Số 8 (2/2005)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 2/2005
 
   
Vài suy nghĩ về kiến trúc trong công trình thủy lợi – thủy điện
Số 8 (2/2005) > trang 6-10 |  PDF (407.00 KB)
Bùi Khắc Hường
Tóm tắt
Công trình xây dựng nói chung cũng như công trình thủy lợi, thủy điện nói riêng cần phải có sự hài hòa giữa công năng (nhiệm vụ kỹ thuật) và kiến trúc. Một khi có sự hài hòa thì công trình xây dựng trở thành một công trình nghệ thuật và để lại cho đời một tài sản văn hóa. “Sơn thủy” hữu tình là đề tài của nhiều hình loại nghệ thuật. Công trình thủy lợi, thủy điện trong đó đã chứa đựng chất nên thơ của “sơn thủy”.
Bài báo nêu lên một số nguyên lý kiến trúc và một số thông tin bình phẩm về kiến trúc ở hai công trình thủy điện Hòa Bình và IALY được xem như ý kiến ban đầu tham gia vào cuộc thảo luận kiến trúc trong công trình thủy lợi, thủy điện.
Thoạt nghe người ta vẫn cho rằng: Về nghề nghiệp, Kiến trúc và Thuỷ lợi - thuỷ điện là hai lĩnh vực khác nhau, thậm chí là khác xa. Nhưng với tôi, một người làm công tác kiến trúc trong ngành thuỷ lợi - thuỷ điện thì lại thấy kiến trúc và thuỷ lợi - thuỷ điện có mối ràng buộc mật thiết với nhau, thậm chí kiến trúc và thuỷ lợi, thuỷ điện luôn luôn có trong nhau.
Tại sao vậy? Tôi xin nêu ra đây cái định nghĩa, quan niệm, nguyên lý về kiến trúc và bảng thống kê các hạng mục của một công trình Thuỷ lợi - thuỷ điện để người đọc tự đối chiếu và lý giải.
Cơ sở khoa học cho việc xác định cao trình đê trong kiểm soát lũ của hệ thống sông Hồng
Số 8 (2/2005) > trang 11-16 |  PDF (234.00 KB)
Lâm Hùng Sơn
Tóm tắt
Thực trạng hệ thống đê điều vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập. Mặc dù luôn được tu bổ nâng cấp nhưng an toàn của hệ thống đê luôn đòi hỏi sự đầu tư toàn diện không những đủ về mặt kinh phí, tránh lãng phí mà còn phải mang tính khoa học cao. Vì hệ thống đê sẽ ngày càng phải đảm bảo yêu cầu bảo vệ an toàn cho hạ du. Bài viết nhằm giới thiệu một số cơ sở khoa học mang tính định hướng chiến lược trong phòng chống lũ để từ đó xác định cao trình hệ thống đê cho hợp lý
Đánh giá tác động của sóng nổ mìn trong môi trường nước
Số 8 (2/2005) > trang 17-18 |  PDF (139.00 KB)
Bùi Văn Vịnh
Tóm tắt
Trong xây dựng Thuỷ lợi-Thuỷ điện,đặc biệt là xây dựng các công trình trên sông và ven biển, khi cần đào đá ngầm thì thường phải thực hiện nổ mìn dưới nước. Nổ mìn dưới nước sẽ sinh ra sóng xung kích lan truyền trong môi trường nước. Sóng này lan truyền rất mạnh, khi gặp chướng ngại vật (vật cản) như cầu, cống, cảng, cửa van v.v., có thể làm hư hỏng một phần hoặc toàn bộ công trình nếu quy mô vụ nổ lớn, khoảng cách quá gần và không có biện pháp bảo vệ an toàn. Mặt khác, nổ mìn trong nước còn thường gây ra ẩnh hưởng tới môi trường thuỷ sinh và các hoạt động khác trong khu vực nổ mìn.
Trong bài báo này tác giả giới thiệu về đánh giá tác động của sóng nổ mìn trong môi trường nước.
