Số 9 (6/2005)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2005
 
   
Nghiên cứu tình hình xâm thực bề mặt dốc nước và mũi phun ở đường tràn xả lũ hồ chứa nước Kẻ Gỗ và biện pháp khắc phục
Số 9 (6/2005) > trang 13-17 |  PDF (295.00 KB)
Nguyễn Chiến, Trần Mạnh Cường
Tóm tắt
Xuất phát từ thực tế xâm thực bề mặt dốc nước và mũi phun của đường tràn Kẻ Gỗ, bài báo đã chỉ ra được nguyên nhân hư hỏng là do khí thực. Đáng chú ý là khí thực đã xẩy ra khi lưu lượng xả qua tràn còn nhỏ hơn nhiều so với QTK; điều này cho thấy sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp phòng chống khí thực để công trình được an toàn khi làm việc với QTK. Trong bài, các biện pháp phòng khí thực cho tràn Kẻ Gỗ đã được tình toán và kiến nghị.
Phương pháp thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn
Số 9 (6/2005) > trang 18-21 |  PDF (188.00 KB)
Nguyễn Như Oanh
Tóm tắt
Cho đến nay vẫn chưa có quy định thống nhất đối với các phương pháp thiết kế cấp phối BTĐL. Hiện nay đã có mấy phương pháp tính toán cấp phối BTĐL và mỗi phương pháp có sự khác nhau đôi chút, vì mỗi phương pháp có cách thành lập khác nhau. Nhưng hầu hết các phương pháp đều phải dùng một số giả định và kinh nghiệm, mỗi phương pháp đã phân tích được lý luận để thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn, hiện nay đang từng bước nghiên cứu và đã đạt được nhiều kết quả tốt. Dưới đây giới thiệu sơ lược các bước thiết kế cấp phối BTĐL, sau đó đối với một số phương pháp thiết kế cấp phối cho mỗi công trình có tính đại biểu sẽ giới thiệu thêm
Nghiên cứu cơ sở điều hành hệ thống hồ chứa thượng nguồn sông Hồng chống lũ hạ du
Số 9 (6/2005) > trang 22-26 |  PDF (677.00 KB)
Lâm Hùng Sơn
Tóm tắt
Các hồ chứa lớn hiện có đã góp phần chống lũ rất có hiệu quả trong thời gian qua. Đó là nhờ vào công tác dự báo và điều hành chống lũ khá tốt dựa trên quy trình vận hành hồ chứa Hoà Bình chống lũ với sự trợ giúp của mô hình toán điều hành hệ thống công trình chống lũ. Tuy nhiên cũng mới chỉ giảm được sự cách biệt trong điều hành cắt lũ của hồ chứa giữa các năm lũ lớn, vừa và nhỏ đến một mức nhất định. Bài viết phân tích các lý do của sự hạn chế nói trên và giới thiệu các cơ sở mang tính khoa học cho việc thiết lập quy trình điều hành hệ thống khi công tác dự báo được cải thiện hơn, đặc biệt là khi có thêm các hồ chứa lớn ở thượng nguồn.
Một số vấn đề khi sử dụng phương pháp ghép lớp để phân tích ứng suất trong đập bê tông trọng lực theo quá trình xây dựng
Số 9 (6/2005) > trang 27-30 |  PDF (215.00 KB)
Đỗ Văn Lượng
Tóm tắt
Đập bê tông trọng lực thường được xây dựng theo từng lớp. Do đó tuổi của các lớp sẽ khác nhau đẫn đến môđun đàn hồi, độ từ biến và nhiệt độ trong các lớp khác nhau cũng khác nhau. Như vậy là trường ứng suất trong thân đập cũng bị ảnh hưởng bởi quá trình xây dựng. Để phản ánh quá trình xây dựng thì ứng suất trong đập thường được tính toán theo từng lớp. Điều này thì thật là khó khăn, bởi vì trong 1 đập bê tông cao thường có khoảng 100÷150 lớp. Một phương pháp mới – Phương pháp ghép lớp được giới thiệu trong bài báo này. Đập được chia ra thành vài vùng: ở phần phía trên của đập, ứng suất được tính toán theo từng lớp, còn ở phần phía dưới thì một vài lớp được kết hợp thành một lớp. Kết quả là số lớp của đập giảm xuống còn khoảng10÷15 lớp, vì vậy việc tính toán được đơn giản đáng kể mà kết quả tính toán vẫn đảm bảo yêu cầu
Nghiên cứu ứng suất kéo của cọc bê tông đóng trong nền một lớp đáy cọc tựa trên nền cứng ngay sau khi va chạm
Số 9 (6/2005) > trang 31-36 |  PDF (257.00 KB)
Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Huyên
Tóm tắt
Trên cơ sở lý thuyết va chạm dọc của hai thanh đàn hồi, một số tác giả đ• ứng dụng vào bài toán đóng cọc bê tông bằng búa Diezel với bộ phận va đập là pittông. Nội dung của bài báo sẽ nghiên cứu trạng thái ứng suất kéo của cọc bê tông đóng trong nền một lớp đáy cọc tựa trên nền cứng ngay sau khi va chạm.
