Số 12 (3/2006)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2006
 
   
Phòng chống tắc nghẽn các lỗ khoan tháo đá nổ mìn khi đào các giếng điều áp
Số 12 (3/2006) > trang 3-7 |  PDF (145.00 KB)
Đỗ Thụy Đằng
Tóm tắt
Hiện tượng tắc nghẽn các lỗ khoan tháo đá nổ mìn khi đào các giếng rộng, nhất là các giếng điều áp phức hợp, là một hiện tượng tự nhiên có điều kiện. Bài viết này phân tích các nguyên nhân và đề xuất các phương án phòng chống hiện tượng này để công nghệ thi công giếng có lỗ khoan tháo đá nổ mìn đạt được hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao hơn
Nghiên cứu đề xuất chọn tiêu lũ tính toán thiết kế tràn sự cố
Số 12 (3/2006) > trang 8-11 |  PDF (180.00 KB)
Phạm Ngọc Quý
Tóm tắt
Xác định bề rộng tháo nước là một bài toán cơ bản đầu tiên khi thiết kế công trình xả lũ. Bề rộng đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước tiên là tiêu chuẩn lũ tính toán. Từ tổng hợp thực tế thiết kế tràn sự cố trong nước, giới thiệu tiêu chuẩn của nhiều nước và sự phân tích lý luận, nghiên cứu đã đề suất tiêu chuẩn lũ tính toán thiết kế tràn sự cố. Đề suất chắc chắn sẽ được kiểm nghiệm trong thực tế và sẽ được hoàn thiện hơn
Nghiên cứu xác định nhanh cường độ bê tông bằng thiết bị đo không phá hoại
Số 12 (3/2006) > trang 12-21 |  PDF (251.00 KB)
Nguyễn Quang Phú – BM VLXD – ĐHTL, ThS Đỗ Viết Thắng
Tóm tắt
Kiểm tra chất lượng bê tông trong quá trình thi công bê tông và đánh giá nghiệm thu trước khi đưa vào sử dụng khai thác là một trong những khâu quan trọng đảm bảo chất lượng của công trình. Vì thế phương pháp kiểm tra cần phản ánh ngày càng sát với chất lượng thực của bê tông công trình. Do vậy việc quản lý kiểm tra chất lượng bê tông là một công việc hết sức quan trọng, nó không những góp phần đảm bảo nâng cao tuổi thọ của công trình mà còn thúc đẩy cho việc thi công công trình đúng tiến độ, đáp ứng các tiêu chí về kỹ thuật và kinh tế.
Thực tế có 2 phương pháp cơ bản xác định cường độ bê tông (phương pháp phá hoại và phương pháp không phá hoại). Tuy nhiên phương pháp phá hoại rất phức tạp trong quá trình lấy mẫu và làm ảnh hưởng đến kết cấu công trình; còn phương pháp không phá hoại mới chỉ sử dụng phương pháp kết hợp giữa xung siêu âm và súng bật nảy, vì thế kết quả có độ chính xác chưa cao và đôi khi làm chậm tiến độ thi công bê tông.
Từ những vấn đề nêu trên, bài báo đưa ra những nghiên cứu bước đầu về phương pháp xác định nhanh cường độ bê tông bằng các thiết bị không phá hoại
Về tính toán thủy lực xác định kích thước hợp lý của đoạn chuyển tiếp thu hẹp có đáy phẳng trên dốc nước sau ngưỡng của đường tràn dọc
Số 12 (3/2006) > trang 22-25 |  PDF (159.00 KB)
Nguyễn Chiến, Lê Thị Bích Thuận
Tóm tắt
Công trình tháo lũ kiểu đường tràn dọc bên bờ được áp dụng phổ biến ở các hồ chứa mà đập chính được đắp bằng vật liệu địa phương. Để đảm bảo điều kiện kinh tế và tránh xảy ra hiện tượng thuỷ lực bất lợi như sóng xiên, rối loạn dòng chảy trên dốc nước sau ngưỡng tràn cần bố trí và tính toán hợp lý đoạn chuyển tiếp thu hẹp. Bài báo trình bày phương pháp xác định kích thước của đoạn chuyển tiếp thu hẹp loại có đáy phẳng và tường bên thẳng thông qua xác định góc thu hẹp giới hạn k và các thông số sóng xiên trên đó.
