Số 22 (9/2008)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9/2008
 
   
MỤC LỤC
Số 22 (9/2008) > |  PDF (458.00 KB)
Khảo sát diễn biến H2S ở lớp nươc đáy, bùn đáy trong các mô hình nuôi tôm sú trên đất phèn họat động ở Cà Mau
Số 22 (9/2008) > trang 3-11 |  PDF (343.00 KB)
Cao Phương Nam
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu các kết quả nghiên cứu ban đầu về nồng độ hydrogensulfide trên các mô hình nuôi tôm sú: tôm lúa(TL), nuôi quảng canh cải tiến (QCCT) diện tích 2 ha và mô hình nuôi công nghiệp (CN) 500m2 trên đất phèn hoạt động tại ba hộ nuôi tôm ở ấp Hồ Thị Kỷ xã Hồ Thị Kỷ, và ấp 11 xã Thới Bình, huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau. Việc lấy mẫu được thực hiện ở một số vị trí, mỗi vị trí lấy mẫu tại hai điểm: nước trong bùn đáy, lớp nước sát từ tháng 08/2007 đến tháng 12/2007 của mỗi mô hình. Qua 5 đợt khảo sát, kết qủa nghiên cứu cho thấy: nồng độ hydrogensulfide ở nhiều điểm vượt ngưỡng gây sốc (0,1 ppm) và gây chết cho tôm nuôi (4 ppm). Nồng độ trung bình của hydrogensulfide ở cả ba mô hình cao nhất vào tháng 9, tháng 10 và có chiều hướng giảm dần vào tháng 11, tháng 12. Tại các thời điểm có nồng độ H2S cao đều liên quan đến hiện tượng tảo tàn, sự thay thế của các loài tảo trong mô hình. Nồng độ H2S trung bình cao trong bùn đáy và lớp nước sát đáy của mô hình CN, QCCT, TL tuần tự là: CN (0,421 ppm – 4,88 ppm) và (0,320 ppm - 2,52 ppm); QCCT(0,179 ppm – 42 ppm) và ( 0,00 ppm – 3,73 ppm); TL( 0,674 ppm – 98,5 ppm) và ( 0,00 ppm – 2,04 ppm). Nồng độ trung bình hydrogensulfide trong bùn đáy cao gấp hàng chục lần so với trong lớp nước sát đáy ở các mô hình QCCT và TL. Sự hiện diện của nồng độ H2S cao trong bùn đáy và lớp nước sát đáy chứng tỏ đáy ao bị ô nhiễm và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cho tôm nuôi, có thể là nguyên nhân làm giảm năng suất tôm nuôi. Năng suất vụ tôm thu họach của các mô hình CN, QCCT và TL thấp hơn so với trên đất phù sa, tương ứng là: 1,5 tấn/ha/vụ, 69 kg/ha/vụ và 88 kg/ha/vụ, trong khi đó trên đất phù sa là: 2-3 tấn/ha/vụ, 260 kg/ha/vụ và 250 – 300 kg/ha/vụ. Để góp phần nuôi tôm sú có hiệu qủa trên đất phèn hoạt động, cần quan tâm áp dụng các biện pháp cải thiện môi trường bùn đáy: bón vôi định kỳ, hạn chế lượng chất hữu cơ dư thừa, tăng cường oxy hòa tan vào đáy ao… nhằm giảm đến mức tối đa nồng độ khí độc H2S trong các mô hình nuôi tôm sú
Đánh giá sơ bộ sự ô nhiễm và xu hướng biến đổi của DDT trong đất tại Hà Nội
Số 22 (9/2008) > trang 12-17 |  PDF (433.00 KB)
Vũ Đức Toàn
Tóm tắt
Một số chất hữu cơ ô nhiễm khó phân huỷ (DDT, DDE, DDD) được lựa chọn để phân tích trong các mẫu đất tại Hà Nội. Địa điểm lấy mẫu được lấy ngẫu nhiên và đại diện cho khu vực nghiên cứu. Kết quả thu được cho thấy, nồng độ của DDT tổng nằm trong khoảng từ nhỏ hơn giới hạn phát hiện (ND) đến 171,83 ng/g khối lượng khô. Phân tích về thành phần phần trăm của DDT và các sản phẩm biến đổi của DDT cho thấy, ít có nguồn ô nhiễm bổ sung vào đất trong thời gian gần đây. Nồng độ DDT tổng có xu hướng giảm trong thời gian từ năm 1992 đến năm 2006.
