Số 14 (8/2006)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 8/2006
 
   
Bàn về quyền dùng nước và vấn đề phân bổ nguồn nước sử dụng ở nước ta
Số 14 (8/2006) > trang 10-14 |  PDF (185.00 KB)
Nguyễn Văn Thắng
Tóm tắt
Quyền dùng nước và vấn đề phân bổ nguồn nước cho các nhu cầu sử dụng khác nhau trên lưu vực sông là những vấn đề quan trọng đển quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn nước các lưu vực sông của nước ta. Mặc dù các vấn đề này đã được nêu lên trong luật Tài nguyên nước nhưng việc thực hiện trong thực tế hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Trên cơ sở của quản lý tổng hợp tài nguyên nước, bài báo này nêu lên một số ý kiến trao đổi về các tồn tại cũng cũng như cách giải quyết để thực hiện trong thực tế các vấn đề trên đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững tài nguyên nước và tình hình thực tế các lưu vực sông ở nước ta.
Lũ sông Hương và việc tính toán lũ bằng mô hình tập trung nước tổng hợp
Số 14 (8/2006) > trang 15-19 |  PDF (210.00 KB)
Hoàng Ngọc Quang
Tóm tắt
Sông Hương là sông có nhiều lũ lớn thường gây ngập lụt rất nặng nề, trên phạm vi rất lớn. Những trận lũ rất lớn năm 1983, 1986 và đặc biệt là 1999 gây ngập lụt tới 90% các khu dân cư vùng hạ du lưu vực, có nơi ngập sâu tới 1,4 m làm 372 người chết, thiệt hại tổng cộng lên tới 1,762 tỷ đồng.
Lũ lớn, lũ đặc biệt lớn là các căn cứ quan trọng trong tính toán thiết kế nhưng thường lại không đo đạc được. Vì vậy, việc tính toán khôi phục lại các trận lũ lớn đó là rất cần thiết. Có nhiều phương pháp tính toán nước lũ trên sông, tác giả lựa chọn phương pháp khôi phục lũ bằng mô hình tập trung nước tổng hợp. Đây là công thức kinh nghiệm, mà cơ sở của nó là việc mô phỏng quá trình lưu lượng do một khoảng mưa hiệu quả gây ra bằng hàm Gudrich. Kết quả tính toán thử cho các trận lũ 1983 đối với dòng chảy tại Cổ Bi, Bình Điền và cho trận lũ 1986 đối với dòng chảy tại Dương Hoà cho thấy lũ tính toán phù hợp với lũ thực đo. Kết quả đó cho thấy các thông số tính toán đạt tiêu chuẩn cho phép và có thể sử dụng mô hình tập trung nước tổng hợp vào việc tính toán lũ trên sông Hương.
Khí hậu, biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng
Số 14 (8/2006) > trang 20-23 |  PDF (411.00 KB)
Trần Thục, Lê Nguyên Tường
Tóm tắt
Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, bao gồm cả các thay đổi trong thành phần hoá học của khí quyển, biến đổi nhiệt độ bề mặt, nước biển dâng, các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai tăng lên đáng kể về số lượng và cường độ. Những thay đổi này dẫn đến những thay đổi trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế - xã hội trên toàn hành tinh và đe doạ sự phát triển, đe doạ cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái. Nghiên cứu về biến đổi khí hậu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp thích nghi là sự đóng góp đáng kể để bảo vệ cuộc sống, phục vụ phát triển bền vững.
Vai trò của biển hồ đối với chế độ dòng chảy hạ lưu sông Mê Công
Số 14 (8/2006) > trang 24-28 |  PDF (483.00 KB)
Lê Đình Thành
Tóm tắt
Sông Mê Công là sông lớn nhất Đông Nam A’, với tổng diện tích lưu vực 795.000 km2, chiều dài sông chính tới 4.500 km đi qua 6 nước (Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia và Việt Nam). Biển Hồ thuộc Cam Pu Chia với tổng dung tích gần 100 tỷ m3. Vì vậy ngoài vai trò duy trì các hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường vùng hồ và xung quanh, Biển Hồ còn có ảnh hưởng lớn đến chế độ dòng chảy vùng hạ lưu. Trong mùa lũ một lượng nước lớn từ dòng chính Mê Công chảy ngược vào hồ (trung bình khoảng 50% tổng lượng nước của hồ), và trong mùa khô nước từ hồ chảy trở lại dòng chính Mê Công đóng góp một lượng nước đáng kể cho vùng hạ lưu, tạo sự bền vững cho phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của vùng đồng bằng của Cam Pu Chia và Việt Nam. Một số kết quả nghiên cứu ban đầu liên quan đến vai trò của Biển Hồ đến chế độ dòng chảy vùng hạ lưu Mê Công, đặc biệt là vùng đồng bằng Cam Pu Chia và Việt Nam trong thời kỳ lũ lớn và mùa khô cạn.
