Số 11 (12/2005)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 12/2005
 
   
Đề xuất mô hình tổ chức quản lý môi trường cụ thể cho từng lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, sông Hương và sông Đồng Nai - Sài Gòn
Số 11 (12/2005) > trang 3-10 |  PDF (148.00 KB)
Ngô Đình Tuấn
Tóm tắt
Bài báo phân tích đặc điểm tự nhiên và xã hội của các lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy, sông Hương và sông Đồng Nai-Sài Gòn từ đó đề xuất mô hình tổ chức quản lý môi trường thích hợp cho từng lưu vực
Mô hình mô phỏng và dự báo xu thế bồi tụ, xói lở, biến đổi địa hình đáy bờ biển Hoà Duân – Thuận An – Hải Dương tỉnh Thừa Thiên Huế
Số 11 (12/2005) > trang 11-14 |  PDF (192.00 KB)
Lê Văn Thành
Tóm tắt
Khu vực nghiên cứu thuộc bờ biển hai huyện Phú Vang và Hương Trà- Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế chừng13 km về phía đông. Bờ biển dài 7800m, phía đông biển, phía tây các đầm phá: Tam Giang, Thanh Lam. Cấu tạo bờ cát, khá dốc.Trong năm chịu ảnh hưởng luân phiên của mùa gió mùa đông bắc và mùa gió mùa tây nam. Mùa gió mùa đông bắc thổi từ tháng XI đến III năm sau, mùa gió mùa tây nam thổi từ tháng V đến tháng IX, hai tháng IV và X là các tháng giao chuyển mùa. Mùa lũ bắt đầu từ tháng X đến tháng XII và mùa cạn bắt đầu từ tháng I đến tháng IX. ở đây biên độ triều rất nhỏ(trung bình 30-50cm) có thể coi là khu vực vô triều. Do bờ biển thoáng, không bị che chắn nên ảnh hưởng của gió mùa và bão nhiều gây sóng biển khá lớn. Hưóng sóng bắc, bắc đông bắc thịnh hành vào mùa đông và đông,đông đông nam thịnh hành vào mùa hè. Bờ biển bị xói lở mạnh, đã phá huỷ nhiều nhà cửa, hoa mùa, công trình ven bờ. Đặc biệt năm 1999 xói lở kết hợp với lũ đã chọc thủng cửa Hoà Duân với độ rộng 620m, xói đáy sâu 7m gây thiệt hại ngưòi và của ước tính đến hàng chục tỷ đồng. Bờ biển hiện nay đang bị đe doạ xói lở. Biết được nguyên nhân, dự báo được xu thế xói lở nhằm phòng chống, giảm nhẹ thiên tai là vấn đề bức xúc hiện nay ở Thừa Thiên -Huế.
Nghiên cứu sự biến đổi của chất dinh dưỡng trong nước sông (Lấy ví dụ cho sông Shonai-Nhật Bản)
Số 11 (12/2005) > trang 15-19 |  PDF (459.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng, Keichi Ohta
Tóm tắt
Hoạt động của con người trên bề mặt lưu vực là nguyên nhân gia tăng hàm lượng chất dinh dưỡng trong nước sông và cũng là tác nhân chính gây ra hiện tượng phú dưỡng ở vùng cửa sông ven biển. Nghiên cứu này đã đề cập tới sự biến đổi của chất dinh dưỡng trong nước sông theo không gian cũng như theo thời gian. Mặt khác, để giải quyết những khó khăn khi xác định nguồn gốc cung cấp chất dinh dưỡng cho dòng chảy sông ngòi, chúng tôi đã tiến hành phân tích đồng vị của nitơ trong tảo. Kết quả thu được cũng giúp cho việc đánh giá hiệu quả của qui trình xử lý nước thải đã được lựa chọn
Lũ và vấn đề tính toán lũ quét IX/2002 trên sông Ngàn Phố
Số 11 (12/2005) > trang 20-25 |  PDF (481.00 KB)
Hoàng Ngọc Quang
Tóm tắt
Sông Ngàn Phố là sông nhánh cấp II của sông Cả, có diện tích 1101 km2 nằm trên huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh là lưu vực không lớn lắm, có mùa lũ ngắn nhưng trong những năm gần đây nhiều trận lũ lớn, lũ quét đã liếp tiếp xẩy ra.