Nghiên cứu ổn định vị trí cân bằng của hệ con lắc ngược
Số 8 (2/2005) > trang 19-23 |  PDF (167.00 KB)
Khổng Doãn Điền, Nguyễn Đông Anh, Nguyễn Duy Chinh
Tóm tắt
Khi lắp bộ hấp thụ dao động dạng TMD [TMD-Tuned mass damper] vào cơ cấu con lắc ngược thì trạng thái làm việc của con lắc ngược sẽ có những thay đổi so với thiết kế ban đầu. Bởi vậy trong bài báo này các tác giả nghiên cứu tính toán các thông số của bộ hấp thụ dao động, để tìm ra các điều kiện đảm bảo là hệ ổn định chuyển động theo tiêu chuẩn của kỹ thuật .
Ảnh hưởng đầu búa và đệm đầu cọc đến ứng suất kéo lớn nhất của cọc bê tông đóng ngay sau khi va chạm
Số 8 (2/2005) > trang 24-29 |  PDF (161.00 KB)
Nguyễn Thị Thanh Bình, Trương Chí Công
Tóm tắt
Trên cơ sở lý thuyết va chạm dọc của vật rắn vào thanh đàn hồi ở [3] đã khảo sát trạng thái ứng suất của cọc bê tông đóng trong nền một lớp với lực chống tại đáy cọc không đổi.
Với cọc bê tông khả năng chịu kéo của cọc rất yếu so với khả năng chịu nén, cho nên cọc có thể không bị vỡ khi đóng mà lại bị vỡ ngay sau khi đóng do ứng suất kéo. Vì vậy, với mô hình bài toán này các tác giả sẽ xét ứng suất kéo của cọc bê tông ngay sau khi va chạm và tìm ảnh hưởng của đầu búa và đệm đầu cọc đến ứng suất kéo cực đại của cọc ngay sau khi va chạm.
Tình hình thủy lực và khả năng xói sâu hạ lưu tràn vận hành hồ Hòa Bình với các cấp lưu lượng lớn
Số 8 (2/2005) > trang 30-33 |  PDF (261.00 KB)
Lê Văn Nghị
Tóm tắt
Thuỷ điện Hoà Bình là công trình Thuỷ lợi – Thuỷ điện lớn nhất nước ta hiện nay. Dòng chảy hạ lưu tràn vận hành Hoà bình thì vô cùng phức tạp. Dòng chảy qua tràn xuống hạ lưu còn dư một phần năng lượng đáng kể, gây xói sâu và phá hại lòng dẫn hạ lưu. Bài viết này không đề cập đến các vấn đề nói trên, mà chỉ trình bày các đặc điểm nổi bật về tình hình thuỷ lực hạ lưu, khả năng xói sâu của hố tiêu năng sau tràn vận hành và phân tích các đặc điểm ấy với các cấp lưu lượng Q>15000m3/s.
Phần mềm Microsoft project trong việc lập tiến độ thi công theo phương pháp sơ đồ mạng
Số 8 (2/2005) > trang 34-38 |  PDF (149.00 KB)
Dương Văn Bá
Tóm tắt
Ứng dụng phần mềm Microsoft Project để giải quyết những bài toán về sơ đồ mạng đã được nghiên cứu từ những năm cuối của thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nhưng đến những năm gần đây nó mới được áp dụng rộng rãi và có những ứng dụng có hiệu quả vào lập tiến độ thi công các công trình đặc biệt là các công trình thủy lợi. Tác giả đã ứng dụng công nghệ này vào lập tiến độ thi công Công trình đầu mối hệ thống thuỷ lợi Đầm Bài trên suối Bằng thuộc xã Phú Ninh huyện Kỳ Sơn cách thị xã Hoà Bình 20 km về phía Bắc
Một số các giải pháp định hướng trong tối ưu hóa thiết kế bố trí mặt bằng xây dựng
Số 8 (2/2005) > trang 39-43 |  PDF (162.00 KB)
Nguyễn Trọng Hoan
Tóm tắt
Tác giả muốn đề cập đến việc ứng dụng lý thuyết toán học, các bài toán tối ưu để giải quyết các vấn đề theo từng hàm mục tiêu đặt ra trong thiết kế bố trí mặt bằng xây dựng. Qua nghiên cứu kết quả cho thấy tối ưu hoá trong thiết kế bố trí mặt bằng xây dựng dựa trên lý thuyết toán học là có cơ sở khoa học và được ứng dụng tính toán cho công trình cụ thể Hồ chứa nước Định Bình
