Số 20 (3/2008)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2008
 
   
MỤC LỤC
Số 20 (3/2008) > |  PDF (404.00 KB)
Kết quả nghiên cứu hệ số động năng Coriolis () trong máng kính
Số 20 (3/2008) > trang 3-7 |  PDF (470.00 KB)
Lê Văn Hùng
Tóm tắt
Thí nghiệm mô hình thủy lực đòi hỏi phải lựa chọn tiêu chuẩn tương tự, tỷ lệ mô hình… Mô hình dòng chảy đến phía thượng lưu công trình cũng rất quan trọng. Những kết quả thí nghiệm sau đây sẽ minh chứng ý nghĩa quan trọng này.
Kết quả bước đầu về nghiên cứu thấm qua môi trường không đồng nhất ở đập Kẻ Gỗ và biện pháp khắc phục
Số 20 (3/2008) > trang 8-13 |  PDF (802.00 KB)
Nguyễn Chiến, Nguyễn Việt Hà
Tóm tắt
Trong thực tế xây dựng đập đất, do đặc điểm hình thành đất (đối với nền) và đặc điểm của quá trình đắp đập (đối với thân đập), có thể tồn tại các môi trường thấm không đồng nhất, tức hệ số thấm ở các khu vực trong miền thấm là khác nhau, hoặc hệ số thấm theo các phương là khác nhau tại cùng một điểm của miền thấm. Ở đập Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) biểu hiện của thấm qua môi trường không đồng nhất là dòng thấm thoát ra mái hạ lưu ở các điểm có cao độ khác nhau và cao hơn so với dự tính trong thiết kế (môi trường đồng nhất). Trong bài này giới thiệu hiện trạng thấm qua đập Kẻ Gỗ, tiến hành phân tích, đánh giá mức độ thấm dị hướng trong thân đập và đề xuất giải pháp xử lý để bảo đảm an toàn cho đập
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến trạng thái ứng suất nhiệt trong đập Sê San 3
Số 20 (3/2008) > trang 14-18 |  PDF (476.00 KB)
Nguyễn Chiến, Nguyễn Cảnh Tĩnh
Tóm tắt
Khi xây dựng đập bê tông trọng lực khối lớn, ứng suất nhiệt là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến độ bền và ổn định của đập nên cần được phân tích, đánh giá đầy đủ trong thiết kế, thi công và quản lý khai thác đập. Trong bài này giới thiệu việc sử dụng phần mềm ConteSt Pro để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố như hàm lượng xi măng, nhiệt độ vữa, chiều cao khối đổ, thời gian giãn cách khối đổ đến trường nhiệt độ và ứng suất nhiệt trong đập Sê San 3. Phương pháp và các kết quả tính toán có thể tham khảo cho các công trình tương tự
Sai số khi xác định bằng thí nghiệm mô hình của hệ số lưu lượng qua đập tràn nhám đỉnh rộng chảy không ngập
Số 20 (3/2008) > trang 19-21 |  PDF (247.00 KB)
Lê Văn Hùng
Tóm tắt
Khi thí nghiệm mô hình thuỷ lực chúng ta phải xác định sai số của kết quả đo, từ đó mới có thể phân tích kết quả và đánh giá sai số. Một trong những phương pháp hay dùng là phương pháp vi phân toàn phần. Sau đây là cách xác định sai số lớn nhất của hệ số lưu lượng qua đập tràn khi thí nghiệm mô hình
Tính toán thủy lực đường tràn kiểu dốc nước
Số 20 (3/2008) > trang 22-26 |  PDF (307.00 KB)
Lê Thu Mai, Lê Xuân Long, Nguyễn Xuân Cường
Tóm tắt
Tính toán thủy lực đường tràn kiểu dốc nước từ trước tới nay vẫn theo phương pháp của dòng ổn định. Trong đề tài này, sự thay đổi của các đặc trưng thủy lực trên đường tràn được mô tả theo phương pháp đường đặc trưng của dòng không ổn định một chiều chảy xiết. Chương trình tính (được viết bằng ngôn ngữ lập trình Visual C++) đã được ứng dụng để tính các đặc trưng thủy lực trên đường tràn kiểu dốc nước ở hồ chứa Đầm Bài (Hoà Bình) và cho những kết quả tốt.
Các yếu tố ảnh hưởng đến co ngót và một số phương pháp dự đoán co ngót của bê tông tính năng cao (HPC)
Số 20 (3/2008) > trang 27-30 |  PDF (405.00 KB)
Nguyễn Quang Phú
Tóm tắt
Để giảm bớt sự hư hỏng của các công trình bê tông, bê tông tính năng cao (HPC) đã được sử dụng một cách rộng rãi, đặc biệt trong các công trình thuỷ lợi - thủy điện, cầu và công trình ven biển do tính bền của nó là rất triển vọng. Tuy nhiên, vấn đề chứa đựng sự rạn nứt cao do sớm bị co ngót cao, tỷ lệ N/CM thấp và tính giòn của bê tông tính năng cao. Vì thế, tuy HPC đem lại cường độ nén cao và tính thấm thấp, nhưng một phần không tránh khỏi hiện tượng co ngót, từ đó bê tông có thể bị rạn nứt, làm giảm tuổi thọ của công trình bê tông. Để cải thiện vấn đề này, bài viết bước đầu nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến độ co ngót và một số phương pháp dự đoán co ngót của bê tông tính năng cao.
