Số 10 (9/2005)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9/2005
 
   
Xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất các tiêu chí phân loại các lưu vực sông của Việt Nam trên quan điểm bảo vệ môi trường
Số 10 (9/2005) > trang 3-9 |  PDF (171.00 KB)
Ngô Đình Tuấn
Tóm tắt
Bài báo hệ thống hoá các tiêu chí phân loại các lưu vực sông theo quan điểm địa lý và quản lý. Từ đó tác giả đề xuất tiêu chí phân loại các lưu vực sông Việt Nam trên quan điểm bảo vệ môi trường với 4 cấp sông: Lành mạnh, khoẻ, trung bình, yếu.
Mô hình số trị tính toán trường sóng cho vùng ven bờ biển có độ dốc thoải
Số 10 (9/2005) > trang 10-17 |  PDF (473.00 KB)
Vũ Thanh Ca
Tóm tắt
Một mô hình số trị tính toán trường sóng ven bờ phải thoả mãn được các yêu cầu là có thể tính toán được trường sóng cho vùng ven bờ với địa hình đáy rất phức tạp có sự hiện diện của các công trình biển với độ chính xác cho phép nhưng đòi hỏi một thời gian tính toán đủ ngắn và một dung lượng bộ nhớ đủ nhỏ để có thể áp dụng được cho điều kiện nước ta. Mặc dù có những đòi hỏi thực tế, nhưng ở ta vẫn còn thiếu một mô hình đáp ứng được các yêu cầu trên. Các mô hình số trị tính toán trường sóng ven bờ hiện đang được sử dụng ở nước ta có thể được phân chia thành hai loại: loại thứ nhất là các mô hình sóng tuyến tính cho phép tính được trường sóng ven bờ có tính đến các hiệu ứng khúc xạ, nước nông, sóng vỡ và nhiễu xạ yếu (như mô hình RCPWAVE, Ebersole, 1985), hoặc là không tính đến nhiễu xạ nhưng lại tính đến sự phát sinh năng lượng sóng do gió (như mô hình SWAN).
Nghiên cứu cơ chế gây bồi lấp cửa Tư Hiền Thừa Thiên Huế – Việt Nam.
Số 10 (9/2005) > trang 18-25 |  PDF (537.00 KB)
Trần Thanh Tùng
Tóm tắt
Dải bờ biển miền Trung Việt Nam có hơn 60 lạch triều và cửa sông chảy ra biển. Các cửa sông và lạch triều này (dưới đây gọi chung là cửa biển) có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của các Tỉnh ven biển Miền Trung. Hiện tượng bồi lấp, dịch chuyển các cửa biển tại những thời điểm không mong muốn là một dạng tai biến ven bờ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho kinh tế - dân sinh và sinh thái môi trường. Những năm gần đây, hiện tượng này trở nên phổ biến và đã gây nên các tác động không nhỏ về nhiều mặt cho các địa phương. Hiểu rõ quá trình động lực và cơ chế gây bồi lấp cửa sẽ cho phép tiếp cận tới những giải pháp có tính thực tiễn và khả thi nhằm ngăn ngừa, hạn chế hoặc ứng xử thích hợp đối với dạng tai biến trên. Cửa biển Tư Hiền ở bờ biển miền Trung Việt Nam, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế được chọn làm trường hợp nghiên cứu thí điểm cho vấn đề này. Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu bước đầu về cơ chế gây bồi lấp cửa Tư Hiền.
Các vấn đề ưu tiên đối với quản lý tài nguyên nước tại lưu vực Srêpôk
Số 10 (9/2005) > trang 26-30 |  PDF (436.00 KB)
Phạm Tấn Hà
Tóm tắt
Khái niệm quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực đã được nhà nước ta đặc biệt quan tâm hiện nay. Các tổ chức lưu vực sông với chức năng thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực đã lần lượt ra đời (sông Hồng – Thái Bình, đồng bằng sông Cửu Long, sông Đồng Nai) với sự tài trợ của các tổ chức quôc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu ADB, tổ chức phát triển Úc – AuSaid sự hoạt động của các tổ chức này còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Đánh giá thiệt hại lũ đồng bằng sông Cửu Long
Số 10 (9/2005) > trang 31-39 |  PDF (249.00 KB)
Phạm Ngọc
Tóm tắt