Từ khoá: Ô nhiễm, DDT, đất, xu hướng
Đánh giá mức độ tồn lưu và xu hướng biến đổi của PCB trong đất tại Bắc Ninh
Số 22 (9/2008) > Trang 18-24 |  PDF (550.00 KB)
Vũ Đức Toàn
Tóm tắt
Một số đồng phân PCB điển hình và PCB tổng đã được lựa chọn để phân tích trong đất bề mặt tại tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Bốn mươi mẫu đất được lấy tại trung tâm thành phố Bắc Ninh và ba huyện xung quanh (Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong). Nồng độ của PCB được xác định bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ. Kết quả phân tích cho thấy có sự tồn lưu của PCB ở phạm vi rộng tại Bắc Ninh. Tại khu vực có hoạt động công nghiệp và đô thị, nồng độ PCB tổng nằm trong khoảng từ <0,02 đến 32,68 ng/g (nồng độ trung bình 20,17 ± 11,09 ng/g), trong khi tại khu vực có hoạt động nông nghiệp, nồng độ PCB tổng nằm trong khoảng <0,02 đến 13,26 ng/g (nồng độ trung bình 7,27 ± 2,69 ng/g). Phần trăm trung bình của PCB 28, PCB 52, PCB 101, PCB 138, PCB 153, PCB 180 so với tổng 6PCB trong mẫu đất lần lượt là 3,1%, 13,9%, 21,7%, 30,7%, 25,8%, 4,8%. Kết quả này chỉ ra sự xâm nhập của PCB vào đất đã diễn ra trong thời gian dài. Tồn dư của PCB trong đất có xu hướng giảm.
Đánh giá hiện trạng môi trường nước và kiến nghị giải pháp bảo vệ môi trường nước thành phố Vĩnh Yên.
Số 22 (9/2008) > Trang 25-32 |  PDF (325.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng
Tóm tắt
Thành phố Vĩnh Yên có tổng diện tích 50,802 km2 với mật độ sông suối đạt xấp xỉ 0,9km/km2. Toàn thành phố có khoảng trên 450 ha mặt nước, trong đó chỉ riêng Đầm Vạc đã chiếm tới 250ha, xấp xỉ 5% diện tích toàn thành phố. Do quá trình đô thị hóa, mở rộng hệ thống giao thông, xây dựng trụ sở của các cơ quan, cơi nới xây dựng nhà dân… diện tích mặt nước trong thành phố Vĩnh Yên đang bị thu hẹp dần. Cùng với đó do chịu ảnh hưởng của việc xả thải không được quản lý và giám sát nghiêm ngặt đã dẫn tới tình trạng chất lượng môi trường nước đã có xu thế suy giảm.
Nghiên cứu đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các làng nghề sản xuất mây tre đan tỉnh Hà Tây.
Số 22 (9/2008) > Trang 33-40 |  PDF (266.00 KB)
Vũ Hoàng Hoa, Phan Văn Yên
Tóm tắt
Các làng nghề mây tre đan ở các tỉnh phía Bắc nói chung và tỉnh Hà Tây nói riêng đang ngày càng phát triển mạnh. Sự phát triển này đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho khu vực nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo và phù hợp với công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn của Đảng và Chính phủ. Tuy nhiên vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề mây tre đan đang là một thách thức lớn cho sự phát triển bền vững của ngành nghề nhiều tiềm năng này. Bài báo phân tích thực trạng môi trường một số làng nghề mây tre đan điển hình của tỉnh Hà Tây, qua đó bước đầu đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động môi trường tại các làng nghề, góp phần xây dựng các làng nghề mây tre đan trở thành các làng nghề kinh tế-văn hóa truyền thống.