Giới thiệu, so sánh kết quả thí nghiệm bê tông đầm lăn của đập Định Bình – VN với một số công trình của Trung Quốc
Số 12 (3/2006) > trang 26-33 |  PDF (276.00 KB)
Nguyễn Như Oanh, Phương Khôn Hà
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu cách lựa chọn nguyên vật liệu, thiết kế cấp phối và kết quả thí nghiệm một số tính năng chính của Bê tông đầm lăn – BTĐL ( Roller Compacted Concrete – RCC ) công trình đập Định Bình – Tỉnh Bình Định – Việt Nam do phòng Nghiên cứu vật liệu xây dựng – Viện Khoa học Thuỷ lợi thiết kế và thí nghiệm, và tiến hành so sánh với Cấp phối bê tông đầm lăn 3 công trình của Trung Quốc được nhóm tác giả thiết kế và thí nghiệm trong năm 2005 tại trường Đại học Vũ Hán – Trung Quốc. Từ đó đưa ra một số nhận xét và kiến nghị một số vấn đề cần lưu ‎y đối với BTĐL của công trình đập Định Bình của Việt Nam.
Hệ số truyền năng lượng của búa vào cọc đóng trong nền hai lớp đáy cọc gặp lực chống không đổi
Số 12 (3/2006) > trang 34-40 |  PDF (243.00 KB)
Nguyễn Thị Thanh Bình, Trương Chí Công
Tóm tắt
Trong [3] đã nghiên cứu bài toán xác định hệ số truyền năng lượng của búa vào cọc đóng trong nền không đồng nhất đáy cọc gặp lực chống không đổi nhưng các tác giả xét lớp đất thứ hai là bùn nhão nên ma sát của đất lên cọc coi như không đáng kể có thể bỏ qua, trong bài báo này để sát với thực tế hơn các tác giả đã giả thiết cọc đóng trong nền hai lớp và cọc chịu ma sát mặt bên tương ứng là q¬1, q2 khác không.
Quan trắc chuyển dịch của công trình thủy lợi – thủy điện theo góc kế tới một điểm xa
Số 12 (3/2006) > trang 41-43 |  PDF (119.00 KB)
Hoàng Xuân Thành
Tóm tắt
Công tác quan trắc chuyển dịch công trình Thủy lợi- thủy điện có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng và độ ổn định công trình. Trong bài báo trình bày phương pháp mới để xác định độ chuyển dịch của công trình khi địa hình và cấu trúc của công trình không thuận lợi cho việc sử dụng các phương pháp truyền thống. Theo phương pháp này chỉ cần đo góc tại các điểm kiểm tra tới một điểm ở xa công trình trong các chu kỳ thời gian khác nhau rồi dựa vào độ lệch các kết quả đo để tính độ chuyển dịch của các điểm kiểm tra gắn trên công trình. Trong bài báo tác giả đã chứng minh công thức tính sai số của các đại lượng đo và liên hệ trong thực tế nếu đo góc với độ chính xác là 2”thì sai số độ chuyển dịch điểm yếu nhất sẽ bằng 1,4mm. Sai số này thoã mãn với yêu cầu về độ chính xác khi quan trắc chuyển dịch các công trình công nghiệp lớn.
