Số 18 (9/2007)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9/2007
 
   
Nghiên cứu sự phân bố của hàm lượng không khí trong dòng chảy hở trên các công trình tháo nước
Số 18 (9/2007) > trang 9-15 |  PDF (394.00 KB)
Nguyễn Chiến, Phạm Nguyên Hùng
Tóm tắt
Tính toán phân bố hàm khí trong dòng chảy hở là cơ sở để xác định hợp lý chiều cao thành lòng dẫn, kiểm tra khí thực ở đáy và thành bên lòng dẫn, tính toán độ phóng xa của tia dòng sau mũi phun....Trong bài giới thiệu cơ sở thiết lập công thức phân bố độ hàm khí trong dòng chảy. Một chương trình tính toán tương ứng đã được lập và sử dụng trong ví dụ ở cuối bài. Phương pháp và chương trình đã nêu được đề nghị áp dụng tính toán cho các dòng chảy hở có lưu tốc lớn.
Một số phương pháp tính toán thủy lực chặn dòng khi xây dựng công trình ở vùng triều và quai đê lấn biển
Số 18 (9/2007) > trang 16-20 |  PDF (301.00 KB)
Hồ Sĩ Minh
Tóm tắt
Nội dung bài báo dưới đây là kết quả một phần nghiên cứu thuộc đề tai cấp Bộ: “Nghiên cứu tính toán thủy lực và công nghệ chặn dòng các công trình ở vùng triều “do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì, PGS.TS.Hồ Sĩ Minh chủ nhiệm đề tài
Một số vấn đề kỹ thuật trong thiết kế và tính toán chặn dòng khi đắp đê, đập bằng đất, cát ở vùng ven biển và sông Triều.
Số 18 (9/2007) > trang 21-24 |  PDF (289.00 KB)
Hồ Sĩ Minh
Tóm tắt
Nội dung bài báo dưới đây là kết quả một phần nghiên cứu thuộc đề tai cấp Bộ: “Nghiên cứu tính toán thủy lực và công nghệ chặn dòng các công trình ở vùng triều “do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì, PGS.TS.Hồ Sĩ Minh chủ nhiệm đề tài
Dòng lưu tốc cao với đập tràn xả lũ
Số 18 (9/2007) > trang 25-29 |  PDF (245.00 KB)
Vũ Thanh Te
Tóm tắt
Khi tính toán xác định mặt cắt đập tràn, một vấn đề được các nhà thiết kế quan tâm là lưu tốc dòng chảy trên bề mặt tràn. Nếu lưu tốc trên 18m/s thì có khả năng xuất hiện xâm thực và khí thực. Dòng chảy có lưu tốc cao không chỉ gây ra hiện tượng khí thực mà còn gây ra mạch động lưu tốc; mạch động lưu tốc lớn gây rung động với công trình. Bài viết giới thiệu một số vấn đề về dòng lưu tốc cao với đập tràn xả lũ
Một vài ý kiến về mặt cắt đập tràn dạng Wes
Số 18 (9/2007) > trang 30-37 |  PDF (341.00 KB)
Vũ Thanh Te
Tóm tắt
Mặt cắt tràn xả lũ dạng WES được ứng dụng nhiều trên thế giới. Ở Việt Nam gần đây mới thiết kế cho một số công trình thủy lợi, thủy điện như: Cửa Đạt, Sông Tranh 2, Bình Điền, Kanak …
Bài viết giới thiệu tóm tắt về phương pháp xác định mặt cắt tràn dạng WES; đồng thời nêu ưu điểm của dạng mặt cắt này.