Đánh giá quá trình xâm nhập mặn hệ thống sông Hương mùa cạn có xem xét tới vai trò điều tiết của các hồ thượng lưu và đập ngăn mặn Thảo Long
Số 14 (8/2006) > trang 29-36 |  PDF (710.00 KB)
Vũ Minh Cát
Tóm tắt
Lưu vực sông Hương có nguồn nước dồi dào vào loại bậc nhất ở nước ta xét về tổng lượng năm, nhưng phân bố rất không đều theo thời gian đã gây ra tình trạng úng ngập, lũ lụt nghiêm trọng trong mùa mưa lũ, nhưng lại rất khan hiếm nước trong 8, 9 tháng còn lại của mùa khô.
Lượng nước lấy từ dòng chính và các nhánh sông Hương ngày một tăng phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu, đặc biệt ở vùng hạ lưu là nguyên nhân gây ra tình trạng nhiễm mặn từ biển vào sâu trong sông.
Ứng dụng mô hình MIKE11 mô phỏng quá trình truyền mặn vào thời kỳ kiệt nhất trong sông. Tài liệu lưu lượng, mực nước, nồng độ mặn từ tháng II đến tháng IV/1981 được sử dụng để hiệu chỉnh bộ thông số mô hình. Bộ số liệu tháng II,III,IV năm 1984 để kiểm tra tính phù hợp của mô hình.
Việc mô phỏng nồng độ mặn theo dọc sông được tiến hành với 3 kịch bản có xét tới dòng chảy tự nhiên thiết kế và khi có hồ điều tiết bổ sung thêm nước; khi chưa có đập ngăn mặn Thảo Long và trường hợp có đập.
Mô hình bể chứa tuyến tính (ltank- linear tank) và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Số 14 (8/2006) > trang 37-43 |  PDF (847.00 KB)
Nguyễn Văn Lai, Nguyễn Việt Hưng
Tóm tắt
Ở nước ta, từ những năm 80 của thế kỷ trước, nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng các mô hình SSARR (Mỹ), TANK (Nhật), vào tính toán, dự báo thuỷ văn đã cho thấy khả năng ứng dụng tương đối tốt của các mô hình này đối với một điều kiện tự nhiên nước ta. Từ những nghiên cứu cấu trúc các mô hình tất định mưa-dòng chảy, cùng với những xem xét đặc điểm tự nhiên hình thành dòng chảy của sông ngòi Việt Nam, năm Nguyễn Văn Lai (ĐH Thuỷ lợi) và Ronny Berndtsson (ĐH Lund-Thuỵ Điển) [1] đã xây dựng một mô hình có cấu trúc dạng bể chứa tuyến tính (Linear tank-LTANK) với chương trình máy tính viết bằng ngôn ngữ FORTRAN-77 có cho phép mô phỏng các quá trình mưa-dòng chảy khá tốt đối với các lưu vực vừa và nhỏ cho vùng nhiệt đới ẩm với địa hình có sườn ngắn và dốc, chế độ dòng chảy chịu sự quy định khá chặt chẽ của chế độ mưa.
Các giải pháp phòng chống lũ lụt giảm nhẹ thiên tai ở miền Trung
Số 14 (8/2006) > trang 44-47 |  PDF (183.00 KB)
Lê Văn Nghinh, Hoàng Thanh Tùng
Tóm tắt
Căn cứ vào đặc điểm địa lý tự nhiên, sự hình thành các hình thế thời tiết gây mưa lớn cũng như sự hình thành lũ lớn trên sông suối các tỉnh ven biển Miền Trung chúng tôi tiến hành phân tích đánh giá và đưa ra các giải pháp phòng chống lũ lụt giản nhẹ thiên tai, đó là:
- Giải pháp phi công trình;
- Giải pháp công trình và
- Giải pháp tránh lũ và sống chung với lũ (giải pháp kết hợp).
Tuy nhiên mỗi một lưu vực, mỗi một tỉnh có sông chảy qua có đặc điểm riêng do đó khi quy hoạch xây dựng các giải pháp phòng chống lũ và giảm nhẹ thiên tai cần nghiên cứu kỹ để có thể đưa ra các giải pháp cụ thể.
Đánh giá dòng chảy môi trường và triển vọng áp dụng ở Việt Nam
Số 14 (8/2006) > trang 50-53 |  PDF (185.00 KB)
Nguyễn Văn Sỹ
Tóm tắt
Hiện nay con người đã và đang làm thay đổi chế độ thuỷ văn của nhiều dòng sông trên thế giới và nhiều nơi đã gây thoái hoá về môi trường. Bối cảnh chung đó đã dẫn đến sự xuất hiện các nghiên cứu khoa học về đánh giá dòng chảy môi trường mà trong đó sự cần thiết và cách thức để bảo vệ các hệ sinh thái và các giá trị tài nguyên khác được đề cập. Bài báo khái quát tình hình nghiên cứu về dòng chảy môi trường trên thế giới và ở Việt Nam, giới thiệu tóm tắt về những loại phương pháp đánh giá dòng chảy môi trường chính đã có và nêu lên những điều kiện cần thiết và khả năng áp dụng vào điều kiện Việt Nam và kiến nghị áp dụng.