Lưu lượng lũ lớn nhất trung bình nhiều năm trên sông Ngàn Phố thường đạt khoảng 1569m3/s nhưng vận tốc, cường suất lũ rất lớn và thời gian lũ lên lại rất ngắn. Trong 5 trận lũ lớn xẩy ra trong những năm gần đây: 1978, 1983, 1988, 1989 và 2002, lũ IX/2002 là lớn nhất gây hậu quả hết sức nặng nề: về mức độ ngập lụt, số người chết và thiệt hại lên đến gần 900 tỉ đồng.
Sự hình thành lũ quét IX/2002 là do mưa lớn được tạo ra bởi sự tổ hợp của các hình thế thời tiết nguy hiểm (áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ, lưỡi áp cao), sự mở rộng ở thượng lưu và thu hẹp ở hạ lưu lưu vực, do cản dòng của các tuyến giao thông, do sự xuất hiện đồng thời của lũ sông chính, do cấu tạo bở rời của đất đá dễ ngấm nước ...
Nước lũ lên cao và nhanh đã làm vô hiệu hoá các công trình thuỷ văn nên đỉnh lũ lớn nhất không đo được và vì thế nhiều người bằng cách này, cách khác tìm cách khôi phục lại. Có nhiều phương pháp khôi phục đỉnh lũ đã được áp dụng: Phương pháp kéo dài phần mực nước cao theo quan hệ Q=f(H), phương pháp tổng hợp đia lý, phương pháp điều tra thuỷ văn .. và kết qủa tính toán đã cho Qmax=5200 m3/s tại Sơn Diệm. Đây là kết qủa hợp lý, có thể chấp nhận được
Tận dụng khả năng trữ nước của hồ tự nhiên để phục vụ chống hạn
Số 11 (12/2005) > trang 26-29 |  PDF (234.00 KB)
Lưu Văn Lâm
Tóm tắt
Việt Nam có hàng trăm hồ/đầm nước tự nhiên, trong đó có hàng chục hồ có diện tích mặt nước lớn hàng trăm ha. Ngoài việc là nơi bảo tồn sự đa dạng sinh học, tạo cảnh quan du lịch, tạo điều kiện cho phát triển dân cư, kinh tế, xã hội đây còn là một phần tài nguyên có vai trò quan trọng trong việc trữ nước, cấp nước, tiếp nhận và điều hoà cho việc tiêu thoát nước đối với nhiều vùng, nhiều địa phương.
Khi sử dụng hồ tự nhiên để cấp nước cho tưới thì các công trình ngăn nước, tháo lũ, công trình trên hệ thống… có qui mô không phức tạp, đầu tư ít tốn kém. Khi lựa chọn được giải pháp thích hợp về đầu mối và khu tưới sẽ cho hiệu quả cao. Tuy nhiên cần đánh giá khả năng dung tích của chúng để có cơ sở trữ nước. Báo cáo này trình bày một cơ sở để lựa chọn khi nâng cấp hồ tự nhiên với mục đích trữ nước góp phần hạn chế tình trạng hạn trên diện rộng hiện nay .
Hạ chìm kết cấu (dạng thanh) đàn hồi, đồng chất có tiết diện không đổi váo đất được gây ra do hai máy rung
Số 11 (12/2005) > |  PDF (220.00 KB)
Nguyễn Đắc Hưng
Tóm tắt
Trong tài liệu [2] và [6], một số tác giả đã nghiên cứu dao động dọc của thanh đàn hồi, đồng chất, có tiết diện không đổi, chịu lực kích động điều hoà gây ra bởi 1 máy rung gắn chặt với kết cấu. Nghiệm của bài toán viết dưới dạng hàm biến phức, nên rất khó ứng dụng trong kỹ thuật.
Trong công trình này, tác giả thiết lập và giải bài toán dao động của kết cấu dạng thanh đàn hồi, đồng chất, có tiết diện không đổi đều, chịu lực cản mặt đầu và lực cản mặt bên. Lực cưỡng bức tác dụng lên kết cấu được gây ra bởi 2 máy rung được ghép mềm với nhau, với một máy gắn chặt vào mút trên của kết cấu. Nghiệm của bài toán được tác giả tìm dưới dạng hàm sơ cấp. Kết quả này cùng với công trình [7] đã tạo thêm cơ sở khoa học cho phép thử nghiệm hạ chìm kết cấu có tiết diện không đổi vào đất.