Một vài ý kiến về công trình dẫn dòng thi công dạng bậc nước
Số 20 (3/2008) > trang 31-35 |  PDF (296.00 KB)
Vũ Thanh Te
Tóm tắt
Trong xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện lớn thời gian dẫn dòng thi công kéo dài vài ba năm; do đó khi xả lưu lượng dẫn dòng thi công vào mùa lũ qua cống hay tuy nen … sẽ rất tốn kém. Vì vậy, một số nước đã nghiên cứu và áp dụng vào xây dựng công trình biện pháp dẫn dòng thi công là xả lũ thi công qua đập xây dở dạng bậc nước. Bài viết nêu một số ý kiến về vấn đề bậc nước thảm rọ đá
Ứng dụng mô hình Thormas-fiering mô phỏng chuỗi thời gian dòng chảy và ứng dụng kết quả mô phỏng trong điều hành các nhà máy điện
Số 20 (3/2008) > trang 36-44 |  PDF (764.00 KB)
Nguyễn Văn Tuần, Nguyễn Đức Hạnh
Tóm tắt
Bài toán điều hành phối hợp giữa các nhà máy điện trong một hệ thống đến nay vẫn là một bài toán rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn. Việc điều hành các nhà máy điện liên quan chủ yếu đến đặc điểm thuỷ văn hay quy luật dòng chảy tuyến vào của các nhà máy thuỷ điện. Một trong những phương pháp phổ biến được áp dụng để phân tích sự biến đổi chu kỳ, tìm quy luật dòng chảy là ứng dụng mô hình Thormas-Fiering. Bài báo này giới thiệu về việc ứng dụng mô hình Thormas-Fiering trong mô phỏng chuỗi thời gian dòng chảy sông ngòi nhằm tìm quy luật dòng chảy và ứng dụng kết quả mô phỏng đó điều hành phối hợp hợp lý các nhà máy điện
Kiểm tra, nghiệm thu và quản lý vận hành hồ chứa nhỏ có màng chống thấm
Số 20 (3/2008) > trang 45-52 |  PDF (336.00 KB)
Đinh Vũ Thanh
Tóm tắt
Việc kiểm tra, đánh giá chất lượng thi công màng chống thấm, tạo ra các hồ chứa nước nhỏ rất quan trọng, cần có phương pháp và quy trình chặt chẽ. Trong thi công, đảm bảo an toàn cho người, thiết bị và đảm bảo môi trường và đảm bảo công tác vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình cũng cần phải quan tâm đúng mức.
Bài viết này nhằm giới thiệu kết quả nghiên cứu, đề xuất phương pháp kiểm tra, đánh giá chất lượng đường hàn (thiết bị và phương pháp không phá huỷ: phương pháp thử bằng áp lực khí, phương pháp thử chân không, phương pháp tần số cao; thiết bị và phương pháp phá huỷ: qui định lấy mẫu tại hiện trường, phương pháp thí nghiệm kiểm tra độ bền mối hàn trong phòng thí nghiệm), an toàn trong trong thi công (cho người và trang thiết bị thi công, cho công trình trong giai đoạn thi công, cho người và tài sản) và công tác vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình sử dụng màng chống thấm, phục vụ xây dựng công trình thuỷ lợi loại nhỏ, có dung tích dưới 50.000 m3 nước
Chế độ cấp thoát nước hợp lý nuôi tôm thâm canh vùng cao triều tại Yên Hưng - Quảng Ninh
Số 20 (3/2008) > trang 53-59 |  PDF (292.00 KB)
Mai Thế Hùng
Tóm tắt
Đảm bảo yêu cầu nước cho ao nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi là yếu tố quyết định tới năng suất nuôi tôm thâm canh. Thông qua quá trình cấp, thoát nước cho ao nuôi có thể kiểm soát và điều chỉnh chất lượng nước trong ao nuôi phù hợp. Chế độ cấp thoát nước cho nuôi tôm thâm canh là hợp lý khi: đạt năng suất nuôi cao, không gây ô nhiễm môi trường, chủ động kiểm soát được chất lượng môi trường nước ao (pH, độ mặn, độ trong, nhiệt độ, độ kiềm…), tổng lượng nước cấp, thoát cũng như số lần cấp, thoát trong vụ nuôi hợp lý. Trên cơ sở các thực nghiệm tại khu nuôi tôm thâm canh Tân An, Yên Hưng, Quảng Ninh, tác giả đã tổng kết và đề xuất chế độ cấp thoát nước hợp lý cho nuôi tôm thâm canh vùng cao triều, có thể ứng dụng cho các tiểu vùng khác có điều kiện tương tự tại vùng ven biển Bắc Bộ.