Ứng dụng mô hình toán đánh giá tác động của việc xây dựng nhà máy nhiệt điện Mông Dương tới chế độ thuỷ lực và diễn biến ngập lụt vùng hạ lưu sông Mông Dương- Quảng Ninh
Số 14 (8/2006) > trang 54-60 |  PDF (1026.00 KB)
Bùi Du Dương, Phan Thanh Thảo
Tóm tắt
Bài báo trình bày một số kết quả từ việc ứng dụng bộ mô hình Mike NAM-Mike11-MikeGIS nghiên cứu đánh giá tác động của dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Mông Dương đến sự thay đổi chế độ thuỷ lực, đánh giá diễn biến diễn biến ngập lụt và thiết kế hệ thống kênh thoát nước đảm bảo thoát lũ khu vực hạ lưu sông Mông Dương. Kết quả tính toán cho thấy triển vọng rất tốt của việc ứng dụng mô hình toán đối với công tác đánh giá, dự báo tác động của các dự án thuỷ lợi, thuỷ điện đến chế độ thuỷ lực, diễn biến ngập lụt khu vực dự án nói riêng và ứng dụng thành lập bản đồ ngập lụt và đánh giá diễn biến và thiệt hại ngập lụt một lưu vực sông trong chiến lược khai thác dòng sông và phòng tránh lũ, giảm nhẹ thiên tai đảm bảo an toàn cho dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội ở Việt Nam
Xây dựng bản đồ khả năng lũ quét cho lưu vực sông Ba và sông Kone
Số 14 (8/2006) > trang 61-64 |  PDF (613.00 KB)
Ngô Đình Tuấn, Hoàng Thanh Tùng, Nguyễn Xuân Phùng
Tóm tắt
Xây dựng bản đồ khả năng lũ quét cho các vùng trung du, miền núi và các lưu vực sông chịu ảnh hưởng của gió mùa, bão, áp thấp và hội tụ nhiệt đới là vấn đề bức xúc hiện nay nhằm đưa ra các biện pháp giảm nhẹ những thiệt hại do lũ quét gây ra. Bài báo báo này đưa ra cơ sở lý thuyết xây dựng bản đồ khả năng lũ quét đồng thời tóm tắt kết quả ứng dụng hệ thông tin địa lý GIS vào xây dựng thử nghiệm các bản đồ này cho lưu vực sông Ba và sông Kone.
Nghiên cứu ứng dụng mạng nơ ron thần kinh vào dự báo lũ các sông ở tỉnh Bình Định và Quảng Trị
Số 14 (8/2006) > trang 65-70 |  PDF (665.00 KB)
Lê Văn Nghinh, Hoàng Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Hải
Tóm tắt
Dự báo Lũ cho các sông lớn miền Trung có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc đối phó kịp thời với lũ nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng do lũ gây ra. Bài báo này tổng kết những kết quả đã đạt được trong việc nghiên cứu ứng dụng mô hình mạng Nơ ron Thần kinh dự báo lũ cho các sông ở tỉnh Bình Định và Quảng Trị
Nghiên cứu ứng dụng mô hình dự báo lũ cho sông Vu Gia - Thu Bồn
Số 14 (8/2006) > trang 71-78 |  PDF (2441.00 KB)
Nguyễn Hoàng Sơn
Tóm tắt
Lũ lụt xảy ra hàng năm ở miền Trung Việt Nam và thường xuyên gây tổn thất lớn về người và của. Các lưu vực sông ở Miền Trung thường có hình tròn và địa hình rất dốc nên lũ thường lên xuống nhanh, quá trình lũ phức tạp nên việc dự báo lũ gặp rất nhiều khó khăn.
Trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng mô hình thủy văn HEC-HMS và mô hình thủy lực HEC-RAS để mô phỏng dự báo lũ cho sông Vu Gia – Thu Bồn thuộc tính Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng. Mô hình HEC-RAS được dùng để tính toán thủy lực hệ thông sông bao gồm hai nhánh sông chính là Thu Bồn từ trạm Nông Sơn ra đến cửa Đại tại Hội An và Vu Gia từ trạm Thành Mỹ ra đến cửa Hàn tai Đà Nẵng. Kết quả tính toán thủy lực sẽ được kết hợp với dữ liệu GIS bằng phần mềm HEC-GEORAS chạy trên nền Arcview GIS để tính toán xây dựng bản đồ ngập lụt.
