Số 21 (6/2008)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2008
 
   
MỤC LỤC
Số 21 (6/2008) > |  PDF (418.00 KB)
Vai trò của rừng ngập mặn trong việc bảo vệ đê biển và các vùng ven biển Việt Nam
Số 21 (6/2008) > trang 3-7 |  PDF (326.00 KB)
Hồ Việt Hùng
Tóm tắt
Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đê biển và cải tạo môi trường sinh thái. Vì vậy, bài báo này trình bày tóm tắt phân bố rừng ngập mặn Việt Nam và vai trò của nó trong việc bảo vệ các vùng ven biển, phân tích những nguyên nhân làm suy thoái rừng ngập mặn và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng ngập mặn nước ta
Nghiên cứu khả năng phòng lũ của hệ thống hồ chứa đối với hạ lưu sông Cả tỉnh Nghệ An
Số 21 (6/2008) > trang 8-15 |  PDF (1091.00 KB)
Hồ Việt Hùng, Lê Thu Hiền
Tóm tắt
Đối với các tỉnh miền Trung, trong đó có Nghệ An, phòng chống lũ là một trong các nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân. Để đạt được mục tiêu đó, giải pháp tích cực và hiệu quả là xây dựng hồ chứa lợi dụng tổng hợp nguồn nước. Trên sông Cả có nhiều vị trí thuận lợi cho việc xây dựng hồ chứa. Vì vậy, trong bài báo này các tác giả trình bày nội dung và kết quả tính toán điều tiết lũ qua hồ chứa, tính toán thuỷ lực hệ thống sông Cả, đó là cơ sở để đánh giá khả năng phòng chống lũ của các hồ chứa đối với hạ lưu sông Cả
Thành lập bản đồ nguy cơ sạt lở đất trên các tuyến quốc lộ ở huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang ứng dụng viễn thám và hệ thống thông tin địa lý.
Số 21 (6/2008) > trang 16-21 |  PDF (1050.00 KB)
Lại Tuấn Anh
Tóm tắt
Xín Mần là huyện vùng cao nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hà Giang, ở đây hiện tượng trượt lở đất diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, các thông tin về trượt lở đất lại rất hạn chế do vậy việc xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện tượng này sử dụng công nghệ GIS là rất cần thiết. Mối quan hệ định lượng giữa trượt lở đất và các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trượt lở được xây dựng dựa vào mô hình Certainty Factor(CF), trong đó các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp ở đây bao gồm độ cao, độ dốc, thảm phủ, địa chất, đường giao thông, đứt gãy, địa hình mật độ sông suối. Bằng cách tích hợp các giá trị CF tìm được với bản đồ phân bố trượt lở đất chúng ta sẽ lựa chọn được nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình trượt lở đất. Đồng thời sử dụng công nghệ viễn thám và GIS để phân tích sự xuất hiện của tai biến này trên tất cả các lớp. Các lớp thông tin sau khi số hoá được chuyển sang dạng rastor để phân tích. Các pixel được tính toán bằng mô hình CF và kết quả thu được là các giá trị CF cho tất cả các lớp trong các lớp bản đồ. Dựa vào các giá trị CF này, chúng tôi phân tích và chia thành các thang đánh giá mức độ nguy hiểm và áp dụng để thành lập bản đồ các vùng xảy ra trượt lở đất
Hiện tượng tách dòng trong nước nhảy đáy không ngập
Số 21 (6/2008) > trang 22-25 |  PDF (287.00 KB)
Hoàng Tư An, Lê Thị Thu Hiền
Tóm tắt
Nước nhảy đáy là hiện tượng thường gặp trong thực tế của các công trình thủy lợi. Hiện tượng về nước nhảy là một trong những vấn đề cơ bản của thủy động lực học mà các nhà thủy lực vẫn còn tiếp tục nghiên cứu
Khảo sát phương pháp xác lập hệ tọa độ cho các mạng lưới thi công công trình thủy điện
Số 21 (6/2008) > trang 26-30 |  PDF (347.00 KB)
Trần Khánh, Bùi Thị Kiên Trinh
Tóm tắt
Bài báo khảo sát một số phương pháp tính chuyển tọa độ mạng lưới thi công thủy điện về hệ tọa độ công trình và đề xuất quy trình cũng như hệ thống công thức tính toán phù hợp, có khả năng ứng dụng vào thực tế sản xuất
Khảo sát ảnh hưởng của đồ hình đến độ chính xác vị trí điểm trong xây dựng lưới GPS cạnh ngắn
Số 21 (6/2008) > trang 31-35 |  PDF (418.00 KB)
Bùi Kiên Trinh, Đoàn Văn Chinh
Tóm tắt
Hiện nay việc đo đạc lưới khống chế trắc địa đã và đang sử dụng công nghệ GPS ngày một nhiều do tính ưu việt về độ chính xác và khả năng ứng dụng. Theo quy phạm, quá trình thành lập lưới bằng GPS đòi hỏi phải thiết kế đồ hình lưới rất chặt chẽ, điều này phần nào hạn chế ưu điểm của công nghệ này. Bài báo chứng minh sự ảnh hưởng của đồ hình lưới đến kết quả định vị điểm khi xây dựng lưới GPS cạnh ngắn là không đáng kể.