Ứng dụng mạng Nơ – ron nhân tạo để dự báo mưa và dòng chảy làm cơ sở cho công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai hạn hán trên một số lưu vực sông thuộc vùng Tây Nguyên VN.
Số 22 (9/2008) > Trang 41-48 |  PDF (598.00 KB)
Nguyễn Đăng Tính
Tóm tắt
Variations of monthly rainfall and river discharge over the Vietnamese central highlands (VCH) have a strong impact on water use for both livelihoods and agricultural production in the region. Improvement of the rainfall/discharge forecast over the VCH would contribute significantly to water resources planning and management in terms of, e.g., improved reservoir operation, agricultural practice and mitigation of drought effects.
Artificial neural network is employed to estimate monthly rainfall and discharge in three river basins within the VCH. The results reveal how the rainfall in different parts of the VCH is influenced by the Pacific Ocean sea surface temperature and local climatic patterns. The quality of the forecast results varies spatially and results improve southward for rainfall. For discharge, the quality of the forecasts varies among the sites and depends on the location and the characteristics of the catchment. The best results are obtained from the artificial neural network models at sites where the rainfall is coherently influenced by the large-scale circulations, i.e., impacted by El Niño Southern Oscillation (ENSO) as reflected in the sea surface temperature (SST) variations, and where the rainfall contributes more directly to the discharge due to the characteristics of the catchments. The highest correlation coefficient between observed and validated time series is found at stations in the south of the VCH with values up to 0.82 for precipitation and 0.88 for discharge.
Phân tích về đánh thuế tài nguyên thiên nhiên
Số 22 (9/2008) > Trang 49-54 |  PDF (357.00 KB)
Đào Văn Khiêm, Bùi Thị Thu Hòa
Tóm tắt
Đánh thuế Tài nguyên Thiên nhiên, cũng như các loại đánh thuế khác, là một biện pháp can thiệp kinh tế của chính phủ nhằm tăng doanh thu cho Nhà nước và cải thiện công bằng xã hội. Đó là một biện pháp đặc biệt có nhiều ý nghĩa trong điều kiện kinh tế hiện nay của nước ta _ một quốc gia có một nền kinh tế đang phát triển gặp nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội. Các tác giả đã phân tích khái nhiệm tô kinh tế trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên và trên cơ sở đó phân tích lợi thế của đánh thuế tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng những mục đích nói trên, cũng như phân tích hoạt động của hệ thống thuế hiện nay chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn hợp lý riêng cho các ngành công nghiệp sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Trên cơ sở đó, nội dung bài báo đề xuất những hàm ý cần thiết nhằm thiết kế và cải thiện hệ thống thuế đánh vào tô kinh tế trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo đảm hiệu quả phân bổ tài nguyên thiên nhiên và cải thiện các mục tiêu công bằng xã hội.
Thực trạng tiêu thoát nước thải đô thị và nhận thức của người dân: Một thách thức lớn đối với các dự án nước thải đô thị ở Việt Nam
Số 22 (9/2008) > Trang 55-61 |  PDF (446.00 KB)
Ng. Trung Dũng, Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Mục tiêu của định hướng phát triển hệ thống thoát nước đô thị Việt Nam đến năm 2020: Từng bước xoá bỏ tình trạng ngập úng thường xuyên vào mùa mưa tại các đô thị; Mỗi đô thị sẽ có hệ thống thoát nước với công nghệ xử lý phù hợp đảm bảo vệ sinh môi trường; Mở rộng phạm vi phục vụ các hệ thống thoát nước đô thị từ 50-60% lên 80-90%, riêng đối với Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các đô thị loại II, các đô thị nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp và khu chế xuất thì phạm vi thoát nước sẽ được tăng lên 90-100% [1]. Trong bài này có sử dụng các số liệu điều tra cụ thể về thực trạng của hệ thống thu gom và tiêu thoát nước thải của thành phố Bắc Ninh cũng như nhận thức của người dân để từ đó thấy được những khó khăn mà các dự án nước thải đô thị ở Việt Nam sẽ phải đối mặt.