Xác định hình dạng lỗ xả dẫn dòng thi công hợp lý cho công trình thủy điện Đam’bri tỉnh Lâm Đồng
Số 18 (9/2007) > trang 38-41 |  PDF (271.00 KB)
Lê Văn Nghị
Tóm tắt
Lỗ xả thi công là một hạng mục công trình dẫn dòng kiểu kín đặt trong thân đập thường được sử dụng kết hợp với các dạng công trình dẫn dòng kiểu hở khi thi công các công trình thuỷ lợi thuỷ điện có đập dâng nước là đập bê tông trọng lực, đặc biệt hiệu quả khi mặt bằng thi công chật hẹp. Việc xác định hình dạng lỗ xả hợp lý nhằm đảm bảo công trình vận hành an toàn được đặt lên hàng đầu khi thiết kế các công trình tháo nước kiểu kín nhằm hạn chế áp suất âm xuất hiện trong công trình và tăng khả năng tháo nước qua công trình khi dẫn dòng thi công. Bài báo này trình bày về kết quả xác định hình dạng lỗ xả thi công của công trình thuỷ điện Đa M’Bri tỉnh Lâm Đồng
Nghiên cứu các ảnh hưởng của đặc tính vật liệu trong quá trình tạo hình chi tiết dạng ống bằng nguồn chất lỏng cao áp hai chiều
Số 18 (9/2007) > trang 42-47 |  PDF (388.00 KB)
Nguyễn Anh Tuấn
Tóm tắt
Phương pháp tạo hình kim loại bằng nguồn chất lỏng cao áp có một số mặt hạn chế như thời gian tạo hình lâu và chi phí cho thiết bị cao. Tuy nhiên, do những nghiên cứu cải tiến liên tục về quá trình tạo hình, dụng cụ gia công, chất bôi trơn, phương pháp này đang được chấp nhận ngày càng nhiều hiện nay trong việc chế tạo các chi tiết phức tạp trong lĩnh vực cơ khí đặc biệt là ngành công nghiệp ôtô. Về cơ bản, phương pháp này là kỹ thuật sử dụng nguồn chất lỏng có áp hoặc để tạo hình hoặc để trợ giúp trong việc tạo hình các chi tiết kim loại dễ biến dạng dẻo.
Nghiên cứu kỹ thuật nâng lắp ráp cửa van chữ nhân công trình Âu thuyền nhà máy thủy điện Tam Hiệp
Số 18 (9/2007) > trang 48-53 |  PDF (1145.00 KB)
Nguyễn Đức Ngọc
Tóm tắt
Công trình âu thuyền là một trong những hạng mục chủ yếu của Nhà Máy Thủy Điện Tam Hiệp. Việc thi công lắp đặt hoàn thiện cửa van của âu thuyền được chia làm hai lần thi công lắp đặt, đặc biệt phức tạp là lần thi công lắp đặt thứ hai đây là thời kỳ sau khi công trình đi vào vận hành hồ chứa có cao trình cột nước là 145,0 – 175,0m, cao trình ngưỡng cửa cửa van được nâng từ 131,0m lên cao trình 139,0m. Khối lượng cửa van 855 tấn, có kích thước chiều cao 38,5m, chiều rộng 20,2m, chiều dầy là 3,042 m. Trong bài viết tác giả đã nghiên cứu thực tế công trình và đưa ra những phương án thi công phù hợp với điều kiện của công trình
Cơ sở lí thuyết để xây dựng mô hình động học của cần trục tháp cột cố định
Số 18 (9/2007) > trang 54-60 |  PDF (586.00 KB)
Nguyễn Anh Tuấn
Tóm tắt
Trong những năm vừa qua, nhu cầu xây dựng các công trình có độ cao lớn ngày càng tăng, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình thi công các công trình cao tầng này, cần trục tháp đóng vai trò rất quan trọng trong thi công. Để vận hành cần cẩu tháp hiệu quả và an toàn, cần phải nắm được các vấn đề liên quan đến ứng xử động học của cần trục tháp khi hoạt động. Nghiên cứu này bước đầu đưa ra cơ sở lí thuyết nhằm xây dựng mô hình động học của cần trục tháp, để từ đó, tiến tới giải quyết vấn đề ổn định của nó khi hoạt động. Chúng ta xem cần trục tháp như là một rô-bốt có bốn bậc tự do (BTD), kết hợp với bộ phận buộc cáp, và vật nâng, rô-bốt chuyển thành một hệ động học với tổng cộng tám BTD. Theo đặc tính vật lí của cáp cần trục, nghiên cứu này sẽ rút ra các phương trình chuyển động và xây dựng các thuật toán để giải các phương trình đó trong từng khoảng thời gian trong quá trình hoạt động của cần trục.
Thống nhất quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông nhằm phát triển bền vững
Số 18 (9/2007) > trang 61-64 |  PDF (215.00 KB)
Nguyễn Tuấn Anh, Lưu Phú Hào
Tóm tắt
Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, đã cụ thể hoá quan điểm quản lý tài nguyên nước: “Quản lý tài nguyên nước phải được thực hiện theo phương thức tổng hợp và thống nhất trên cơ sở lưu vực sông”.
