bê tông truyền thống hoặc bê tông đầm lăn - RCC). Song song với các nghiên cứu tính toán về kết cấu, ổn định, phân tích ứng suất nhiệt, thiết lập quy trình công nghệ thi công hợp lý đảm bảo chất lượng, tiến độ, hạ giá thành công trình,…, cần phải thiết kế, lắp đặt và sử dụng hệ thống thiết bị quan trắc: chuyển vị đứng, chuyển vị ngang; áp lực nước lỗ rỗng nền đập; nhiệt độ, biến dạng (ứng suât) của nền và thân đập, mực nước thượng lưu,…, trong quá trình thi công và quản lý khai thác công trình.Công việc này đã được thực hiện ở hai đập bê tông đầu tiên của ngành NN & PTNT với những kết quả nhất định, nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế đòi hỏi phải có những giải pháp hữu nghiệm để phát triển bền vững.
Nghiên cứu mặt trượt nguy hiểm nhất khi tính toán ổn định mái dốc
Số 24 (3/2009) > Trang 64-71 |  PDF (436.00 KB)
Nguyễn Cảnh Thái, Lương Thị Thanh Hương
Tóm tắt
Trong thực tế khi mái dốc bị mất ổn định, mặt trượt có thể có nhiều hình dạng khác nhau. Tuy nhiên, khi tính toán phân tích ổn định mái dốc do khó khăn trong việc lựa chọn xác định hình dạng mặt trượt nên thông thường dạng mặt trượt trụ tròn được lựa chọn. Trong phần lớn các trường hợp, mặt trượt trụ tròn cho kết quả phù hợp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hình dạng mặt trượt khác xa so với mặt trượt trụ tròn, dẫn đến kết quả tính toán theo mặt trượt trụ tròn có sai số lớn. Trong bài báo các tác giả đã tiến hành đánh giá hệ số an toàn ổn định của một số hình dạng mặt cắt đập theo phương pháp mặt trượt tròn truyền thống và hệ số an toàn ổn định nhỏ nhất thông qua xác định mặt trượt tối ưu. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi đập có tầng phản áp, sai số giữa các phương pháp tính toán có thể đến 20-30%. Trong trường hợp này cần phải sử dụng phương pháp tính toán ổn định xét tới mặt trượt nguy hiểm nhất để đảm bảo an toàn.
Kết quả bước đầu về nghiên cứu bố trí hợp lý bấc thấm khi xử lý nền đất yếu bằng phương pháp cố kết chân không.
Số 24 (3/2009) > Trang 72-79 |  PDF (881.00 KB)
Nguyễn Chiến, Phạm Quang Đông
Tóm tắt
Khi xây dựng công trình trên nền đất yếu, vấn đề luôn được quan tâm là cải tạo nền đất yếu để làm giảm độ lún của nền, tăng khả năng chịu tải và làm giảm tính thấm của nền trong thời gian ngắn nhất, kinh tế nhất. Phương pháp cố kết chân không ra đời từ các nước tiên tiến, bước đầu áp dụng tại Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu trên. Theo phương pháp này, một trong các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của phương pháp là khoảng cách giữa các bấc thấm. Trong bài này giới thiệu kết quả bước đầu về nghiên cứu chọn khoảng cách bấc thấm hợp lý cho phương pháp nêu trên.
Xây dựng công nghệ phân tích ổn định đập bê tông trọng lực theo tiêu chuẩn hiệp hội kỹ sư quân đội Mỹ
Số 24 (3/2009) > Trang 80-84 |  PDF (674.00 KB)
Nguyễn Quang Hùng, Hoàng Minh Tú
Tóm tắt
Ổn định đập bê tông trọng lực là một nội dung quan trọng trong công tác thiết kế đập bê tông trọng lực. Bài báo này xây dựng công nghệ phân tích ổn định đập bê tông trọng lực theo tiêu chuẩn hiệp hội kỹ sư quan đội Mỹ . Thông qua đó có những hiểu biết rõ hơn về việc tính toán ổn định đập bê tông trọng lực theo quan điểm của hệ thống tiêu chuẩn Mỹ. Công nghệ phân tích này sẽ là công cụ hữu hiệu khi tiến hành nghiên cứu phân tích ổn định đập bê tông theo các hệ thống tiêu chuẩn khác nhau
Hệ số lưu lượng dòng chảy qua đập tràn xiên góc.
Số 24 (3/2009) > Trang 85-92 |  PDF (630.00 KB)
Nguyễn Bá Tuyên, W.S.J.UIJTTEWAAL
Tóm tắt
Từ lâu, đập tràn xiên góc đã được ứng dụng trong một số công trình trên sông, công trình kiểm soát dòng chảy như đập chéo, đập răng cưa... với tác dụng hạ thấp đầu nước và tăng khả năng thoát lưu lượng của đập. Bên cạnh đó, hiện nay có một số vấn đề liên quan tới sự an toàn đê sông ở Việt nam cũng như các đê địa phương khác và các công trình xây dựng trong vùng ngập lũ, mà phần lớn có thể liên hệ tới dòng chảy qua các đập tràn xiên góc do sự bố trí ngẫu nhiên của các công trình và hướng dòng chảy lũ thay đổi liên tục theo từng khu vực. Đây là một chủ đề nghiên cứu có ứng dụng to lớn trong thực tế, tuy nhiên cho tới nay còn ít được chú ý nghiên cứu và chưa có nhiều công trình được công bố. Với một số lượng lớn các thí nghiệm chi tiết và sự hỗ trợ của các thiết bị đo đạc và phần mềm phân tích số liệu hiện đại, các kết quả quan trọng về sự tổn thất năng lượng, hệ số lưu lượng của dòng chảy và một số hiện tượng có liên quan khác đã được thu thập và sẽ trình bày trong bài báo này.
12