Một số vấn đề ứng dụng cốt địa kỹ thuật khi thiết kế mái dốc đứng.
Số 22 (9/2008) > Trang 71-78 |  PDF (911.00 KB)
Nguyễn Mai Chi.
Tóm tắt
Khi thiết kế mái đất cho các công trình, mái đất càng dốc thì càng kinh tế nhưng có một vấn đề đặt ra là sự ổn định mái dốc. Để đảm bảo sự an toàn cần thiết cho mái, một trong những giải pháp được áp dụng là dùng cốt địa kỹ thuật (Vải địa kỹ thuật, lưới địa kỹ thuật) làm hệ thống cốt trong đất để tăng góc mái dốc hoặc tăng ổn định mái chịu tải trọng. Bài báo tổng hợp các giải pháp kết cấu khi sử dụng cốt địa kỹ thuật với các lợi ích về kinh tế, kỹ thuật và môi trường. Đồng thời giới thiệu với bạn đọc phần mềm ReSlope(4.0) là phần mềm chuyên dụng của công ty ADAMA-Engineering-Hoa Kỳ dùng tính toán kết cấu mái dốc có sử dụng cốt địa kỹ thuật.
Vai trò của phụ gia khoáng trong bê tông đầm lăn và các kinh nghiệm rút ra từ việc sử dụng PGK cho BTĐL đập Định Bình – Bình Định.
Số 22 (9/2008) > Trang 79-86 |  PDF (418.00 KB)
Nguyễn Thị Thu Hương
Tóm tắt
Phụ gia khoáng là thành phần bắt buộc phải có trong bê tông đầm lăn, là thành phần có vai trò quan trọng trong việc cải thiện các tính chất của bê tông và thỏa mãn các yêu cầu cần thiết trong qui trình thi công bê tông đầm lăn. Trong bài giới thiệu vai trò của PGK trong thành phần BTĐL, các loại phụ gia khoáng có thể sử dụng cho BTĐL và điều kiện khai thác ở Việt Nam. Từ kinh nghiệm thực tế qua việc sử dụng PGK cho BTĐL đập Định Bình – Bình Định, bài báo đưa ra các kết luận và kiến nghị cho những công trình thi công theo công nghệ BTĐL sau này.
Ảnh hưởng của độ hút dính đến cường độ kháng cắt và hệ số thấm của đất không bão hoà
Số 22 (9/2008) > Trang 87-92 |  PDF (457.00 KB)
Trịnh Minh Thụ
Tóm tắt
Trên thực tế có nhiều bài toán địa kỹ thuật liên quan tới môi trường đất không bão hoà như đất tàn tích, đất trương nở, đất nén sập và đất đầm nén…. Đường cong đặc trưng đất nước (SWCC) là thông số trung tâm của cơ học đất cho đất không bão hoà. Nó khống chế các đặc tính của đất không bão hoà như hệ số thấm, cường độ kháng cắt và biến thiên thể tích của đất. Đây là đường cong biểu diễn quan hệ giữa độ ẩm và độ hút dính của đất. Đường cong đặc trưng đất nước có thể xác định trực tiếp từ các thí nghiệm trong phòng, ngoài trời hoặc xác định gián tiếp từ các mô hình toán học thông qua thông số cơ bản của đất. Một vài phương pháp xác định SWCC chính sẽ được mô tả trong bài báo này. Từ đường cong đặc trưng đất nước có thể dùng để dự đoán hàm thấm và cường độ kháng cắt sẽ được trình bày trong nghiên cứu này. Đường cong đặc trưng đất - nước và hàm thấm là các thông số cần thiết đối với phân tích bài toán nước mưa thấm vào trong mái dốc. Kết quả phân tích thấm có thể chuyển trực tiếp để phân tích ổn định mái dốc trong quá trình mưa, đường bão hoà thay đổi…. Bài báo này đồng thời tính toán hàm thấm và hàm cường độ kháng cắt từ đường cong đặc trưng đất - nước cho đất đắp đập hồ chứa nước Sông Sắt tỉnh Bình Thuận
SingaporeNghiên cứu các đặc trưng về trạng thái tới hạn của đất không bão hoà
Số 22 (9/2008) > Trang 93-98 |  PDF (597.00 KB)
Trịnh Minh Thụ
Tóm tắt
Nghiên cứu này đã tiến hành thí nghiệm tập hợp mẫu đất sét pha đầm nén trên máy nén 3 trục với độ ẩm không đổi (thí nghiệm CW). Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy đường trạng thái tới hạn trên mặt phẳng (q - p) song song với nhau và có độ dốc là 1,28 tại các độ hút dính khác nhau, điều đó chứng tỏ sự đồng nhất về quan hệ giữa ứng suất lệch và ứng suất trung bình. Kết quả thí nghiệm đồng thời cho thấy sự đồng nhất về quan hệ giữa thể tích riêng v và ứng suất trung bình q trên mặt phẳng (v-p) từ thí nghiệm cắt CW. Độ dốc của đường trạng thái tới hạn trên mặt phẳng (v - p) giảm khi độ hút dính tăng từ thí nghiệm CW.
