Số 17 (6/2007)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2007
 
   
Ứng dụng năng lượng gió – xu thế chung và đánh giá dưới góc độ kinh tế và môi trường
Số 17 (6/2007) > trang 3-10 |  PDF (3408.00 KB)
Nguyễn Trung Dũng, Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Ngày nay năng lượng gió, một trong những năng lượng tái tạo, được sử dụng ngày càng rộng rãi khi thiết bị được sản xuất hàng loạt, công nghệ lắp ráp đã hoàn thiện, chi phí cho hoàn thành 1 trạm điện gió hiện nay chỉ bằng 1/4 so với năm 1986. Các nước công nghiệp phát triển đã đề ra chiến lược khai thác tích cực hơn điện gió trong tương lai và thay thế dần các nguồn năng lượng truyền thống như than đá, thuỷ điện, hạt nhân, … Trong báo cáo có xem xét nguồn năng lượng gió, khả năng ứng dụng, xu thế phát triển chung trên thế giới và đánh giá dưới góc độ kinh tế và môi trường cũng như có một số kiến nghị về phát triển năng lượng gió ở Việt Nam
Hàn khẩu khẩn cấp đê khi bị vỡ do bão- Một vấn đề thực tế cần được xem xét trong hoàn cảnh hệ thống đê hiện nay
Số 17 (6/2007) > trang 11-13 |  PDF (342.00 KB)
Lê Xuân Roanh
Tóm tắt
Nước ta có đường bờ dài trên 3200 km, trong đó có nhiều đoạn đê biển đã hình thành, bảo vệ vùng dân cư sau đê; Tuy nhiên còn nhiều tuyến đê chưa hoàn chỉnh. Nếu xét theo khu vực địa lý thì đê biển được chia thành hai loại cơ bản: đê biển khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ, Trung bộ và đê bao Nam bộ. Hệ thống đê biển từ Quảng Ninh tới Quảng Nam đã được hình thành qua nhiều thời gian lịch sử, chất lượng không đồng nhất, chiều cao đỉnh đê còn thấp, vì vậy trong bão thường xuất hiện hiện tượng nước tràn qua đỉnh. Hệ thống đê biển Nam bộ còn nhiều bất cập, tuy nhiên khu vực này ít ảnh hưởng của bão nhiệt đới, song nếu cường độ gió xảy ra như khu vực phía bắc thì khó có thể đảm bảo an toàn trên toàn tuyến.
Áp dụng điêu kiện biên Neumann trong mô hình tính toán thủy động lực học
Số 17 (6/2007) > trang 14-18 |  PDF (981.00 KB)
Nguyễn Thị Thúy Điểm
Tóm tắt
Vấn đề chọn điều kiện biên khi ứng dụng mô hình toán là rất quan trọng. Khi mô phỏng một vùng bờ biển, do có sự tác động kết hợp của các quá trình vào khu vực nghiên cứu nên mực nước và phân bố vận tốc theo phương ngang bờ sẽ thay đổi. Do vậy, điều kiện biên tại hai biên bên phải phản ánh được sự thay đổi này. Một giải pháp rất hiệu quả là áp dụng điều kiện biên Neumann (điều kiện biên gradient mực nước) thay vì sử dụng mực nước hay vận tốc cố định (Roelvink and Walstra, 2004).
Trong bài báo này, tác giả trình bày kết quả việc áp dụng điều kiện biên Neumann trong việc mô phỏng các yếu tố thủy động lực học tại bờ biển Egmond, Hà Lan bằng mô hình Delft 3D. Kết quả cho thấy mực nước tính toán tại các trạm đo gần trùng khớp với giá trị đo đạc. Chiều cao sóng tính toán có sự tương quan rất tốt với số liệu thực đo. Kết quả tính toán vận tốc từ mô hình tương đối phù hợp với thực tế.