Vấn đề lựa chọn máy bơm và trạm bơm phục vụ nông nghiệp ở CHDCND Lào
Số 12 (3/2006) > trang 44-47 |  PDF (121.00 KB)
Somphone THANASACK, Lê Chí Nguyện
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu những đóng góp đáng kể của công tác thuỷ lợi trong đó có máy bơm và trạm bơm cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và sự phát triển nông nghiệp của CHDCND Lào nói riêng . Bài báo còn đề cập đến những bất cập trong việc lựa chọn máy bơm và thiết kế trạm bơm phục vụ nông nghiệp trong thời gian qua và đề ra những giải pháp khắc phục trong tương lai
Xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp bằng phân tích hồi quy
Số 12 (3/2006) > trang 48-52 |  PDF (137.00 KB)
Nguyễn Đức Bảo, Nguyễn Thế Hòa
Tóm tắt
Sau hơn 15 năm đổi mới, ngành nông nghiệp nước ta về cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng khá đạt mức tăng bình quân 4,2%/năm, đảm bảo an ninh lương thực, tỷ suất hàng hoá trong nông nghiệp ngày càng cao, một số mặt hàng có thị phần lớn trong khu vực và trên thế giới như gạo, hạt điều, cà phê, hồ tiêu. Bước đầu hình thành một số vùng sản xuất tập trung gắn với công nghiệp chế biến như các vùng lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng; các khu công nghiệp- dịch vụ ở trung du, miền núi gắn với việc phát triển cây công nghiệp có lợi thế như khu công nghiệp chè ở trung du, miền núi phía bắc, khu liên hợp công nghiệp cao su ở Đông Nam Bộ, mía đường miền trung ... . Kết cấu hạ tầng cơ sở như thuỷ lợi, giao thông, điện ... được cải thiện, đời sống nông nông dân ở hầu hết các vùng đã nâng lên rõ rệt, tỉ lệ đói nghèo giảm từ 29% xuống còn 11%. Thu nhập bình quân một nhân khẩu nông thôn tăng từ 92.100 đồng/tháng năm 1992 lên 356000đồng/tháng năm 2002. Nông nghiệp trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp đổi mới, góp phần ổn định kinh tế-xã hội và chính trị ở nước ta. Thắng lợi của phát triển nông nghiệp, nông thôn tạo tiền đề cho nước ta đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Ba và sông Kone
Số 12 (3/2006) > trang 53-58 |  PDF (247.00 KB)
Ngô Đình Tuấn, Hoàng Thanh Tùng, Nguyễn Xuân Phùng
Tóm tắt
Quản lý tổng hợp Tài nguyên nước lưu vực sông nói chung và lưu vực sông Kone, sông Ba nói riêng là vấn đề bức xúc hiện nay. Bài báo vạch ra những thuận lợi và thách thức trong phát triển kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu, đồng thời nêu lên mục tiêu, nhiệm vụ nội dung Quản lý tổng hợp Tài nguyên nước. Bài báo cũng đề cập đến Tổ chức Lưu vực sông, trong đóLưu vực sông Kone và phụ cận chỉ nên có Tổ chức Lưu vực sông cấp Tỉnh đặt dưới sự lãnh đạo của UBND Tỉnh Bình Định, còn Lưu vực sông Ba và phụ cận cần có Tổ chức lưu vực sông liên tỉnh và bài báo đã đề xuất thành lập Tổ chức Lưu vực sông Ba và phụ cận bao gồm Thành phần Hội đồng, Văn phòng, Tham gia thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng, quản lý lưu vực sông, chia sẻ thông tin và nguồn kinh phí
Một số ý kiến về sức khỏe của hệ sinh thái sông và sinh giám sát môi trường – ví dụ áp dụng sinh vật chỉ thị để giám sát môi trường hạ lưu sông Trà Khúc
Số 12 (3/2006) > trang 59-63 |  PDF (304.00 KB)
Nguyễn Văn Sỹ
Tóm tắt
Ở các nước phát triển, khái niệm sức khỏe sinh thái (ecological health) và sức khỏe hệ sinh thái sông (health of river ecosystem) và sinh giám sát (biomonitoring) môi trường bằng các sinh vật chỉ thị đã được áp dụng từ lâu, nhưng ở Việt Nam khái niệm này vẫn còn khá mới.
Báo cáo này giới thiệu một cách khái quát về khái niệm sức khỏe của hệ sinh thái (HST) sông, sự cần thiết và ưu điểm của sinh giám sát môi trường nước trong quản lý các HST sông. Báo cáo lấy ví dụ nghiên cứu lựa chọn sinh vật chỉ thị cho HST hạ lưu sông Trà Khúc để minh họa cho vấn đề này
Nghiên cứu xâm nhập mặn sử dụng bài toán lan truyền các nguồn nước thành phần:cách tiếp cận thứ hai – theo các nguồn nước không mặn và cách tiếp cận thứ ba – theo hỗn hợp ngưồn nước mặn và không mặn
Số 12 (3/2006) > trang 64-69 |  PDF (157.00 KB)
Tăng Đức Thắng
Tóm tắt
Lý thuyết lan truyền các thành phần nguồn nước có nhiều ứng dụng. Trong bài báo trước, chúng tôi đã giới thiệu ứng dụng lý thuyết này cho nghiên cứu xâm nhập mặn theo thành phần nước mặn. Trong bài này chúng tôi xin trình bày tiếp cách nghiên cứu xâm nhập mặn thứ hai là theo thành phần nước ngọt và cách thứ ba là theo phương pháp hỗn hợp. Một ví dụ tính toán minh hoạ ứng dụng cả ba phương pháp cũng được giới thiệu. Các phương pháp mới này đã thể hiện ưu điểm vượt trội so với phương pháp truyền thống và đặc biệt có lợi cho các hệ thống phức tạp.
