Số 13 (6/2006)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2006
 
   
Tài nguyên nước và vấn đề phát triển bền vững lưu vực sông Đồng Nai.
Số 13 (6/2006) > trang 5-10 |  PDF (244.00 KB)
Đào Xuân Học
Tóm tắt
Lưu vực sông Đồng Nai là một lưu vực nội địa lớn nhất, có nền kinh tế phát triển sội động nhất trong cả nước, đóng vai trò rất quan trong trong nền kinh tế quốc dân (đóng góp 35% vào tổng GDP của cả nước, riêng công nghiệp chiếm tỷ trọng 54% của cả nước). Phát triển kinh tế và quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng (với 48,5% dân số sống ở đô thị) kéo theo là vấn đề suy thoái môi trường, chặt phá rừng, xói mòn đất, suy thoái tài nguyên thiên nhiên. Do có ưu thế về địa hình và nguồn nước, hiện tại nguồn nước trong lưu vực đã và đang được khai thác cho phát triển kinh tế đặc biệt là nguồn thuỷ năng, đồng thời cũng đã và đang được xem xét chuyển sang các lưu vực khác. Ttrong tương lai không xa nguồn nước rong lưu vực sẽ không đủ cung cấp cho nhu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trong lưu vực, vì vậy để phát triển bền vững ngay từ bây giờ cần có một chiến lược về sử dụng và bảo vệ nguồn nước, đồng thời với chiến lược bảo vệ đất và rừng trong lưu vực
Đánh giá tài nguyên nước mặt phục vụ phòng tránh lũ lụt cạn kiệt tỉnh Quảng Trị
Số 13 (6/2006) > trang 11-16 |  PDF (142.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng
Tóm tắt
Lũ lụt hạn kiệt đang là vấn đề cấp thiết cho các tỉnh Trung bộ đặc biệt là tỉnh Quảng Trị. Trong nghiên cứu này chúng tôi đã tiến hành đánh giá nguồn tài nguyên nước mặt, cân bằng nước hệ thống và xác định ngưỡng khai thác tài nguyên nước trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp phòng chống lũ lụt hạn kiệt cho Quảng Trị
Bài toán kiểm toán nước lưu vực sông và một số kết quả ứng dụng đối với lưu vực sông Ba
Số 13 (6/2006) > trang 17-25 |  PDF (324.00 KB)
Nguyễn Văn Thắng
Tóm tắt
Kiểm toán nước lưu vực sông là bài toán mở rộng của bài toán tính toán cân bằng nước lưu vực sông, trong đó ngoài tính toán nguồn nước đến, bài toán còn xem xét và xác định tất cả các loại hình tiêu hao nước trên lưu vực như là tiêu hao nước do sử dụng của con người và tiêu hao nước do các quá trình tự nhiên. Thông qua tính toán kiểm toán nước lưu vực sông sẽ xác định các chỉ số kiểm toán nước của lưu vực và dựa vào đó có thể đánh giá hiệu quả sử dung nước cũng như xem xét các điều chỉnh trong sử dụng nước để nâng cao hiệu quả sử dụng nước lưu vực sông.
Bài báo này giới thiệu phương pháp kiểm toán nước lưu vực sông và một số kết quả ban đầu ứng dụng đối với cho luu vực sông Ba và các ý kiến về sử dụng kết quả kiểm toán nước trong quản lý nguồn nước lưu vực.
