Số 16 (3/2007)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2007
 
   
Ứng dụng mô hình MIKE 11 trong tính toán thủy văn, thủy lực mùa lũ lưu vực sông Ba
Số 16 (3/2007) > trang 4-13 |  PDF (1630.00 KB)
Nguyễn Xuân Phùng
Tóm tắt
Hàng năm, lũ lụt sông Ba đã gây thiệt hại rất lớn cho lưu vực sông Ba, đặc biệt là vùng hạ du. Bài báo trình bày việc áp dụng mô hình MIKE 11 trong tính toán thuỷ văn, thuỷ lực sông Ba để đánh giá mức độ ngập lụt đồng thời đánh giá khả năng cắt lũ của hệ thống hồ chứa hiện trạng cũng như dự kiến trên lưu vực sông Ba, nhằm giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt gây ra
Đánh giá tác động của công trình thủy điện Lai Châu đến tài nguyên và môi trường nước
Số 16 (3/2007) > trang 14-22 |  PDF (167.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng
Tóm tắt
Việc hình thành công trình thủy điện Lai Châu trong hệ thống các công trình thủy điện bậc thang sông Đà đã có những tác động nhất định đến tài nguyên và môi trường nước. Do tổng lượng dòng chảy năm đến hồ gấp 36 lần dung tích hữu ích của hồ nên tác dụng điều tiết dòng chảy đối với hạ du không lớn. Một lượng lớn bùn cát sẽ được bồi lắng ở hồ Lai Châu nên tuổi thọ của hồ Hòa Bình và Sơn La được nâng cao đồng thời lượng bùn cát chuyển về hạ du cũng giảm.
Qua kết quả so sánh và tính toán có thể thấy chất lượng môi trường nước vùng lòng hồ Lai Châu sau khi hình thành hồ chứa sẽ có sự biến đổi so với trước tuy nhiên mức độ biến đổi không lớn. Chỉ có giai đoạn đầu khi hồ bắt đầu tích nước hàm lượng ôxy trong nước giảm do do qua trình ôxy hóa các chất hữu cơ có trong lòng hồ.
Mô hình mô phỏng và dự báo xu thế bồi tụ - xói lở bờ, biến đổi địa hình đáy biển cửa Ba Lạt – Sông Hồng
Số 16 (3/2007) > trang 23-29 |  PDF (204.00 KB)
Lê Văn Thành
Tóm tắt
Dựa vào các phương trình thuỷ động lực học để mô phỏng và dự báo xu thế bồi tụ-xói lở bờ, biến đổi địa hình đáy. Các phương trình bao gồm: lan truyền sóng, dòng chảy ven bờ, dòng vận chuyển bùn cát, biến đổi địa hình đáy và bồi tụ-xói lở bờ.Thuật toán giải các phương trình trên bằng phương pháp sai phân.
Kết quả mô phỏng cho thấy hoạt động bồi -xói trong khu vực nghiên cứu phụ thuộc rõ vào địa hình bờ, mùa gió(mùa đông ,hè)và mùa lũ. Bờ biển , cửa sông một số đoạn xói vào mùa đông với qui mô, cường độ nhỏ và hầu như bồi tụ rất mạnh vào mùa hè với quy mô, cường độ rất lớn.Hàng năm bờ biển , cửa sông có xu thế tiến ra phía đông và đông nam. Địa hình đáy sát bờ đang được bồi và xu thế phát triển với quy mô rộng lớn.
Dựa vào số liệu đo đạc thực tế, mô hình đã hiệu chỉnh và tiến hành dự báo xu thế bồi -xói, biến đổi địa hình đáy bờ biển cửa sông Ba Lạt 2006-2015.
Một số kết quả bước đầu nghiên cứu vai trò của rừng ngập mặn đến việc giảm sóng vào công trình trên mô hình vật lý
Số 16 (3/2007) > trang 30-33 |  PDF (206.00 KB)
Lê Văn Thịnh
Tóm tắt
Có nhiều biện pháp để tiêu hao năng lượng của sóng khi tác dụng vào đê, trong đó biện pháp trồng cây chắn sóng đựợc nhiều nước trên thế giới và Việt Nam áp dụng ở nhiều khu vực có hiệu quả. Theo một số tài liệu đã công bố, một số vùng của Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh trồng các cây bần chua, cây sú, cây vẹt, cây trang và cây dâng trước đê phía biển đã bảo vệ được nhiều đê nhỏ, yếu khi bão đổ bộ vào. Trong lúc đó, nhiều đoạn đê được kè đá chắc chắn, nhưng không có cây bảo vệ đã bị sạt lở nghiêm trọng, có chỗ bị vỡ. Chính vì vậy khi phát triển đê biển trong giai đoạn tới cần quan tâm tới việc trồng cây chắn sóng.