Nghiên cứu xác định giới hạn phạm vi nền chịu ảnh hưởng của tải trọng truyền từ đập vòm
Số 21 (6/2008) > trang 36-43 |  PDF (653.00 KB)
Hồ Sỹ Tâm, Nguyễn Hoàng Long
Tóm tắt
Bài báo đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ cứng của nền, các tải trọng, kích thước đập và hình dạng mặt cắt ngang tới phân bố ứng suất và biến dạng của đập và nền. Từ kết quả tính toán cho nhiều dạng đập vòm, các kích thước khác nhau, nền đập có độ cứng khác nhau các tác giả đã đề xuất phạm vi nền cần phải xét đến trong tính toán ứng suất biến dạng đập vòm
Quan trắc và mô phỏng sự thay đổi hình thái học cửa sông trong thời đoạn ngắn
Số 21 (6/2008) > trang 44-49 |  PDF (532.00 KB)
Nguyễn Trung Việt, Nguyễn Chiến, Nguyễn Phương Mậu, Hitoshi Tanaka
Tóm tắt
Diễn biến hình thái cửa sông vừa và nhỏ thường xảy ra nhanh và thường xuyên hơn so với các sông lớn. Sở dĩ có điều này là do sự thay đổi rõ rệt của lưu lượng nước từ thượng lưu và lưu lượng triều từ phía biển giữa các sông lớn và nhỏ, mặc dù các lực sóng tương ứng phần nào khá tương tự. Việc quản lý cửa sông loại vừa và nhỏ luôn đòi hỏi công tác quan trắc với tần suất thường xuyên hơn. Tuy nhiên, hệ thống quan trắc kiểu như vậy chưa được thiết lập. Trong bài nghiên cứu này, một phương pháp quan trắc được đề xuất cho việc nghiên cứu sự thay đổi địa hình tại các cửa sông loại vừa và nhỏ bằng việc sử dụng hệ thống chụp ảnh kỹ thuật số tự động tại vùng cửa sông. Thông qua chỉ số đọc được về vị trí của doi cát bên bờ trái, bờ phải mà suy ra chiều rộng của cửa sông. Từ các giá trị đo đạc, đã xác định được các thông số cho mô hình tính toán biến đổi chiều rộng của cửa sông
Chủ nhiệm thiết kế với công tác khảo sát địa chất công trình
Số 21 (6/2008) > trang 50-54 |  PDF (351.00 KB)
Phạm Hữu Sy
Tóm tắt
Một công trình xây dựng phải trải qua các giai đoạn: khảo sát địa chất công trình, thiết kế, thi công, quản lý vận hành công trình. Để công trình xây dựng được an toàn, kinh tế phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các khâu đó. Bài báo đề cập đến sự cần thiết tham gia phối hợp của chủ nhiệm thiết kế vào các khâu lập phương án kỹ thuật khảo sát địa chất công trình, xét duyệt phương án kỹ thuật khảo sát, đánh giá và nghiệm thu báo cáo khảo sát
Nghiên cứu kết quả thí nghiệm cắt cố kết thoát nước và cắt với độ ẩm không đổi
Số 21 (6/2008) > trang 55-62 |  PDF (694.00 KB)
Trịnh Minh Thụ
Tóm tắt
Cường độ chống cắt của đất không bão hoà thường được xác định từ các thí nghiệm cắt cố kết thoát nước (thí nghiệm CD) hoặc thí nghiệm cắt với độ ẩm không đổi (thí nghiệm CW). Bài báo này trình bày sự so sánh về cường độ chống cắt từ thí nghiệm cắt CD và thí nghiệm cắt CW trên các mẫu đất sét pha đầm nén. Kết quả thí nghiệm cho thấy góc ma sát trong hiệu quả, , và lực dính hiệu quả, , từ thí nghiệm cắt CD và thí nghiệm cắt CW là giống nhau. Góc biểu thị tốc độ tăng về độ bền chống cắt, , khi độ hút dính tăng lên từ kết quả thí nghiệm cắt CD và thí nghiệm cắt CW là bằng nhau khi độ hút dính nhỏ hơn giá trị khí vào. Điều này có thể giải thích rằng khi độ hút dính nhỏ hơn giá trị khí vào thì mẫu đất tồn tại ở trạng thái bão hoà ở cả thí nghiệm cắt CW và CD. Tương tự, góc có giá trị bằng nhau từ cả 2 dạng sơ đồ thí nghiệm cắt khi độ hút dính lớn hơn độ hút dính tàn dư (tức là đất ở trạng thái khô). Tuy nhiên góc, , từ thí nghiệm cắt CD và CW là khác nhau khi độ hút dính nằm trong khoảng từ giá trị khí vào và độ hút dính tàn dư. Sự khác nhau này là do đường bao độ bền chống cắt từ thí nghiệm cắt CW thấp hơn trường hợp thí nghiệm cắt CD. Nguyên nhân sự khác nhau là do hiện tượng trễ trong đường cong đặc trưng đất - nước và sẽ được giải thích chi tiết trong bài báo này.
