Số 6 (9/2004)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9/2004
 
   
Nghiên cứu vai trò điều tiết của hồ chứa trong hệ thống thoát nước Hà Nội
Số 6 (9/2004) > trang 10-13 |  PDF (136.00 KB)
Nguyễn Song Dũng
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu tính toán khả năng điều tiết của hồ chứa trong hệ thống thoát nước sông Tô Lịch trên cơ sở ứng dụng mô hình SWMM 4.4H đã được cải tiến năm 2002. Kết quả nghiên cứu sẽ là một trong những luận cứ quan trọng để xây dựng phương án điều hành thoát nước mưa hiệu quả trên hệ thống sông Tô Lịch - Hà Nội.
Ứng dụng FEM nghiên cứu bước thời gian thích hợp trong quá trình cố kết
Số 6 (9/2004) > trang 14-18 |  PDF (383.00 KB)
Nguyễn Quang Hùng
Tóm tắt
Hiện tại vấn đề nâng cao độ chính xác và tính ổn định của phương pháp FEM đang được nhiều nhà khoa học quan tâm. Bài báo này dựa trên lý thuyết cố kết cơ bản Biot tiến hành nghiên cứu bước thời gian tự thích ứng trong quá trình cố kết nhằm nâng cao tính chính xác cũng như độ ổn định của FEM. Từ những nguyên lý cơ bản suy luận và đưa ra công thức khống chế bước thời gian. Từ đây có thể khống chế toàn bộ trường ứng suất cũng như áp lực lỗ rỗng. Kết quả nghiên cứu nhằm chính xác hóa quá trình phát triển ứng suất – biến dạng , điều này hết sức có ý nghĩa trong quá trình thiết kế cũng như thi công đập vật liệu địa phương , đặc biệt là đập có tường lõi bằng đất.
Tác động của quá trình diễn biến lòng sông đối với thoát lũ vùng cửa sông ven biển miền Trung
Số 6 (9/2004) > trang 19-21 |  PDF (118.00 KB)
Nguyễn Bá Uân
Tóm tắt
Đối với vùng cửa sông ven biển miền Trung, dòng chảy lũ là một trong những nguyên nhân chính có tính quyết định gây nên những diễn biến mạnh mẽ của lòng sông, ngược lại diễn biến lòng sông lại ảnh hưởng trực tiếp trở lại đối với khả năng thoát lũ. Bài báo đã đề suất những giải pháp chỉnh trị ổn định lòng dẫn, tăng cường khả năng thoát lũ của sông ngòi trong khu vực
Về tính toán thủy lực cống lấy nước dưới đập có van điều tiết ở hạ lưu
Số 6 (9/2004) > trang 22-24 |  PDF (373.00 KB)
Nguyễn Chiến, Lương Thanh Hương
Tóm tắt
Trong bài giới thiệu các bài toán thuỷ lực cần giải quyết và thuật toán tương ứng khi thiết kế, kiểm tra các cống dưới đập có van điều tiết ở hạ lưu. Một chương trình tính toán thuỷ lực cho một lớp rộng rãi các cống loại này cũng được giới thiệu và khuyến cáo áp dụng
Công thức kinh nghiệm tính tốc độ xói lở bờ đoạn sông Tiền khu vực Thường Phước – tỉnh Đồng Tháp
Số 6 (9/2004) > trang 25-30 |  PDF (599.00 KB)
Lê Mạnh Hùng, Đặng Thị Bích Ngọc
Tóm tắt
Xác định tốc độ xói lở bờ sông là một trong những công việc quan trọng giúp chúng ta nhìn nhận trước những diễn biến trong tương lai từ đó đề ra được các giải pháp ứng phó kịp thời.
Hiện tượng xói lở bờ sông Tiền khu vực Thường Phước đã, đang và sẽ còn diễn ra với mức độ rất lớn, nó không chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho khu vực này mà còn gây ra những diễn biến bất lợi cho thị trấn Tân Châu, thị trấn Hồng Ngự và nhiều khu vực khác. Vì vậy việc biết trước diễn biến xói lở bờ khu vực Thường Phước sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trên cơ sở một số năm tài liệu đo đạc tại khu vực này, chúng tôi tiến hành xây dựng công thức kinh nghiệm tính tốc độ xói lở bờ làm cơ sở cho công tác dự báo biến hình lòng dẫn khu vực này theo thời gian
Xây dựng cơ sở dữ liệu của hệ thống thoát nước sông Tô lịch – TP Hà Nội
Số 6 (9/2004) > trang 31-33 |  PDF (734.00 KB)
Nguyễn Song Dũng
Tóm tắt
Tiêu thoát nước mưa, giảm úng ngập cho thành phố Hà Nội là một vấn đề rất cần thiết. Bài báo giới thiệu nội dung ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) quản l‎í các thông tin về hệ thống thoát nước như: bản đồ các cống, kênh, mương, ao hồ và các đặc trưng của chúng nhằm hỗ trợ công tác tính toán điều tiết và điều hành có hiệu quả hệ thống thoát nước sông Tô Lịch - thành phố Hà Nội
Phương pháp kế toán nước: Một ứng dụng cho lưu vực sông Hương
Số 6 (9/2004) > trang 34-40 |  PDF (209.00 KB)
Đinh Thanh Mừng
Tóm tắt
Trong bối cảnh lưu vực, nơi mà quản lý nước cần phải xét đến tất cả các loại hình dùng nước cũng như phải xem xét đến nhu cầu và sự cạnh tranh nước ngày càng gia tăng, phương pháp kế toán nước đang là lựa chọn tốt nhất để đánh giá tình trạng sử dụng nước một cách toàn diện. Qua đó, chúng ta có thể nhận ra nước được sử dụng như thế nào, cách mà chúng ta đang làm đã phù hợp chưa, để từ đó cải thiện việc quản lý tốt hơn. Một ứng dụng của phương pháp kế toán nước đã được thực hiện ở lưu vực sông Hương để phân tích tình trạng sử dụng và năng suất của nước và được giới thiệu trong bài báo này
Nghiên cứu lựa chọn hệ toạ độ trong công tác quan trắc biến dạng công trình thuỷ lợi – thủy điện
Số 6 (9/2004) > trang 41-44 |  PDF (134.00 KB)
Hoàng Xuân Thành
Tóm tắt
Biến dạng công trình- một hiện tượng do nhiều yếu tố gây nên và là một quá trình động lực học phức tạp mang tính chất xác suất. Độ biến dạng công trình phụ thuộc vào sự thay đổi tính chất vững chắc của nền móng theo thời gian, sự thay đổi mực nước ngầm, độ biến dạng của vật liệu xây dựng và kết cấu, các tác động bên ngoài lên nền móng như tác động của nước, tác động của các hoạt động khai thác mỏ, các chấn động trong lòng đất, sự thay đổi tỷ trọng trên nền móng do xây dựng thêm các công trình trong khu vực hoặc thay thế các thiết bị có tải trọng lớn hơn, các sai sót trong công tác khảo sát địa chất và thiết kế nền móng dẫn đến sức chụi tải của nền móng được xác định cao hơn thực tế.…v.v.