Lũ ở đồng bằng sông Cửu Long đã gây ra những ảnh hưởng lớn tới những hoạt động kinh tế xã hội, và gây thiệt hại những tài sản của người dân sống trong vùng ngập lũ. Việc dự báo với những thông tin chi tiết về lũ như: phạm vi không gian, độ ngập và khoảng thời gian ngập, cùng với những thiệt hại mà nó gây ra thì rất cần thiết cho những công việc giảm thiểu thiên tai lũ lụt. Trong nghiên cứu này với sự trợ giúp của mô hình VRSAP, và kết quả điều tra thực địa về thiệt hại do trận lũ 2000, những thông số cơ bản của lũ và thiệt hại kinh tế do những trận lũ có tần suất khác nhau gây ra ở ĐBSCL đã được tính toán và thảo luận. Những thiệt hại đã được tính toán bao gồm những thiệt hại trực tiếp, gián tiếp, và hữu hình cho 4 loại sử dụng đất khác nhau (dân cư, thương nghiệp, công nghiệp, và cơ sở hạ tầng). Đồng thời, đường cong tần suất - thiệt hại, quan hệ giữa tần suất lũ tại Kratie và những thiệt hại kinh tế tiềm tàng, đã được xây dựng, rất có ích cho việc ước tính thiệt hại nhanh hỗ trợ cho việc lập kế hoạch những công việc cứu trợ, hỗ trợ cho những người dân bị ảnh hưởng, các biện pháp phòng chống…
Tác động của khai thác sử dụng nguồn nước đến biến đổi dòng chảy sông ngòi ở Việt Nam
Số 10 (9/2005) > trang 40-46 |  PDF (177.00 KB)
Nguyễn Văn Thắng
Tóm tắt
Các hoạt động khai thác và sử dụng nguồn nước, đặc biệt là việc xây dựng và vận hành các đập và hồ chứa nước trong nửa thế kỷ vừa qua đã gia tăng rất nhanh chóng ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu nước và cung cấp nguồn điện năng cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên các hoạt động này cũng có những tác động tiêu cực nhất định làm biến đổi dòng chảy tự nhiên của sông, nhất là đã làm suy thoái và cạn kiệt nguồn nước một số lưu vực sông hoặc những khu vực nhất định. Báo cáo này đánh giá về thực trạng các tác động trên cũng như những hậu quả môi trường của chúng và đưa ra những ý kiến về các biện pháp để quản lý và kiểm soát hạn chế các tác động tiêu cực đó.
Phương pháp luận tính toán giá trị kinh tế nước
Số 10 (9/2005) > trang 47-51 |  PDF (128.00 KB)
Phạm Hùng
Tóm tắt
Ngày nay nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng, góp phần chủ yếu vào sự ổn định chính trị cũng như phát triển bền vững. Phát triển tài nguyên nước đang là mối quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế và mỗi quốc gia. Tuy nhiên hiện nay nguồn tài nguyên này đang bị suy thoái đe doạ sự sử dụng lâu bền của con người Do vậy đòi hỏi phải có nhận thức mới về tài nguyên nước và coi nước là một tài nguyên có giá trị kinh tế. Nhận thức điều đó tác giả đề xuất cơ sở khoa học cho việc xác định giá trị kinh tế của nước.
Sử dụng chỉ số cấp nước mặt SWSI để đánh giá và giám sát hạn hán ở lưu vực sông Ba
Số 10 (9/2005) > trang 52-55 |  PDF (201.00 KB)
Nguyễn Quang Kim
Tóm tắt
Chỉ số cấp nước mặt SWSI là một chỉ số hạn tổng hợp, kể đến đầy đủ các thành phần nguồn nước trong lưu vực. Đối với tất cả các vùng ở Việt Nam, các thành phần nguồn nước mặt bao gồm mưa, dòng chảy mặt và hồ chứa. Tài liệu về mưa ở tất cả các vùng trên toàn quốc đều khá đầy đủ, tài liệu dòng chảy mặt cũng có ở hầu hết các hệ thống sông lớn và vừa. Mặc dù tài liệu về mực nước (dung tích) các hồ chứa còn ít nên việc áp dụng chỉ số SWSI vào giám sát và cảnh báo hạn hán vẫn còn gặp khó khăn, tuy nhiên kết quả tính toán chỉ số SWSI lược hóa (bỏ qua thành phần nguồn nước hồ chứa) cho lưu vực sông Ba cho thấy sự phù hợp tốt giữa SWSI với diễn biến hạn hán thực tế trong khu vực. Bởi vậy, nên nghiên cứu áp dụng chỉ số này để phân tích và giám sát hạn cho các lưu vực khác ở nước ta. Để nâng cao chất lượng dự báo và cảnh báo cũng như để quản lý khai thác có hiệu quả tài nguyên nước cần sớm xây dựng và hoàn thiện mạng lưới quan trắc khí tượng, thủy văn sông ngòi và hồ chứa.
Một số yêu cầu kỹ thuật trong giám sát chất lượng trong thi công đập đất
Số 10 (9/2005) > trang 56-59 |  PDF (320.00 KB)
Lê Xuân Roanh
Tóm tắt
Việc xây dựng hồ chứa còn là nhu cầu lớn của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Công trình tạo nên hồ chứa thường gồm đập dâng, đập tràn, cống lấy nước và có thể có thêm công trình khác. Việc xây dựng đập dâng xu thế sử dụng vật liệu địa phương được ưu tiên hơn cả vì những ưu việt của nó. Qua quá trình xây dựng đập vật liệu là đất, chúng ta đá có nhiều bài học kinh nghiệm. Bài báo này xin nêu những vấn đề cơ bản trong khống chế chất lượng của quá trình thi công. Những kinh nghiệm này được rút ra từ thực tế thi công của nhiều công trình.