Công trình thủy lợi phục vụ phát triển các ngành kinh tế khác nông nghiệp của các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc – Việt Nam
Số 16 (3/2007) > trang 34-42 |  PDF (1002.00 KB)
Bùi Hiếu, Trần Quốc Lập
Tóm tắt
Bài báo cáo này tập trung vào đánh giá hiêu quả các công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển các ngành kinh tế khác ngoài nông nghiệp như : thuỷ sản, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, phát điện, giao thông, lâm nghiệp...Nhằm xác định rõ, nâng cao nhận thức về vai trò to lớn thực tế của các công trình thủy đối với phát triển kinh tế, xã hội của đất nước,từ đó đóng góp nhiều hơn để nâng cao hiệu quả quy hoạch, xây dựng và khai thác các công trình thuỷ lợi. Thông qua điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng của công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển các ngành kinh tế khác ngoài nông nghiệp và đề xuất, kiến nghị các phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả phục vụ của các công trình thuỷ lợi,bổ xung cơ sở khoa học thực tiễn cho việc quy hoạch, xây dựng và quản lý các CTTL đạt hiệu quả cao.
Đánh giá sự phát triển bền vững của một số công trình cấp nước sạch tỉnh Bắc Giang
Số 16 (3/2007) > trang 43-50 |  PDF (215.00 KB)
Hoàng Thái Đại, Mạnh Quân Phúc
Tóm tắt
Bài báo trình bày các tiêu chí về phát triển bền vững(PTBV) của các công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững và áp dụng bộ tiêu chí này để đánh giá tính bền vững của các công trình cấp nước sạch cho 3 thôn thuộc tỉnh Bắc Giang
Nghiên cứu đề xuất phương án nạo vét cải tạo lòng dẫn sông Nhuệ đảm bảo yêu cầu cấp nước sản xuất vụ Đông Xuân
Số 16 (3/2007) > trang 51-57 |  PDF (267.00 KB)
Lê Thị Thanh Thủy
Tóm tắt
Sau 75 năm vận hành, các sông trục trong hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ đã bị xuống cấp rất nghiêm trọng: đáy sông bị phù sa bồi cao hơn cao độ thiết kế từ 1,5 đến 2,5 m làm ảnh hưởng đến khả năng cấp nước sản xuất vụ đông - xuân. Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu đánh giá khả năng cấp nước theo hiện trạng lòng dẫn và xác định bề rộng đáy sông Nhuệ ở cao độ thiết kế cần phải nạo vét, cải tạo đáp ứng yêu cầu sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh Hà Tây, Hà Nam và Thủ đô Hà Nội trong tương lai
Đề phòng tai nạn khi lắp đặt vì neo gia cố đá
Số 16 (3/2007) > trang 58-61 |  PDF (190.00 KB)
Đỗ Thụy Đằng
Tóm tắt
Hiện nay các nghiên cứu sử dụng vì neo gia cường mặt lộ khối đá vẫn chưa đề cập đến yêu cầu hạn chế sử dụng chúng, liên quan với trường ứng suất trong khối đá. Cho nên sự bố trí vì neo theo kinh nghiệm có thể sẽ dẫn tới lãng phí hoặc sự cố bất thường.
Bài báo này nêu ra những vị trí hạn chế đó, cùng với những biện pháp vượt qua những khó khăn khi bố trí vì neo tại đó./.
Ứng dụng phương pháp BOND để điều chỉnh các thông số khoan nổ mìn phục vụ đắp đập chính công trình thủy lợi Cửa Đạt, Thanh Hóa
Số 16 (3/2007) > trang 62-65 |  PDF (281.00 KB)
Đinh Thế Mạnh
Tóm tắt
Trong những năm gần đây việc xây dựng các loại đập đá đổ, đặc biệt là đập đá đổ bê tông bản mặt đang được phát triển mạnh mẽ. Đá sau nổ mìn để đắp đập phải có thành phần hạt đá nằm trong giới hạn hai đường bao cấp phối thiết kế. Như vậy, người làm công tác nổ mìn cần phải xác định cấp phối của đống đá sau khi nổ mìn ở hiện trường để từ đó tiến hành điều chỉnh các thông số khoan nổ nhằm đạt được cấp phối đá theo yêu cầu. Các phương pháp khác nhau đã được đề nghị để điều chỉnh cấp phối đá khi nổ mìn. Phương pháp được dùng khá phổ biến là phương pháp Kuznetsop với nguyên lý thứ ba của Bond.
Nghiên cứu về sự phát triển và đặc điểm của bê tông đầm lăn trong xây dựng đập thủy điện ở Việt Nam
Số 16 (3/2007) > trang 66-74 |  PDF (290.00 KB)
Nguyễn Như Oanh, Phương Khôn Hà
Tóm tắt
Bài báo này các tác giả muốn giới thiệu sơ bộ về sự phát triển kỹ thuật xây dựng đập BTĐL trên thế giới và ở Việt nam và căn cứ vào các tài liệu thống kê được của một số công trình đập BTĐL đã và đang xây dựng và thiết kế ở Việt nam tiến hành phân tích tình hình sử dụng nguyên vật liệu, các tham số chủ yếu của cấp phối bê tông, thông qua một số kết quả thí nghiệm về các tính chất chủ yếu của BTĐL tiến hành bình luận, đánh giá và so sánh với một số công trình BTĐL của Trung Quốc đã và đang xây dựng.