Một số vấn đề về thể chế xây dựng tổ chức quản lý và vận hành các hệ thống thuỷ lợi và cấp nước sinh hoạt có sự tham gia của dân
Số 8 (2/2005) > trang 44-49 |  PDF (109.00 KB)
Lê Văn Ước
Tóm tắt
Trong công tác xây dựng các tổ chức quản lý cho các dự án thuỷ lợi và nước sinh hoạt có sự tham gia của người dân được nhiều nước trên thế giới quan tâm. ở Việt Nam hệ hình thức tổ chức quản lý này được áp dụng ở nhiều tỉnh đạt hiệ quả, giảm chi phí quản lý và vận hành, đáp ứng đươc yêu cầu cấp nứoc cho các hộ dùng nước. Trong báo cáo này thảo luận về vấn đề xây dựng thể chê cho việc xây dựng các tổ chức quản lý có sự tham gia của người dân trên các khía cạnh chính:
Xây dựng chiến lược về xay dựng tổ chức quản lý có sự tham gia của người dân với nhiệm vụ cụ thể từ trung ương đén cơ sở.
Tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của các hình thức quản lý.
Khả năng cần sử dụng giải pháp phân lũ sông Đáy trong các giai đoạn kiểm soát lũ sông Hồng
Số 8 (2/2005) > trang 50-53 |  PDF (129.00 KB)
Đặng Lan Hương
Tóm tắt
Hệ thống công trình phòng chống lũ sông Hồng bao gồm hệ thống đê, hệ thống các hồ chứa thượng nguồn, tổ hợp công trình phân lũ sông Đáy và các khu phân chậm lũ. Trình tự sử dụng các thành phần của hệ thống này trong việc phòng chống lũ cho hạ du như sau: trước tiên các hồ chứa được sử dụng để cắt lũ. Nếu sau khi các hồ chứa cắt lũ, mực nước sông Hồng tại Hà Nội vẫn lớn hơn mực nước an toàn đê (13,4 m), sông Đáy được sử dụng để phân lũ. Sau khi đã phân lũ vào sông Đáy nhưng mực nước sông Hồng tại Hà Nội vẫn có khả năng vượt 13,4 m, lũ sông Hồng sẽ tiếp tục được phân vào các khu phân chậm lũ.
Vấn đề sử dụng nước ở Hà Nam
Số 8 (2/2005) > trang 54-57 |  PDF (129.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng, Nguyễn Lập Dân
Tóm tắt
Tiềm năng nguồn nước của tỉnh Hà Nam khá phong phú đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế xã hội trong những năm trước mắt, tuy nhiên đã có những dấu hiện suy thoái môi trường nước mà nguyên nhân chính là do ảnh hưởng từ nước thải của thành phố Hà Nội. Trong nghiên cứu này chúng tôi đã phân tích hiện trạng sử dụng nước ở Hà Nam và kiến nghị một số giải pháp nhằm quản lý khai thác tài nguyên nước trên cơ sở phát triển bền vững.
Mô phỏng dài hạn diễn biến hình thái cửa Thuận An
Số 8 (2/2005) > trang 58-62 |  PDF (632.00 KB)
Nghiêm Tiến Lam
Tóm tắt
Vấn đề mô phỏng diễn biến hình thái dài hạn cửa triều có thể được giải quyết bằng mô hình toán học bán kinh nghiệm. Bài viết giới thiệu về mô hình ASMITA đại diện cho loại này và việc ứng dụng mô hình cho mô phỏng diễn biến cửa Thuận An sau trận lũ lịch sử 1999. Từ kết quả mô phỏng của mô hình có thể cung cấp thông tin dự báo về diễn biến hình thái của cửa và các đối tượng hình thái cận kề dưới các tác động của tự nhiên hay nhân tạo làm thay đổi chúng.