Phân tích giới hạn kết cấu có nút cứng và liên kết đàn hồi phi tuyến
Số 10 (9/2005) > trang 60-64 |  PDF (148.00 KB)
Cao Văn Mão
Tóm tắt
Bài toán tìm tải trọng giới hạn của kết cấu có nút cứng và liên kết đàn hồi phi tuyến được trình bày trong bài báo này.
Trên cơ sở các giả thiết cơ bản và thuật toán của bài toán phân tích giới hạn theo phương pháp gia tải từng bước, một chương trình tính toán kết cấu có nút cứng và liên kết đàn hồi phi tuyến được xây dựng bằng ngôn ngữ Pascal.
Kết quả tính toán theo chương trình được so sánh với các phương pháp kinh điển khác và cho thấy thuật toán và chương trình đảm bảo độ tin cậy.
Tình hình sử dụng máy bơm chìm và xây dựng trạm bơm lắp đặt máy bơm chìm để tưới ở CHDCND Lào
Số 10 (9/2005) > trang 65-70 |  PDF (118.00 KB)
Somphone THANASACH, Lê Chí Nguyện
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu những nét chính về đặc điểm tự nhiên của Lào, tình hình tưới nước và quá trình phát triển của máy bơm và trạm bơm phục vụ tưới tiêu ở Lào. Bài báo nhấn mạnh vai trò của máy bơm chìm trong việc đảm bảo tưới cho các vùng có mực nước nguồn thay đổi lớn cũng như yêu cầu cần nghiên cứu mở rộng phạm vi áp dụng máy bơm chìm ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào.
Mở rộng các kết quả nghiên cứu bộ hấp thụ dao động đối với hệ con lắc ngược cho trường hợp con lắc thuận
Số 10 (9/2005) > trang 71-75 |  PDF (201.00 KB)
Nguyễn Đông Anh, Khổng Doãn Điền, Nguyễn Duy Chinh
Tóm tắt
Các bộ hấp thụ dao động cho hệ con lắc ngược [7] đã được NGUYỄN ĐÔNG ANH, KHỔNG DOÃN ĐIỀN, NGUYỄN DUY CHINH nghiên cứu. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đó, trong bài báo này các tác giả phát triển, mở rộng để tìm các thông số tối ưu cho hệ con lắc thuận trên cơ sở lí luận khoa học.
Vận tốc lún của đáy cọc đóng trong nền hai lớp
Số 10 (9/2005) > trang 76-80 |  PDF (189.00 KB)
Nguyễn Thị Thanh Bình
Tóm tắt
Để xác định độ lún của cọc đóng trong một nhát búa ta phải biết được vận tốc lún của đáy cọc. Trong [5 ] đã xác định vận tốc lún của đáy cọc đóng trong nền một lớp. ở bài báo này sử dụng phương pháp lan truyền sóng và kết hợp với chương trình máy tính tác giả sẽ xác định vận tốc lún của đáy cọc đóng trong nền hai lớp với ma sát mặt bên khác nhau và đáy cọc gặp lực chống không đổi.
Nghiên cứu dao động dọc của kết cấu (dạng thanh) đàn hồi, đồng chất có tiết diện thay đổi đều gây ra do hai máy rung.
Số 10 (9/2005) > trang 81-88 |  PDF (271.00 KB)
Nguyễn Đình Chiều, Nguyễn Đắc Hưng
Tóm tắt
Trong công trình [2] và [6], một số tác giả quan tâm nghiên cứu bài toán dao động dọc của thanh đàn hồi, đồng chất, có tiết diện không đổi chịu tác động của lực kích động điều hoà gây ra bởi 1 máy rung gắn chặt với kết cấu. Nghiệm của bài toán viết dưới dạng hàm biến phức, nên rất khó sử dụng trong kỹ thuật.
Trong công trình này, các tác giả đã giải bài toán dao động của kết cấu (dạng thanh) đàn hồi, đồng chất có tiết diện thay đổi đều, chịu lực cản mặt đầu. Lực tác dụng lên kết cấu được gây ra bởi ghép 2 máy rung. Bằng thuật toán riêng, lần đầu tiên các tác giả đã tìm được nghiệm giải tích trong 3 trường hợp khác nhau tuỳ thuộc vào những thông số ban đầu của bài toán. Nghiệm được biểu diễn dưới dạng hàm sơ cấp nên rất thuận tiện cho việc sử dụng trong tính toán. Kết quả này mở ra hướng giải bài toán trong trường hợp hạ kết cấu đàn hồi, đồng chất có tiết diện thay đổi đều vào đất, khi kết cấu chịu lực tương tác phức tạp hơn.