Kết quả nghiên cứu về tính toán ứng suất nhiệt trong thi công bê tông đầm lăn công trình đập dâng hồ Nước trong bằng phần mềm CESAR-LCPC
Số 21 (6/2008) > trang 63-67 |  PDF (533.00 KB)
Lê Xuân Roanh, Võ Văn Lung
Tóm tắt
Công nghệ thi công đập bê tông đầm lăn RCC đã được sử dông rất nhiều trên thế giới vì những ưu điểm nổi bật của nó như tốc độ thi công nhanh, giá thành rẻ và tận lượng điều kiện vật liệu địa phương vào thân đập. Ở Việt Nam, công nghệ xây dựng loại đập này đang được áp dụng ở khu vực phía bắc và miền trung như: Đập Pleikrông, đập Định Bình, đập Bản Vẽ, Đập thủy điện Sơn La… Chất lượng của công trình sử dụng công nghệ này phụ thuộc nhiều vào phương pháp thiết kế và thi công. Trong bài viết này tác giả giới thiệu phương pháp phân chia chiều cao lớp đổ và nhiệt độ khối đổ để khống chế không sinh ra kẽ nứt vì nhiệt
Vấn đề nghiên cứu lựa chọn mô hình toán tính toán bồi lắng hồ chứa ở Việt Nam
Số 21 (6/2008) > trang 68-73 |  PDF (561.00 KB)
Phạm Thị Hương Lan
Tóm tắt
Việc tính toán bùn cát bồi lắng hồ chứa cần dựa trên quy phạm tính toán. Tuy nhiên hiện nay ở nước ta chưa có quy phạm hướng dẫn tính toán dòng chảy bùn cát và bồi lắng hồ chứa. Vì vậy việc lựa chọn một mô hình toán thích hợp trong điều kiện của Việt Nam là cần thiết. Báo cáo đi sâu giới thiệu việc lựa chọn và ứng dụng mô hình toán một chiều HEC6 tính toán bồi lắng hồ chứa ở Việt Nam, ứng dụng tính toán cho hồ chứa nước Cửa Đạt, tỉnh Thanh Hóa
Nghiên cứu ứng dụng mô hình toán thông số phân bố đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng đất đến bồi lắng hồ chứa nước Đại Lải
Số 21 (6/2008) > trang 74-77 |  PDF (384.00 KB)
Phạm Thị Hương Lan
Tóm tắt
Một trong những nguyên nhân gây nên bồi lắng hồ chứa là do tác động của con người đến thảm phủ trên bề mặt lưu vực. Vì vậy, việc đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng đất đến bồi lắng hồ chứa là cần thiết để từ đó đề xuất được các biện pháp giảm thiểu bồi lắng lòng hồ. Báo cáo này giới thiệu một công cụ mạnh hiện nay, đó là nghiên cứu ứng dụng mô hình toán thông số phân bố SWAT để đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng đất đến bồi lắng hồ chứa nước, ứng dụng tính toán cho lưu vực hồ chứa nước Đại Lải
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Lô – Chảy
Số 21 (6/2008) > trang 78-84 |  PDF (366.00 KB)
Huỳnh Thị Lan Hương
Tóm tắt
Việc nghiên cứu quản lý tổng hợp tài nguyên nước (QLTHTNN) nói chung và lưu vực sông Lô - Chảy nói riêng là vấn đề bức xúc hiện nay. Đây là một vấn đề mới và là một mục tiêu nước ta phải thực hiện trong thời gian tới nhằm quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước các lưu vực sông. Bài báo này đề xuất một số nội dung chủ yếu cần lưu ý và đổi mới trong cách thức QLTHTNN lưu vực sông Lô - Chảy
12