Nghiên cứu sự phụ thuộc trạng thái ứng suất của các đặc tính biến dạng của cát Hải Phòng và cát Hải Dương.
Số 9 (6/2005) > Trang 62-70 |  PDF (750.00 KB)
Nguyễn Hồng Nam, Nguyễn Đình Khiêm
Tóm tắt
Nghiên cứu sự phụ thuộc trạng thái ứng suất của các đặc tính biến dạng của đất cát có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế tường chắn, đặc biệt tại những khu vực biên giới, ven biển, vật liệu đất đắp và đất nền phần lớn là đất cát, chiều dày phân bố lớn. Nghiên cứu thực nghiệm trong phòng trên các máy nén 3 trục và máy nén cố kết 1 trục, sử dụng 2 loại vật liệu: cát chặt Đồ Sơn (Hải Phòng) ở trạng thái tự nhiên (emax=1.147, emin= 0.773, eo= 0.835, Dro=83.4%) và cát Chí Linh (Hải Dương) được chế bị với dung trọng khô bằng 95% dung trọng khô lớn nhất (emax= 0.811, emin=0.627, eo= 0.690, Dro=65.8%) cho thấy sự phụ thuộc trạng thái ứng suất của các đặc tính biến dạng của đất cát. Quan hệ ứng suất-biến dạng của 2 loại cát nói trên trong các thí nghiệm nén 3 trục, thoát nước có thể được mô phỏng hợp lý bởi mô hình Hardening Soil (Schanz, 1998).
Dao động của kết cấu được hạ chìm vào đất bằng hai máy rung
Số 9 (6/2005) > trang 37-41 |  PDF (208.00 KB)
Nguyễn Đình Chiều, Nguyễn Đắc Hưng
Tóm tắt
Hiện nay, trong xây dựng có nhiều phương pháp hạ kết cấu (cọc, ống, ván cừ thép,…) vào đất, trong đó có phương pháp rung động. Nhiều tác giả đã quan tâm đến phương pháp này, nhưng chủ yếu nghiên cứu hệ (máy rung – kết cấu hạ chìm trong đất) với mô hình một bậc tự do. Đối với hệ nhiều bậc tự do còn ít được nghiên cứu giải quyết và nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ cả về lý thuyết và thực tế.
Trong công trình này, các tác giả đã khảo sát bài toán đối với hệ (các máy rung – kết cấu hạ chìm trong đất) với mô hình hai bậc tự do, có kể đến tính chất đàn nhớt của môi trường đất ở mặt đầu và lực cản mặt bên của kết cấu. Bằng thuật toán riêng, các tác giả đã tìm được nghiệm giải tích đối với hệ PTVP chuyển động dao động của hệ. Kết quả này làm cơ sở để nghiên cứu giải quyết các bài toán khi có sự làm việc đồng thời của một số máy kích động rung vói các điều kiện tương tác phức tạp hơn.
Đánh giá tiềm năng nguồn nước mặt cho cây trẩu ở Điện Biên - Lai Châu
Số 9 (6/2005) > trang 42-47 |  PDF (174.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng
Tóm tắt
Điện Biên - Lai Châu có tiềm năng nguồn nước mặt thuộc vào loại trung bình trên lãnh thổ Việt Nam, lượng mưa bình quân năm dao động từ (1400ữ2700)mm và tổng lượng dòng chảy mặt được sinh ra là 18,5.109m3 ứng với lớp dòng chảy 1100mm. Với tổng diện tích trên 4463,2ha cây trẩu hiện đang được trồng ở Điện Biên – Lai Châu nằm ở các đai cao từ 800m trở xuống đều nằm trong các vùng mà lượng trữ ẩm tiềm tàng lãnh thổ khá thỏa mãn. Nếu xét riêng về chế độ nước, cũng như lượng trữ ẩm tiềm tàng của tỉnh khá thích hợp để phát triển mạnh cây trẩu với mức độ thuận lợi giảm dần từ Bắc xuống Nam.