Đánh giá thực trạng chất lượng nước hệ thống thuỷ nông Huyện Giao Thuỷ -tỉnh Nam Định
Số 20 (3/2008) > trang 60-65 |  PDF (490.00 KB)
Nguyễn Hằng Nga, Lê Thị Nguyên
Tóm tắt
Hệ thống thuỷ lợi Giao Thuỷ có nhiệm vụ phục vụ nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, cấp nước cho thuỷ sản, phòng chống lũ lụt, phục vụ dân sinh, phát triển du lịch và bảo tồn phát triển vùng đất ngập nước ven biển. Tuy nhiên, hiện tại chất lượng nước tại hệ thống đã có dấu hiệu bị ô nhiễm ảnh hưởng tới vùng đất ngập nước ven biển và đời sống của cư dân. Ô nhiễm diễn ra ngay từ đầu nguồn cấp và có xu hư¬ớng tăng cục bộ trong hệ thống như¬ độ đục, tổng chất rắn lơ lửng, sắt (tổng số) có trong nước. Hàm lượng hữu cơ có nguồn gốc ni tơ và phốt pho, BOD5, COD cao trong nước là do phân bón từ sản xuất nông nghiệp, và rác thải sinh hoạt. Ô nhiễm kim loại nặng tuy biểu hiện chưa đáng báo động xong cũng cần có các giải pháp ngăn chặn kịp thời
Phương pháp thi công màng chống thấm trong công trình hồ chứa nhỏ
Số 20 (3/2008) > trang 66-72 |  PDF (799.00 KB)
Đinh Vũ Thanh, Nguyễn Bá Yêm
Tóm tắt
Thi công màng chống thấm, tạo ra các hồ chứa nước nhỏ nhằm chứa và cấp nước cho nông nghiệp, dân sinh và các nhu cầu khác là công việc quan trọng, đòi hỏi quy trình chặt chẽ và kỹ thuật cao. Để thi công công trình đạt chất lượng cao, cần có thiết bị chuyên dụng phù hợp và đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật lành nghề.
Bài viết này nhằm giới thiệu một số kết quả nghiên cứu, đề xuất phương pháp thi công cũng như các trang thiết bị, nguyên tắc cơ bản trong lắp đặt, phương pháp và các thiết bị dùng để hàn nối, cách kết nối màng chống thấm với các kết cấu khác, cũng như các quy định về đường hàn, cách sửa chữa đường hàn lỗi, hàn vá chỗ thủng rách của màng chống thấm phù hợp, phục vụ xây dựng công trình thuỷ lợi loại nhỏ, có dung tích dưới 50.000 m3 nước
Sơ đồ kết cấu và tính toán thủy lực cống tiêu nước đáy ao nuôi tôm thâm canh kiểu ống chữ T đục lỗ
Số 20 (3/2008) > trang 73-76 |  PDF (275.00 KB)
Mai Thế Hùng
Tóm tắt
Tiêu nước ao nuôi là một vấn đề quan trọng trong nuôi tôm thâm canh. Có nhiều loại cống tiêu nước cho ao nuôi tôm, trong đó cống tiêu nước đáy là một loại cống có nhiều ưu điểm nổi bật và hiện đang được sử dụng ở nhiều vùng nuôi tôm trên thế giới. Ở nước ta loại cống này cũng đã được đưa vào ứng dụng tại một số vùng nuôi tôm thâm canh ven biển. Cống có kết cấu và kích thước khác biệt với các loại cống tiêu nước kiểu hở đặt tại bờ ao. Trên cơ sở các thực nghiệm tại khu nuôi tôm thâm canh Tân An, Yên Hưng, Quảng Ninh tác giả đã đề xuất việc xác định hệ số lưu lượng qua cống nhằm đơn giản hóa việc tính toán thủy lực xác định quy mô kích thước của cống tiêu nước loại này
Tác động của gió đến biến đổi địa hình bờ biển tỉnh Quảng Bình
Số 20 (3/2008) > trang 77-84 |  PDF (318.00 KB)
Lê Văn Thành
Tóm tắt
Quảng Bình có gió mùa hoạt động mạnh, địa hình, địa chất thuận lợi tạo điều kiện tốt cho vận chuyển cát từ biển vào sâu lục địa. Vận chuyển cát do gió là mối nguy hại phá hoại nhà cửa, các công trình biển, giao thông, cây cối, lấp các đầm phá, cửa sông ven biển.
Dựa vào các quy luật vật lý lớp biên khí quyển, các phương trình động lực, các công thức bán thực nghiệm đã tiến hành tính toán vận chuyển cát do gió và bước đầu lý giải nguyên nhân sự biến đổi địa hình bờ do gió khu vực bờ biển nghiên cứu.
12