Mô hình hóa quá trình diễn biến hình thái cửa biển lý tưởng bằng Mô hình Động lực Hình thái Hai chiều
Số 17 (6/2007) > trang 19-27 |  PDF (3119.00 KB)
Trần Thanh Tùng
Tóm tắt
Bài báo này trình bày các kết quả nghiên cứu diễn biến hình thái, động lực của một cửa biển lý tưởng dưới các tác động khác nhau của sóng và dòng chảy bằng mô hình hình thái dạng quá trình Delft-3D do Viện Thủy lực Delft, Hà Lan (WL| Delft Hydraulics) phát triển. Mặc dù nghiên cứu chỉ tiến hành mô phỏng các diễn biến của một cửa biển lý tưởng nhưng các phân tích diễn biến hình thái cho thấy sự phù hợp giữa kết quả mô phỏng với các hệ số tương quan ổn định cửa và các hiện tượng dòng chảy và biến đổi hình thái diễn ra trong tự nhiên. Các kết quả nghiên cứu bổ xung thêm những hiểu biết thấu đáo hơn về quá trình diễn biến cửa đồng thời giúp lý giải các hiện tượng diễn biến cửa xảy ra trong thực tế. Bước đầu lượng hóa các hệ số ổn định kinh nghiệm và tương quan giữa các yếu tố động lực sóng và dòng chảy tới sự ổn định và quá trình diễn biến cửa.
Ứng dụng mô hình mike basin trong xây dựng phương án phân bổ nguồn nước lưu vực sông Trà Khúc
Số 17 (6/2007) > trang 28-33 |  PDF (253.00 KB)
Nhâm Thị Thúy Hằng
Tóm tắt
Lưu vực sông Trà Khúc là lưu vực sông lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi, có tiềm năng nguồn nước khá dồi dào, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của Quảng Ngãi và miền Trung. Tuy nhiên tài nguyên nước vùng hạ du lưu vực đang có những biểu hiện suy thoái và cạn kiệt khá nghiêm trọng. Bài báo này trình bày việc áp dụng mô hình MIKE BASIN để nghiên cứu xây dựng các phương án phân bổ nguồn nước cho các đối tượng khai thác, sử dụng nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo đảm công bằng, hợp lý trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên lưu vực sông và từng bước hạn chế suy thoái, cạn kiệt nguồn nước khu vực hạ lưu.
Môi trường nước mặt tỉnh Bắc Giang
Số 17 (6/2007) > trang 34-39 |  PDF (292.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng
Tóm tắt
Ô nhiễm môi trường nước hiện là 1 trong 6 vấn đề môi trường bức xúc của Việt Nam. Nguồn nước mặt trong tỉnh Bắc Giang cũng đã có những dấu hiệu nhiễm bẩn dinh dưỡng và hữu cơ mà nghiêm trọng nhất là đoạn sông Cầu từ làng Vân đến Phả Lại, đoạn sông Thương phần chảy qua địa phận thành phố Bắc Giang và các ao hồ trong địa bàn thành phố Bắc Giang. Trong nước sông Cầu và sông Lục Nam đã phát hiện thấy hàm lượng của một số ion vi lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép như Mn và Sn.
Cao trình ngưỡng tràn của tràn sự cố và mực nước lũ khống chế trong hồ chứa
Số 17 (6/2007) > trang 40-43 |  PDF (406.00 KB)
Phạm Ngọc Quý
Tóm tắt
Những biến đổi của tự nhiên và sự hoạt động kinh tế xã hội làm tăng nguy cơ mất an toàn cụm công trình đầu mối hồ chứa. Nhiều công trình đập hồ đã bị sự cố. Một giải pháp an toàn là xây dựng tràn sự cố, trong đó thông số cao trình ngưỡng tràn giữ vai trò quan trọng. Bài viết đưa ra khái niệm mực nước lũ khống chế trong hồ chứa; bàn về những yếu tố ảnh hưởng và cách chọn cao trình ngưỡng tràn sự cố
Cách xác định khoảng cách hợp lý giữa hai hàng giếng kim khi hạ thấp mực nước ngầm cho hố móng sâu
Số 17 (6/2007) > trang 44-47 |  PDF (346.00 KB)
Lê Văn Hùng, Khúc Hồng Vân, Nguyễn Khoa Diệu Linh, Heng Phoury
Tóm tắt
Hạ thấp mực nước ngầm bằng hệ thống giếng kim thường được ứng dụng khi thi công các công trình vùng đồng bằng. Thông thường, hệ thống giếng kim áp dụng phù hợp khi chiều cao hạ thấp mực nước ngầm nhỏ hơn 5m. Đối với trường hợp chiều cao cần hạ thấp mực nước ngầm lớn hơn 5m thì ta phải sử dụng hệ thống giếng kim 2 cấp. Sau đây, chúng tôi đề cập đến việc tính toán bố trí hệ thống giếng 2 cấp sao cho hệ thống giếng làm việc hiệu quả.