Một mô hình số trị tính toán sự truyền lũ trên địa hình rất phức tạp
Số 9 (6/2005) > trang 48-52 |  PDF (390.00 KB)
Vũ Thanh Ca, Trần Thục
Tóm tắt
Báo cáo này trình bày một mô hình số trị tính toán sự truyền lũ như lũ quét gây ra do mưa lớn ở thượng nguồn suối hay lũ gây ra do vỡ đập trên một địa hình rất phức tạp. Để tiết kiệm thời gian tính toán, mô hình cho phép sử dụng lưới tính có kích thước lớn. Với lưới tính này, một phương pháp tương tự như phương pháp thể tích lỏng (Volume of Fluid hay VOF) đã được áp dụng để tính toán với độ chính xác cao vị trí của mặt sóng lũ và diện tích chứa nước bên trong mỗi mắt lưới. Trong đó, các khái niệm diện tích ướt (được định nghĩa là tỷ số của diện tích chứa nước trong mỗi mắt lưới và tổng diện tích của mắt lưới đó) và chiều dài ướt (được định nghĩa là tỷ số giữa chiều dài có dòng chảy trên mỗi cạnh của mắt lưới và tổng chiều dài của cạnh đó) được các tác giả đưa ra. Ảnh hưởng ngăn trở dòng chảy theo các hướng khác nhau của các công trình xây dựng như đường sá, nhà cửa v.v… hay các vùng đất cao trong mỗi mắt lưới cũng được tính đến. Mô hình số trị này đã được kiểm chứng bằng các số liệu thực nghiệm trên mô hình vật lý bài toán vỡ đập của Martin và Moyce cũng như các mô kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác trên thế giới. Các kết quả kiểm chứng cho thấy mô hình cho phép tính toán sự lan truyền của lũ mạnh và rất mạnh như lũ quét, lũ gây ra do vỡ đập trên các địa hình rất phức tạp với độ chính xác cao. Mô hình số trị đã được áp dụng để tính lan truyền lũ do vỡ đê biển và do sóng vượt đê gây ra phục vụ cho việc lập bản đồ thiên tai tại vùng bờ biển Suruga của Nhật bản. Trong tương lai, mô hình này có thể được áp dụng để tính toán ở Việt nam.
Ô nhiễm nước và chất lượng nước của các hệ thống thủy nông vùng đồng bằng sông Hồng
Số 9 (6/2005) > trang 53-58 |  PDF (543.00 KB)
Lê Đình Thành
Tóm tắt
Chất lượng nước của các hệ thống thủy nông lớn thuộc vùng đồng bằng, nơi có nhiều khu dân cư tập trung như thị trấn, thị xã, thành phố và có các khu công nghiệp phát triển,... đang bị ô nhiễm do các loại chất thải từ sinh hoạt, công nghiệp, làng nghề và các loại hóa chất dùng trong nông nghiệp. Các hệ thống thủy nông lớn ngoài nhiệm vụ cấp nước cho tưới, còn cấp nước cho sinh hoạt và các mục đích khác. Do vậy vấn đề môi trường và chất lượng nước càng cần được quan tâm và bảo vệ. Bài báo này phân tích và trình bày một số kết quả bước đầu về nguyên nhân gây ô nhiễm nước và hiện trạng chất lượng nước của hai hệ thống thủy nông điển hình vùng đồng bằng sông Hồng là An Kim Hải và Bắc Nam Hà, từ đó kiến nghị một số biện pháp bảo vệ.