Mô hình bất định trong Microsoft Excel - Tính toán điều tiết hồ chứa nước nhà máy thuỷ điện trong điều kiện thông tin bất định
Số 11 (12/2005) > trang 35-42 |  PDF (794.00 KB)
Trần Trí Dũng
Tóm tắt
Như đã biết, trong Microsoft Excel có software tương tác “Solver” do Frontline Systems, Inc (USA) phát triển để hỗ trợ khả năng giải các mô hình bài toán dữ liệu tất định (certain data). Tác giả bài báo đã có dịp trình bày việc sử dụng Excel –Solver trong các bài toán chuyên ngành trên Tập san “Điện & Đời sống” và trong cuốn sách chuyên khảo “Excel –Solver cho kỹ sư”.1
Với các mô hình bài toán dữ liệu bất định (uncertain data) hoặc biến ngẫu nhiên (random variables), Microsoft Excel có software tương tác “Crystal Ball” do Decisioneering Inc (USA) phát triển 2. Đây là một software mà hầu hết các công ty Tư vấn quốc tế, các đại công ty sản xuất & kinh doanh, các trường Đại học nổi tiếng ở Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, TQ.., dùng trong nghiên cứu, phân tích rủi ro, chiến lược đầu tư & phát triển và giảng dạy.
Với software “Crystal Ball” ta có thể
Mô phỏng (Monte Carlo simulation) không gian xác suất kết quả đầu ra (outputs) của mô hình toán khi một hoặc nhiều dữ liệu vào (input data) là biến ngẫu nhiên có hàm phân bố xác suất tuỳ biến (theo lý thuyết hoặc dữ liệu thống kê)
Tìm nghiệm tối ưu của mô hình toán khi một hoặc nhiều dữ liệu vào (input data) là biến ngẫu nhiên có hàm phân bố xác suất tuỳ biến .
Nghiên cứu ứng dụng mô hình IQQM trong tính toán cân bằng nước
Số 11 (12/2005) > trang 43-49 |  PDF (330.00 KB)
Phạm Thị Hương Lan, Vũ Minh Tuệ
Tóm tắt
Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là nguồn lực cơ bản cho sự phát triển nông nghiệp và kinh tế, nó kéo theo sự thay đổi nguồn lực đất đai, nguồn lực lao động, nguồn lực tài chính,… Việc sử dụng hợp lý tài nguyên nước đang là vấn đề được quan tâm của các nhà khoa học, trong đó việc tính toán cân bằng nước hệ thống trên lưu vực là bước đi quan trọng trong quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước. Bài báo đi sâu giới thiệu việc nghiên cứu ứng dụng mô hình IQQM trong tính toán cân bằng nước hệ thống lưu vực sông. Mô hình IQQM (Integrated Quality and Quantity Model) là một mô hình được ứng dụng trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước với giao diện Windows dễ sử dụng, kết nối với GIS, việc ứng dụng thành công mô hình IQQM sẽ là tiền đề trong việc tính toán cân bằng nước hệ thống cho các lưu vực khác ở Việt Nam. Bài báo đi sâu nghiên cứu giới thiệu việc ứng dụng mô hình IQQM trong tính toán cân bằng nước hệ thống lưu vực sông Krông Pô Kô thuộc khu vực Tây Nguyên nước ta
Tính chập suy rộng của các phép biến đổi tích phân Fourier consine và kontorovich – lebedev với hàm trọng
Số 11 (12/2005) > trang 50-55 |  PDF (149.00 KB)
Trịnh Tuân
Tóm tắt
Xây dựng tính chập suy rộng của các phép biến đổi tích phân Fourier consine và kontorovich – lebedev từ đó tìm hiểu các tính chất của nó. ứng dụng tích chập này vào giải hệ phương trình tích phân
Một số đặc điểm phù sa trong nước lũ đến vùng đồng Tháp Mười
Số 11 (12/2005) > trang 56-62 |  PDF (548.00 KB)
Đặng Hòa Vĩnh
Tóm tắt
Nước lũ gắn liền với phù sa, nước ngọt, vệ sinh đồng ruộng và nguồn lợi thuỷ sản. Tuy nhiên lợi ích này chỉ trở thành thực tế khi chúng ta đưa đựơc nước lũ mang nhiều phù sa chảy tràn và đều trên đồng ruộng. Bài viết phân tích một số đặc điểm thủy văn có ảnh hưởng đến sự vận chuyển phù sa vào ĐTM, giới thiệu một số kết quả nghiên cứu về chế độ phù sa, tính chất thành phần hạt và đặc điểm phân bố phù sa trên mặt cắt dòng chảy, dọc theo các tuyến chảy trong nội đồng vùng ĐTM.