Đề xuất một số giải pháp tổ chức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư khi thi công công trình thuỷ lợi – thuỷ điện
Số 17 (6/2007) > trang 48-53 |  PDF (345.00 KB)
Nguyễn Trọng Hoan, Dương Văn Bá
Tóm tắt
Công trình thuỷ lợi, thuỷ điện được xây dựng trong điều kiện tự nhiên, điều kiện kỹ thuật phức tạp, sản phẩm của nó mang tính chất đơn chiếc, được xây dựng theo các chỉ tiêu, tiêu chí bắt buộc với kinh phí được ấn định (giá trúng thầu), đòi hỏi chất lượng và thời gian thi công nghiêm ngặt; Cho nên mục tiêu được đặt ra cho các nhà kinh doanh xây dựng phải thực hiện đó là chất lượng tốt, giá thành hạ, tiến độ đạt, an toàn cao. Trong bốn mục tiêu trên đứng về góc độ kinh doanh thì mục tiêu giảm chi phí xây dựng và chất lượng sản phẩm là quan trọng nhất, nó mang ý nghĩa phát triển bền vững, đồng thời cũng là mục tiêu sống còn của đơn vị kinh doanh.
Nghiên cứu cơ sở và phương pháp luận hài hoà tiêu chuẩn, một số biện pháp đẩy mạnh hài hoà tiêu chuẩn lĩnh vực thuỷ lợi
Số 17 (6/2007) > trang 54-59 |  PDF (474.00 KB)
Đinh Vũ Thanh
Tóm tắt
Bài viết này giới thiệu một số kết quả nghiên cứu cũng như phương pháp luận hài hoà tiêu chuẩn, đồng thời đề xuất biện pháp đẩy mạnh hài hoà tiêu chuẩn thuỷ lợi Việt Nam. Trong đó có đánh giá mức độ hài hoà hiện tại của tiêu chuẩn thuỷ lợi chỉ khoảng 37%, và đưa ra lĩnh vực ưu tiên, phạm vi hài hoà, đánh giá, lựa chọn tiêu chuẩn dùng để hài hoà, phương pháp hài hoà tiêu chuẩn cũng như nguồn lực tiến hành hài hoà tiêu chuẩn thuỷ lợi. Những bài học và kinh nghiệm thực tế về hài hoà tiêu chuẩn lĩnh vực thuỷ lợi Việt Nam hiện nay còn hạn chế, trong thời gian tới việc lựa chọn tiêu chuẩn và phương pháp hài hoà tiêu chuẩn cho từng đối tượng tiêu chuẩn hoá cụ thể cần tiếp tục quan tâm đúng mức, cân nhắc kỹ và có bước đi phù hợp đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực.
Một số kết quả nghiên cứu tìm giải pháp tiêu hệ thống thủy lợi sông Nhuệ
Số 17 (6/2007) > trang 60-66 |  PDF (1190.00 KB)
Lê Thị Thanh Thủy
Tóm tắt
Nguy cơ vỡ và tràn đê sông Nhuệ thường xuyên xảy ra trong mùa mưa do nhu cầu tiêu nước vào sông Nhuệ vượt quá khả năng chuyển nước từ sông Nhuệ ra sông Đáy. Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu giải quyết vấn đề tiêu nước cho hệ thống nhằm đảm bảo khi vận hành theo tần suất thiết kế thì đường mực nước trên sông Nhuệ không vượt quá mức giới hạn cho phép.