Tổ hợp lũ giữa sông Hồng với các sông Đà, Thao và Lô
Số 9 (6/2005) > trang 59-63 |  PDF (236.00 KB)
Trần Thanh Xuân
Tóm tắt
Lũ xảy ra trên sông Hồng thường do tổ hợp lũ của các sông Đà, sông Thao và sông Lô. Sự tổ hợp lũ này phụ thuộc vào hình thế thời tiết gây mưa trên lưu vực. Trong vòng 40 năm qua đã có 3 trận lũ lịch sử xảy ra trên hệ thống sông Hồng ( tháng8/1969, tháng 8/1971 và tháng 8/1996) với lưu lượng đỉnh lũ đo được tại Sơn Tây vượt quá 26.000 m3/s. Cũng trong thời gian này, trên lưu vực còn xảy ra 8 trận lũ lớn khác với lưu lượng đỉnh vượt quá 20.000 m3/s (xảy ra vào các năm 1964, 1966, 1968, 1970, 1986, 1995, 1998 và 2002). Bài báo này trình bày một số đặc trưng có liên quan tới tổ hợp lũ trên hệ thống sông Hồng dựa trên các số liệu thống kê thu thập được trên lưu vực trong vòng 40 năm gần đây
Tổng quan về quan hệ và vai trò của biển hồ đối với dòng chảy sông Mê Công ở vùng đồng bắng châu thổ
Số 9 (6/2005) > trang 64-67 |  PDF (590.00 KB)
Trịnh Quang Hòa, Huỳnh Minh Ngọc
Tóm tắt
Biển Hồ ở Campuchia là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Ngoài vai trò quan trọng và đặc biệt về mặt môi trường, sinh thái, văn hoá và kinh tế xã hội đối với Campuchia nói riêng và cả lưu vực Mê Công nói chung. Biển Hồ còn là hồ chứa điều tiết tự nhiên góp phần giảm lượng dòng chảy mùa lũ và gia tăng dòng chảy mùa kiệt của sông Mê Công ở vùng đồng bằng châu thổ nói chung và Đồng Bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam nói riêng.
Mô hình tính toán nước dâng do bão cho bờ biển Việt Nam
Số 9 (6/2005) > trang 68-74 |  PDF (1425.00 KB)
Vũ Thị Thu Thuỷ, Nghiêm Tiến Lam
Tóm tắt
Việc tính toán nước dâng do bão cùng với việc xác định quan hệ giữa độ lớn nước dâng do bão và xác suất xuất hiện của nó cho các vùng ven biển nước ta có một ‎ nghĩa quan trọng và thiết thực cho các công tác thiết kế các công trình ven biển cũng như các công tác quy hoạch và quản lý dải ven bờ một cách hiệu quả nhằm phòng chống và giảm nhẹ thiên tai gây ra bởi nước dâng do bão. Trong bài báo [1] trước đây đã trình bày về mô hình thích hợp cho các cơn bão đổ bộ vào bờ biển Việt Nam với mô hình Fujita để mô tả trường khí áp và mô hình xoáy cải tiến Rankine để mô phỏng trường gió trong cơn bão. Trong bài viết này tiếp theo sẽ trình bày việc ứng dụng mô hình thuỷ động lực học Delft3D-FLOW để mô phỏng nước dâng do bão cho bờ biển phía bắc Việt Nam với việc hiệu chỉnh và kiểm định trong tính toán nước dâng do bão cho hai trận bão điển hình Frankie (1996) và Wukong (2000).
Quan hệ giữa các đặc trưng khí hậu với sinh thái – kết quả lựa chọn ET0 cho vùng Kỳ Anh (Hà Tĩnh)
Số 9 (6/2005) > trang 75-81 |  PDF (211.00 KB)
Nguyễn Việt Cường
Tóm tắt
Các đặc trưng cơ bản của khí hậu và địa lý như vĩ độ, cao độ địa hình, số giờ nắng, nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, tổng lượng mưa… đã được xem xét trong các quan hệ với sinh thái. Đặc trưng nổi bật của sinh thái đối với thực vật là năng suất cây trồng, đối với con người và động vật là mức độ phù hợp của khí hậu với con người để làm việc có hiệu suất. Khí hậu tác động đến sinh thái và ngược lại. Sự tác động hai chiều ấy thể hiện qua lượng bốc thoát hơi nước ET0 làm thay đổi độ ẩm và tỷ số năng lượng Bowen(P/E). Kết quả lựa chọn từ 4 mô hình ET0 với kiến nghị hệ số kinh nghiệm thích hợp cho Kỳ anh - Hà tĩnh được trình bày. Quan hệ phức tạp này đặt cơ sở cho việc hoạch định các biện pháp tích cực và còn cần phải nghiên cứu sâu hơn nữa.
Một số kết quả điều tra các cống trong các đầm nuôi trồng thủy sản vùng ven biển huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Số 9 (6/2005) > trang 82-87 |  PDF (209.00 KB)
Hoàng Thái Đại, Nguyễn Quang Hữu
Tóm tắt
Bài báo trình bày các kết quả điều tra các cống cấp/thoát nước phổ biến trong các ao, đầm nuôi trồng thủy sản ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Bài báo đã đưa ra những nhận xét, đánh giá về những ưu, nhược điểm, những hư hỏng thường gặp của các loại cống này và đề xuất một số giải pháp phòng tránh các sự cố có thể xảy ra. Các kết quả điều tra là một trong những cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp công trình công nghệ phục vụ nuôi trồng thủy sản ở vùng ven biển miền Bắc Việt nam.