Tính toán dầm ứng suất trước có kể đến biến hình dẻo
Số 16 (3/2007) > trang 75-79 |  PDF (181.00 KB)
Phạm Anh Tuấn
Tóm tắt
Đối với dầm chịu lực làm việc trong giai đoạn làm việc đàn hồi chưa làm mất hết khả năng chịu lực của dầm ứng suất trước và trong những điều kiện nhất định có thể cho phép phát triển biến hình dẻo. Song chỉ có thể lợi dụng biến hình dẻo trong bản thân dầm còn dây căng phải tiếp tục làm việc đàn hồi, Nội dung bài báo này trình bày phương pháp tính dầm ứng suất trước có xét đến biến hình dẻo trong giai đoạn chịu tải và biến hình dẻo trong giai đoạn căng trước
Phân loại và phân vùng động thái nước có áp ở đồng bằng Nam Bộ
Số 16 (3/2007) > trang 80-88 |  PDF (786.00 KB)
Đặng Hữu Ơn, Nguyễn Tiếp Tân, Đỗ Hùng Sơn
Tóm tắt
Hiện nay trong nghiên cứu ĐT NDĐ có nhiều cách phân loại và phân vùng ĐT, song phân loại và phân vùng theo điều kiện hình thành và nhân tố ảnh hưởng đến ĐT là cách hợp lý nhất. Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu nghiên cứu về phân loại và phân vùng ĐT, cũng như tài liệu quan trắc ĐT NDĐ ở ĐBNB, các tác giả đã đưa ra sơ đồ phân loại và phân vùng ĐT nước có áp và áp dụng nó để phân loại và phân vùng ĐT nước có áp trong trầm tích Đệ tứ và Neogen ở ĐBNB.
Tính toán bộ phận tiếp khí để phòng khí thực trên mặt tràn và dốc nước của công trình tháo nước.
Số 16 (3/2007) > trang 89-94 |  PDF (231.00 KB)
Nguyễn Chiến
Tóm tắt
Đối với các công trình tháo nước mà dòng chảy có lưu tốc lớn, việc tính toán và bố trí các bộ phận để phòng khí thực là rất cần thiết. Trong bài trình bày cơ sở lý thuyết và thực nghiệm của việc bố trí bộ phận tiếp khí (BPTK) để phòng khí thực trên mặt tràn, dốc nước; đưa ra quy trình tính toán thiết kế các BPTK này. Việc tính toán áp dụng cho tràn Cửa Đạt cho thấy các kết quả khá phù hợp với số liệu thí nghiệm mô hình. Kiến nghị cho áp dụng rộng rãi phương pháp này trong thiết kế các công trình tháo nước.
Ảnh hưởng của mưa đến ổn định mái dốc
Số 16 (3/2007) > trang 95-99 |  PDF (272.00 KB)
Nguyễn Văn Thìn
Tóm tắt
Trong những năm gần đây hàng loạt các vụ trượt mái dốc lớn xảy ra trên vùng núi gây rất nhiều thiệt hại về người và của. Các vụ trượt lở mái dốc thường xuất hiện sau những trận mưa lớn và kéo dài. Tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của mưa đến ổn định mái dốc. Bài báo này trình bày một số kết quả nghiên cứu về quá trình mất ổn định mái dốc do mưa. Một vị trí trượt cụ thể đã được dùng để kiểm tóan quá trình thay đổi hệ số ổn định mái trong quá trình mưa. Kết quả nghiên cứu là nền tảng để giải thích quá trình mất ổn định mái dốc do mưa giúp cho công tác cảnh báo khu vực dễ mất ổn định khi mưa cũng như giúp cho công tác di dân phòng chống trượt lở an toàn.
Thực trạng cung, cầu phân bón vô cơ của Việt nam trong thời gian qua và giải pháp phát triển thị trường
Số 16 (3/2007) > trang 100-104 |  PDF (186.00 KB)
Nguyễn Thế Hòa
Tóm tắt
Cây trồng luôn đòi hỏi đủ chất dinh dưỡng cho phát triển và hoàn thiện chu kỳ sinh trưởng của chúng. Phân bón vô cơ là nguồn dinh dưỡng quan trọng, đã và đang góp phần chủ yếu làm tăng năng suất cây trồng và ổn định độ phì của đất. Phân bón vô cơ có vai trò không nhỏ đưa Việt nam thuộc danh sách 10 nước có năng suất lúa cao nhất thế giới, từ chỗ thiếu lương thực trầm trọng trở thành nước có lượng gạo xuất khẩu ổn định trên 4 triệu tấn/năm và đảm bảo an ninh lương thực. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thị trường phân bón vô cơ của Việt nam, nhất là phân đạm urê có nhiều bất ổn, giá urê tăng cao, cung không đáp ứng cầu, nạn đầu cơ và hàng giả tràn lan làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Phân tích thực trạng cung cầu phân bón vô cơ của Việt Nam để đưa ra một số giải pháp nhằm bình ổn & phát triển thị trường này là hết sức cần thiết.
12