Nghiên cứu xâm nhập mặn sử dụng bài toán lan truyền các nguồn nước thành phần: cách tiếp cận thứ nhất - nghiên cứu theo các nguồn nước mặn thành phần
Số 11 (12/2005) > trang 63-66 |  PDF (157.00 KB)
Tăng Đức Thắng
Tóm tắt
Lý thuyết lan truyền các thành phần nguồn nước được đề nghị năm 1996 và đã phát triển mạnh từ đó đến nay. Có ba phương pháp nghiên cứu xâm nhập mặn sử dụng lý thuyết này: Phương pháp thứ nhất - nghiên cứu xâm nhập mặn sử dụng thành phần nước mặn; Phương pháp thứ hai – Nghiên cứu xâm nhập mặn sử dụng thành phần nước ngọt; và Phương pháp thứ ba – Nghiên cứu xâm nhập mặn theo phương pháp hỗn hợp. Bài này sẽ giới thiệu về cách tiếp cận thứ nhất sử dụng lý thuyết lan truyền các nguồn nước thành phần để nghiên cứu xâm nhập mặn trong hệ thống. Trường hợp riêng của phương pháp này chính là phương pháp truyền thống mà chúng ta thường sử dụng hiện nay.
Vì sao có nhiều cách vẽ đường ô van
Số 11 (12/2005) > trang 67-72 |  PDF (618.00 KB)
Đỗ Thụy Đằng
Tóm tắt
Bài toán vẽ đường ô van có các bán trục cho trước là đa nghiệm, cho nên đang tồn tại cả cách vẽ tổng quát toàn họ đường ô van đó và cách vẽ riêng từng đường ô van trong họ đó.
Một số vấn đề mới đã được giới thiệu trong tiêu chuẩn thi công đập đất đầm nén 14TCN - 20 – 2004
Số 11 (12/2005) > trang 73-76 |  PDF (95.00 KB)
Lê Đình Chung
Tóm tắt
Trong vài chục năm gần đây, việc thi công đập đất bằng phương pháp đầm nén ở nước ta không ngừng phát triển cả về số lượng, quy mô cũng như về công nghệ, máy móc, thiết bị. Ngoài ra còn phải giải quyết những vấn đề có liên quan đến luật xây dựng. Để đáp ứng yêu cầu phát triển đó, Bộ NN&PTNT đã cho biên soạn và phát hành tiêu chuẩn mới: "14TCN 20-2004: Yêu cầu kỹ thuật thi công đập đất bằng phương pháp đầm nén". Trong bài báo cáo này tác giả sẽ trình bày những vấn đề mới đã được bổ sung trong tiêu chuẩn mới này.
Nghiên cứu các vấn đề thuỷ lực nối tiếp và tiêu năng sau máng phun của đường tràn tháo lũ
Số 11 (12/2005) > trang 77-81 |  PDF (317.00 KB)
Nguyễn Chiến, Trần Mạnh Cường
Tóm tắt
Tiêu năng bằng máng phun sau đường tràn tháo lũ là một giải pháp công trình hợp lý khi nền hạ lưu là đá và đường tràn có cột nước tương đối lớn. Hiện tại có rất nhiều công thức tính toán chiều dài phóng xa của làn nước và độ sâu hố xói. Bằng phân tích lý luận và đối chiếu kết quả tính toán với hố xói thực tế của nhiều công trình, trong bài đã lựa chọn và kiến nghị các công thức tính toán phù hợp nhất. Bài báo cũng giới thiệu chương trình tính toán thủy lực tràn máng phun do các tác giả lập và đã được ứng dụng trong tính toán thực tế