Dự đoán Môđun đàn hồi của bê tông cường độ cao, tính năng cao có chứa phụ gia giảm co ngót.
Số 22 (9/2008) > Trang 99-103 |  PDF (358.00 KB)
Nguyễn Quang Phú
Tóm tắt
Gần đây sự dự đoán đặc tính cơ học của bê tông dựa vào các tính chất của nó rất được quan tâm. Trong các nghiên cứu gần đây, mọi sự cố gắng đều đưa ra các công thức thực nghiệm dự đoán mô đun đàn hồi của bê tông cường độ cao, tính năng cao dựa trên một số đặc điểm đã biết của hỗn hợp bê tông (hàm lượng phụ gia khoáng, cốt liệu, tỷ lệ nước/chất kết dính….). Để dự đoán mô đun đàn hồi của bê tông cường độ cao, tính năng cao dựa vào cường độ nén của bê tông và nghiên cứu ảnh hưởng của phụ gia giảm co ngót đến mô đun đàn hồi thì hai tỷ lệ nước/chất kết dính (W/CM = 0.22 và 0.40) và bốn tỷ lệ phụ gia giảm co ngót (0%, 1%, 2% và 4%) được lựa chọn cho thí nghiệm. Các mẫu thí nghiệm được đúc, bảo dưỡng và kiểm tra sau 7 và 28 ngày để xác định mô đun đàn hồi và cường độ nén. Độ tin cậy của công thức dự đoán đó được kiểm tra với các số liệu thí nghiệm độc lập và so sánh với các công thức dự đoán đã có
Thiết kế thành phần bê tông cường độ cao, tính năng cao có khả năng giảm co ngót.
Số 22 (9/2008) > Trang 104-109 |  PDF (337.00 KB)
Nguyễn Quang Phú
Tóm tắt
Bê tông cường độ cao, tính năng cao luôn luôn được sản xuất với tỷ lệ nước/chất kết dính (W/B) trong khoảng 0.2 đến 0.4; khi mà cốt liệu thông thường được sử dụng. Để đảm bảo tỷ lệ W/B thấp và duy trì tốt tính công tác của bê tông thì cần thiết phải dùng phụ gia giảm nước (HRWR). Khi đó thường không thể sản xuất bê tông có cường độ nén trên 80 MPa; để tăng tính năng và cường độ của bê tông thì các phụ gia khoáng như Silica Fume, Fly Ash, Slag được sử dụng là cần thiết. Tuy nhiên khi bê tông có tỷ lệ nước/chất kết dính (W/B) thấp thì không tránh khỏi co ngót do sự thay đổi thể tích gây nên bởi hiện tượng co khô, tự co, phản ứng hóa học và sự thay đổi của nhiệt độ. Vì vậy bài viết này thiết kế một số cấp phối bê tông cường độ cao, tính năng cao có sử dụng phụ gia giảm co ngót (SRA) với mục đích giảm co ngót cho bê tông.
12