Các biện pháp thúc đẩy nông dân tham gia quản lý thủy nông, một nghiên cứu điển hình ở đồng bằng sông Hồng
Số 17 (6/2007) > trang 67-72 |  PDF (443.00 KB)
Trần Văn Đạt
Tóm tắt
Nghiên cứu này xem xét hiệu quả của các kênh cấp II ứng với các mô hình quản lý, điều kiện nguồn nước và công trình khác nhau. Kết quả cho thấy, hiệu quả hoạt động ở các kênh có mô hình phối hợp quản lý không khác nhau nhiều. Các chỉ tiêu tương tự ở kênh có mô hình hợp tác xã quản lý cao hơn so với kênh cấp II có mô hình phối hợp quản lý. Biện pháp thúc đẩy nông dân tham gia vào quản lý thuỷ nông được đề xuất sau khi xem xét hệ số tương quan giữa các đặc trưng kinh tế xã hội với các chỉ tiêu quản lý
Nghiên cứu mô hình tưới tiết kiệm nước cho cây dứa vùng đất dốc, nông trường sông Bôi, tỉnh Hòa Bình
Số 17 (6/2007) > trang 73-80 |  PDF (1159.00 KB)
Đinh Vũ Thanh, Đoàn Doãn Tuấn
Tóm tắt
Ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho cây các loại cây trồng nhằm đạt năng suất và chất lượng sản phẩm cao, tiết kiệm lượng nước tưới, góp phần thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập, từng bước hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp là một nhu cầu cấp thiết hiện nay, đặc biệt là đối với vùng đất dốc.
Bài viết này nhằm giới thiệu một số kết quả nghiên cứu bước đầu về xây dựng mô hình tưới tiết kiệm nước và xác định chế độ tưới và kỹ thuật tưới hợp lý cho cây dứa ở Nông trường Sông Bôi, tỉnh Hoà Bình, bao gồm việc xác định điều kiện ứng dụng, tính toán nhu cầu nước cho cây trồng, thiết kế lắp đặt và quy trình vận hành hệ thống tưới
Nghiên cứu ảnh hưởng của bazan lỗ rỗng đến phát triển cường độ của bê tông đầm lăn thủy điện Đồng Nai 3
Số 17 (6/2007) > trang 81-84 |  PDF (1201.00 KB)
Nguyễn Thế Thành
Tóm tắt
Điểm khác biệt cơ bản của đập RCC thuỷ điện Đồng Nai 3 là không dùng phụ gia khoáng puzzolan hoặc tro bay. Thay vào đó là bazan hạt mịn được xay từ bazan lỗ rỗng với thành phần cấp phối thích hợp nhưng vẫn đảm bảo các đặc tính của RCC như vậy giá thành có thể sẽ thấp. Đây là một vấn đề cần được quan tâm đối với các dự án mà tại đó xa nguồn cung cấp tro bay, puzzolan và tại khu vực công trường có mỏ đá bazan
Đánh giá các phương án lựa chọn kiểm soát lũ vùng Đồng Tháp Mười, châu thổ sông Mekong, Việt Nam
Số 17 (6/2007) > trang 85-93 |  PDF (1916.00 KB)
Ngô Văn Quận, Nguyễn Đăng Tính
Tóm tắt
Đồng Tháp Mười là một vùng của châu thổ sông Mêkông trong Việt Nam, đây là một vùng lũ khép kín có diện tích ngập lũ lớn xảy ra hàng năm. Lũ lụt tác động lớn đến nguồn nước, môi trường, hệ sinh thái và các hoạt động kinh tế xã hội của con người trong vùng. Đặc biệt hơn, ngập lũ đã tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Do đó, mục đích của nghiên cứu là đánh giá các phương án lựa chọn kiểm soát lũ nhằm xác định khả năng giảm thiệt hại về nông nghiệp do lũ gây ra và tìm ra phương án tốt nhất mang lại lợi ích đảm bảo an toàn trong thời gian dài về sản xuất nông nghiệp của vùng.