Vùng hạ lưu được chia làm 15 ô chứa còn vùng không có trạm đo lưu lượng phía hạ lưu được chia làm 12 lưu vực phụ. Dòng chảy từ 12 lưu vực con này được tính toán bằng mô hình HEC-HMS. 12 lưu vực này cũng là 12 biên nhập lưu vào mô hình thủy lực HEC-RAS. Kết quả đầu ra của mô hình HEC-HMS là đầu vào của mô hình HEC-RAS và nó được kết nối tự động bằng file *.DSS.
Kết quả tính toán cho thấy, kết quả tối ưu mô hình HEC-HMS cho trận lũ năm 1998,1999 tại Nông Sơn và Thành Mỹ với EI đạt từ 0.85 đến 0.99. Kết quả tối ưu mô hình HEC-RAS tại Giao Thủy với EI từ 0.7 đến 0.95, và tại Ái Nghĩa với EI từ 0.72 đến 0.9. Kết quả này được áp dụng để tính toán cho trận lũ năm 2004 với kết quả EI đạt 0.88 tại Giao Thủy và tại Ái Nghĩa EI=0.92. Kết quả vùng ngập lụt dự đoán rất phù hợp với vùng ngập được xác định từ ảnh vệ tinh Landsat và kết quả điều tra tình hình ngập lụt năm 1999.
Ứng dụng mô hình HEC-HMS tính toán lũ trên các sông tỉnh Quảng Trị & Bình Định
Số 14 (8/2006) > trang 79-85 |  PDF (1678.00 KB)
Lê Văn Nghinh, Phạm Xuân Hòa, Nguyễn Đức Hạnh
Tóm tắt
Những năm gần đây, lũ lụt xảy ra ngày một nghiêm trọng và khó kiểm soát ở các tỉnh miền trung Việt Nam. Nghiên cứu và mô phỏng chính xác quá trình lũ trên các sông lớn miền trung sẽ góp phần đáng kể trong việc đưa ra các giải pháp thích hợp kiểm soát và chống lũ trong vùng. Bài báo trình bày ứng dụng mô hình HEC-HMS để mô phỏng và tính toán lũ trên các sông Bến Hải, Hiếu, Thạch Hãn (tỉnh Quảng Trị) và sông Kone (tỉnh Bình Định)
Xây dựng cơ sở dữ liệu khí tượng – thuỷ văn tỉnh Quảng Trị
Số 14 (8/2006) > trang 86-90 |  PDF (1050.00 KB)
Lê Văn Nghinh, Vũ Thanh Tú , Đặng Đình Nghĩa
Tóm tắt
Cơ sở dữ liệu là một tập hợp có sắp xếp các thông tin, dữ liệu về một vấn đề nào đó, nhằm giúp cho người sử dụng dễ dàng tra cứu, sử dụng và cập nhật. Chính vì lẽ đó, với loại số liệu đa dạng, lượng số liệu nhiều, số liệu Khí tượng – Thuỷ văn của các trạm đo cần được lưu trữ trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu nhằm phục vụ cho các mục đích khai thác sử dụng sau này. Bài báo sẽ đề cập tới việc xây dựng 1 phần mềm quản lý dữ liệu khí tượng – thuỷ văn cho tỉnh Quảng Trị nhằm đem lại những hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý dữ liệu
Phân tích diễn biến hình thái cửa sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi
Số 14 (8/2006) > trang 91-96 |  PDF (1139.00 KB)
Trần Thanh Tùng
Tóm tắt
Các cửa sông, lạch triều (gọi tắt là các cửa biển) trong điều kiện tự nhiên luôn có xu thế phát triển theo hướng đạt tới trạng thái "cân bằng" về mặt động lực hoặc đạt tới trạng thái " ổn định" về mặt hình dạng. Hay nói cách khác, một cửa biển có khả năng tự duy trì trạng thái "cân bằng" tương ứng với lượng bùn cát vận chuyển dọc bờ và lượng nước trao đổi qua cửa. Khi xây dựng công trình nhằm ổn định cửa hay nạo vét lòng dẫn qua cửa, thì trạng thái "cân bằng" tự nhiên sẽ không còn nữa. Lúc này cửa và đoạn bờ lân cận sẽ có sự "điều chỉnh" để thích ứng với trạng thái cân bằng mới. Do vậy, cần hiểu rõ cơ chế chi phối sự ổn định và các đặc trưng hình thái động lực của cửa trước khi tiến hành xác định các giải pháp kỹ thuật nhằm ổn định cửa. Bài báo sẽ trình bày các phân tích về đặc trưng hình thái cửa sông Trà Khúc,tỉnh Quảng Ngãi và xác định rõ các yếu tố chi phối sự ổn định cửa
12