Các chu kỳ dao động mực nước ngầm ở đồng bằng Nam Bộ
Số 13 (6/2006) > trang 26-30 |  PDF (186.00 KB)
Đặng Hữu Ơn, Nguyễn Tiếp Tân, Đỗ Hùng Sơn
Tóm tắt
Do ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên ở Đồng bằng Nam bộ (ĐBNB) nước ngầm có nhiều chu kỳ dao động khác nhau. Nhưng trong quá trình hình thành động thái các nhân tố tự nhiên đã làm biến dạng tính chu kỳ của chúng. Sử dụng các phương pháp Bôi-Balon, trung bình trượt, sai phân-tích phân, các tác giả đã chứng minh được nước ngầm ở ĐBNB có chu kỳ nửa ngày, nửa tháng và 11 năm
Xây dựng ma trận khối lượng tương đương phần tử thanh liên kết đàn hồi có khối lượng phân bố
Số 13 (6/2006) > trang 31-34 |  PDF (212.00 KB)
Nguyễn Hồng Sơn, Vũ Thành Hải
Tóm tắt
Khi phân tích kết cấu chịu tải trọng động cần thiết phải xác định ma trận khối lượng. Phương pháp đơn giản nhất để xác định ma trận khối lượng là đưa khối lượng phân bố về khối lượng tập trung ở một số điểm nút có chuyển vị thẳng được xác định và sự phân phối khối lượng vào các nút này bằng phương pháp phân lực trong tĩnh học. Trong bài báo này tác giả trình bày một phương pháp xác đinh ma trận khối lượng tương đương của phần tử dầm hai đầu liên nửa cứng có khối lượng phân bố dựa trên các hàm dạng của phần tử. Ưu điểm của phương pháp khối lượng tương đương này là làm giảm được số phần tử trong hệ nhiều bậc tự do và làm tăng độ chính xác của lời giải
Kết quả nghiên cứu bồi lắng hồ Chiềng Cang, tỉnh Lai Châu
Số 13 (6/2006) > trang 35-40 |  PDF (291.00 KB)
Lê Quang Vinh, Lưu Văn Lâm
Tóm tắt
Kết quả tính toán khối lượng bùn cát bồi lắng ở hồ Chiềng Cang – một hồ chứa nhỏ ở tỉnh Lai Châu theo phương pháp thông thường và theo công thức của Shamov đều nhỏ hơn khối lượng thực tế đã bồi lắng xuống hồ sau 7 năm vận hành (số liệu tính toán chỉ bằng khoảng 40% khối lượng thực tế). Bài báo đã phân tích nguyên nhân dẫn đến sự sai khác này và đưa ra một số kiến nghị trong tính toán thiết kế hồ chứa vừa và nhỏ
Một số vấn đề thủy lực hạ lưu các công trình tháo nước vùng đồng bằng và ven biển
Số 13 (6/2006) > trang 41-44 |  PDF (151.00 KB)
Lê Thị Thu Hiền, Hoàng Nam Bình
Tóm tắt
Vấn đề này được rất nhiều người quan tâm nhưng nghiên cứu chưa có định hướng rõ rệt và toàn diện. Trong bài này giới thiệu 2 vấn đề chính dựa trên cơ sở lý thuyết của sóng và tia rối.
- Sự ổn định của lòng dẫn và xói cục bộ,
- Sự hình thành sóng thứ cấp và một vài đặc trưng của nó.
Một giải pháp mới về đập ngăn sông lớn mùa kiệt vùng thủy triều
Số 13 (6/2006) > trang 45-53 |  PDF (614.00 KB)
Phạm Văn Quốc, Phạm Lan Anh, Phạm Tuấn Sơn
Tóm tắt
Bài báo trình bày một giải pháp mới về đập phao ngăn sông lớn mùa kiệt vùng thuỷ triều. Loại đập này có kết cấu bản đáy và trụ là loại phao (caisson), cửa van của đập là loại van phao, lợi dụng được sức đẩy của nước để tránh phải làm thiết bị nâng công suất lớn, cho phép làm bề rông tháo nước của đập lớn.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, lần đầu tiên chúng tôi đề nghị 2 hình thức cửa van phao kiểu mới để sử dụng ngăn sông lớn về mùa kiệt vùng thủy triều.
Hình thức thứ nhất là van phao hai cánh, đóng mở theo kiểu khép cánh cửa. Van nổi lên với hành trình 45 cm theo trục của bản lề cửa van và sẽ di chuyển dễ dàng vào vị trí đóng với hỗ trợ của máy tời khi chênh mực nước thủy triều trước và sau đập nhỏ.