Hệ cơ sở dữ liệu về hồ tự nhiên
Số 12 (3/2006) > trang 70-73 |  PDF (674.00 KB)
Lưu Văn Lâm
Tóm tắt
Hệ cơ sở dữ liệu về hồ tự nhiên được xây dựng dựa trên các kết quả thu được từ dự án “Điều tra trữ lượng, chất lượng nước, đánh giá vai trò tác dụng của các hồ tự nhiên có mặt nước từ 100ha trở lên” do trường Đại học Thủy lợi thực hiện từ 2003 đến 2005. Mục tiêu của phần mềm này là khai thác và phục vụ một cách thuận tiện cho công tác lưu trữ, quản lý, cập nhật và sử dụng tài liệu cũng như cho phép mở rộng ra cho các đối tượng tương tự khác khi cần.
Hệ cơ sở dữ liệu này được xây dựng trên nền Windows, bằng ngôn ngữ Visual Basic. Nó cho phép tích hợp các loại dữ liệu văn bản, bản vẽ, hình ảnh, âm thanh, phim video… Ngoài ra nó cũng được thiết kế bảo mật chỉ cho phép sửa đổi, cập nhật thông tin khi người dùng có mật khẩu truy cập vào hệ thống.
Điều kiện hình thành và các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến động thái nước dưới đất ở Đồng bằng Nam Bộ
Số 12 (3/2006) > trang 74-83 |  PDF (369.00 KB)
Đặng Hữu Ơn, Nguyễn Tiếp Tân, Đỗ Hùng Sơn
Tóm tắt
Để phân vùng động thái và từ đó rút ra quy luật phát triển động thái của nước dưới đất (NDĐ) cần phải nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của điều kiện hình thành và nhân tố ảnh hưởng đến động thái NDĐ ở Đồng bằng Nam Bộ (ĐBNB). Trên cơ sở tổng hợp những tài liệu quan trắc động thái NDĐ ở ĐBNB từ 1992 đến 2005 các tác giả đã đánh giá tác động của các nhân tố khác nhau đến động thái của nước dưới đất trong phức hệ chứa nước Holocen(qh), Pleistocen trung-thượng(qp2-3), tầng chứa nước Pleistocen hạ(qp1), phức hệ chứa nước Pliocen(n2) và Miocen(n1).
Đánh giá quá trình xâm thực bờ biển tỉnh Bình Thuận – Phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp phòng chống
Số 12 (3/2006) > trang 84-90 |  PDF (2579.00 KB)
Nguyễn Đình Vượng
Tóm tắt
Vùng bờ biển tỉnh Bình Thuận là nơi có tiềm năng về thủy hải sản, cảng biển và đặc biệt là du lịch. Tuy nhiên đây cũng là nơi bờ biển bị xâm thực diễn biến rất phức tạp và nghiêm trọng. Trong những năm qua, dọc theo đường bờ, những khu vực bị xói lở mạnh như Hàm Tiến - Mũi Né, Phước Thể... đã có nhiều dự án thử nghiệm bảo vệ bờ với những kết quả đáng kể. Tuy vậy nó vẫn còn mang tính cục bộ, những diễn biến phức tạp của hiện tượng xói bồi hiện nay ở đây chưa có những công trình nghiên cứu tổng thể, trong nghiên cứu tác động của sóng theo mùa chưa đề cập nhiều đến ảnh hưởng khúc xạ sóng do địa hình, địa mạo vùng bờ. Bài viết đánh giá quá trình xâm thực bờ biển, phân tích nguyên nhân và cơ chế sạt lở làm cơ sở đưa ra các giải pháp công trình (bảo vệ bờ trực tiếp và gián tiếp) nhằm phòng tránh giảm nhẹ thiên tai, đáp ứng yêu cầu giữ gìn, tôn tạo cảnh quan môi trường du lịch sinh thái vùng biển.
12