Bài viết này phân tích các nguyên tắc, nhiệm vụ và các tiêu chí để xây dựng mô hình quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên nước theo lưu vực sông. Từ các tiêu chí lựa chọn, xem xét cơ cấu tổ chức hiện nay của Bộ Nông nghiệp và PTNT, tác giả nhận định việc giao chức năng quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông cho Bộ NN&PTNT là phù hợp hơn cả, cả về truyền thống và hiện tại, cả về pháp lý và đạo lý, cả về lý luận và thực tế, cả về kinh nghiệm quốc tế và kinh nghiệm trong nước, cả về trung ương đến địa phương... xét về phương diện nào cũng rất thoả đáng
Một số vấn đề kỹ thuật cống vùng triều cần tập trung nghiên cứu để phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản ven biển
Số 18 (9/2007) > trang 65-68 |  PDF (216.00 KB)
Đinh Vũ Thanh
Tóm tắt
Trong thời gian qua, rất nhiều hệ thống nuôi trồng thủy lợi ven biển cả nước đã thực hiện chuyển đổi, từ nông nghiệp sang nông nghiệp và thủy sản hoặc chí thuần thủy sản. Việc thay đổi trong điều kiện hạ tầng (cống, kênh) còn chưa theo kịp đã đối mặt với nhiều vần đề, nhất là chất lượng nước và môi trường, dẫn đến nhiều hệ thống đã không phát triển bền vững và nguy cơ hiệu quả sử dụng thấp. Bài báo này trình bày một số vấn đề kỹ thuật cống phục vụ đa mục tiêu, trong đó chú trọng về tính toán xác định khẩu diện cống
Vấn đề khai thác và sử dụng nước trong lưu vực sông Kone
Số 18 (9/2007) > trang 69-76 |  PDF (1923.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng, Nguyễn Thị Thảo Hương
Tóm tắt
Mùa kiệt trên lưu vực sông kone kéo dài tới 9 tháng (i  ix) nhưng dòng chảy chỉ chiếm 28,4% tổng lượng dòng chảy năm, cá biệt tháng iv dòng chảy chỉ chiếm xấp xỉ 2% tổng lượng dòng chảy năm dẫn đến thiếu nước trầm trọng, nguy cơ hạn hán rất cao còn mùa lũ lại tiềm ẩn khả năng phát sinh lũ lụt.
Sự phân bố không đồng đều nguồn nước theo không gian và thời gian cộng với điều kiện địa hình lưu vực sông kone không thuận tiện cho việc hình thành các hồ chứa nên việc điều tiết dòng chảy trong lưu vực gặp không ít khó khăn. hai vùng trọng điểm lúa của tỉnh bình định thuộc lưu vực sông kone là an nhơn - tuy phước và tây sơn - vĩnh thạnh thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu nước tưới. do thiếu nguồn nước nên các công trình thủy lợi trong tỉnh bình định cũng chỉ đảm bảo tưới cho khoảng 50% diện tích đất canh tác. không chỉ thiếu nước tưới mà nhu cầu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất trong mùa kiệt ở vùng hạ du cũng không được đáp ứng đủ mà năm 2005 là một điển hình. theo ủy ban nhân dân tỉnh bình định, 6 tháng đầu năm 2007 tốc độ tăng trưởng gdp của các ngành nông, lâm, thủy sản rất thấp, riêng ngành nông nghiệp chỉ đạt 0,5% do thiếu nước.
Nghiên cứu cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ thủy nông trong giai đoạn mới
Số 18 (9/2007) > trang 77-81 |  PDF (217.00 KB)
Đinh Vũ Thanh, Hà Lương Thuần
Tóm tắt
Thực hiện miễn giảm thuỷ lợi phí cho nông dân trong trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản theo chủ trương của Nhà nước nhằm nâng cao mức sống của nông dân, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường, góp phần xoá đói giảm nghèo đã có những tác động tích cực trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, việc quản lý thuỷ nông cũng cần có những thay đổi về nhiều mặt, cả về cơ chế chính sách, tổ chức quản lý, hạ tầng cơ sở, cũng như về quản lý tài chính.
Bài viết này giới thiệu cơ hội và thách thức đối với quản lý thuỷ nông và một số kết quả nghiên cứu cơ sở và đề xuất giải pháp cũng như những về đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ thuỷ nông trong giai đoạn hiện nay