Hình thức thứ hai là van phao 2 tầng vận hành rất đơn giản, mỗi tầng cửa van có thể nổi lên, hạ chìm xuống hầm van trong bản đáy và chuyển động tịnh tiến theo phương thẳng đứng, cửa van chỉ chuyển động tịnh tiến trong phạm vi khe van, chỉ cần dùng bơm chìm để bơm nước ra khỏi buồng van phao, khi muốn hạ chìm cửa van phao xuống chỉ cần mở van để nước chảy vào trong buồng phao của van. Hai hình thức van phao này có tính khả thi rất cao, đặc biệt là hình thức thứ hai. Loại đập phao do chúng tôi đề nghị có triển vọng lớn để áp dụng xây dựng các đập ngăn sông lớn vùng thủy triều ở Việt Nam.
Đánh giá chuyển dịch công trình theo phương pháp phân tích thống kê
Số 13 (6/2006) > trang 54-57 |  PDF (155.00 KB)
Hoàng Xuân Thành
Tóm tắt
Đối với các công trình thủy lợi- thủy điện trong thời gian xây dựng cũng như trong quá trình vận hành sử dụng, dưới các tác động của nhiều nguyên nhân có thể bị biến dạng, nếu độ biến dạng vượt quá giới hạn cho phép có thể dẫn tới hư hỏng và có thể đổ vỡ công trình. Do vậy việc phân tích và dự đoán về độ biến dạng công trình dựa trên các kết quả quan trắc là một trong những công tác rất quan trọng. Các kết quả phân tích này giúp cho nhà thiết kế và quản lý theo dõi quy luật của biến dạng công trình và các nguyên nhân liên quan tác động đến độ biến dạng của công trình, trên cơ sở đó bổ sung thêm kiến thức thực tế trong thiết kế, đưa ra quy trình vận hành và sử dụng công trình một cách tối ưu.
Vấn đề tiêu nước cho các vùng nông nghiệp đang phát triển khu công nghiệp tập trung
Số 13 (6/2006) > trang 58-64 |  PDF (209.00 KB)
Dương Thanh Lượng, Lưu Văn Quân
Tóm tắt
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trên tất cả các tỉnh và thành phố trong cả nước, các khu công nghiệp được xây dựng với tốc độ nhanh chóng. Các khu công nghiệp tập trung nằm xen trong lưu vực của hệ thống tiêu với tỷ trọng diện tích tăng dần ngày càng ảnh hưởng lớn tới hệ thống tiêu hiện có. Thực tế đó đặt ra một vấn đề cấp bách và mang tính thời sự là cần xem xét nhu cầu tiêu nước cho các vùng nông nghiệp đang phát triển khu công nghiệp tập trung. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác công trình thuỷ lợi hiện có, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực tới hệ thống tiêu do việc xây dựng các khu công nghiệp.
Xác định ứng suất của cọc đóng trong nền một lớp đáy cọc tựa trên nền đất yếu với búa đóng cọc là búa Diezel
Số 13 (6/2006) > trang 65-72 |  PDF (461.00 KB)
Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Huyên
Tóm tắt
Thực tế ở các công trường xây dựng người ta sử dụng nhiều loại búa Diezel để đóng cọc. Với loại búa Diezel dùng để đóng cọc thì bộ phận va đập vào cọc chính là pittong của búa, kích thước chiều dài pittong của búa lớn hơn nhiều so với kích thước tiết diện ngang của nó nên khi tính toán để chính xác ta phải coi pittong như là thanh đàn hồi chứ không coi là vật rắn tuyệt đối.
Nội dung của bài báo này nghiên cứu ứng suất của cọc bê tông đóng trong nền đồng nhất đáy cọc tựa trên nền đất yếu khi sử dụng búa Diezel để đóng cọc và xét ảnh hưởng của đệm đầu cọc, ma sát mặt bên đến ứng suất nén lớn nhất của cọc trong khi đóng. Cũng trong bài báo này các tác giả đã sử dụng ngôn ngữ lập trình Matlab để vẽ các đồ thị lực nén của đệm đàn hồi lên đầu cọc, ứng suất trong cọc tại từng tiết diện, tại từng thời điểm và rút ra các nhận xét.