Đánh giá tác động môi trường của một số dự án thủy lợi bằng phương pháp phân tích lợi ích - chi phí mở rộng
Số 6 (9/2004) > trang 45-48 |  PDF (156.00 KB)
Phạm Hùng
Tóm tắt
Mỗi công trình thuỷ lợi được xây dựng và khai thác đã mang lại lợi ích to lớn cho kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Song nó cũng gây nên những thiệt hại nhất định cho việc phát triển kinh tế xã hội và tài nguyên thiên nhiên. Do vậy lượng hoá những lợi ích và thiệt hại trước mắt cũng như lâu dài do công trình thuỷ lợi gây nên là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn nghiên cứu dự án.
Hiện nay để đánh giá tác động môi trường của các công trình thuỷ lợi đến phát triển kinh tế xã hội và môi trường có hàng loạt các phương pháp khác nhau đã và đang được sử dụng. Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng khác nhau.
Dưới góc độ kinh tế môi trường bài báo này trình bày phương pháp phân tích lợi ích chi phí mở rộng và ứng dụng cho một số dự án thuỷ lợi
Phương pháp xử lý các điều kiện biên cứng và biên mở trong các mô hình sóng tuyến tính không dừng
Số 6 (9/2004) > trang 49-56 |  PDF (295.00 KB)
Vũ Thanh Ca
Tóm tắt
Các mô hình truyền sóng tuyến tính có những ưu điểm nổi bật là chúng cho nghiệm ổn định với một thời gian tính toán ngắn và độ chính xác chấp nhận được để phục vụ cho việc thiết kế các công trình ven bờ cũng như dự báo sự biến đổi địa hình vùng bờ. Ngoài hai ưu điểm trên, loại mô hình này còn có một ưu điểm rất lớn là chúng có thể được áp dụng để tính sóng với độ chính xác cao cho vùng nước rất sâu. Trong khi đó, ngoài các nhược điểm là yêu cầu thời gian tính toán dài và bộ nhớ máy tính lớn, các mô hình truyền sóng phi tuyến yếu (như mô hình nước nông hoặc mô hình xấp xỉ Boussinesq) còn có một nhược điểm rất quan trọng là chúng chỉ có thể được áp dụng để tính sóng cho một dải rất hẹp ven bờ với độ sâu khá nhỏ. Các mô hình truyền sóng phi tuyến (như loại mô hình giải trực tiếp phương trình Navier-Stokes nhờ phương pháp VOF hay MAC) tuy rằng có độ chính xác cao nhưng yêu cầu bộ nhớ máy tính rất lớn và thời gian tính toán đặc biệt dài. Với những lý do trên, ngay tại các nước tiên tiến trên thế giới, các mô hình truyền sóng tuyến tính đang được áp dụng rất rộng rãi để tính toán sóng ngoài khơi và ven bờ. Đặc biệt, trong trường hợp miền tính toán rộng với độ sâu tại biên sóng tới phía ngoài biển tương đối lớn , việc sử dụng các mô hình truyền sóng tuyến tính để tính sóng vẫn là giải pháp duy nhất. Tuy vậy, các mô hình loại này có một nhược điểm quan trọng là các phương trình cơ sở của mô hình không tự động xử lý được các điều kiện biên cứng, nhất là tại các biên có các hệ số phản xạ sóng và hệ số truyền sóng bất kỳ. Điều này giới hạn rất nhiều việc áp dụng các mô hình này để tính toán trường sóng phục vụ cho việc thiết kế vì rằng tất cả các công trình biển đều có một hệ số phản xạ sóng nào đó.
Xác định năng lượng dao động của cọc đóng trong nền đồng nhất đáy cọc gặp lực cản không đổi
Số 6 (9/2004) > trang 57-63 |  PDF (239.00 KB)
Nguyễn Đăng Cường, Trương Chí Công, Hồ Sĩ Sơn
Tóm tắt
Để hoàn thiện thêm cho lớp bài toán nghiên cứu hệ số truyền năng lượng của cọc đóng trong nền đồng nhất hay không đồng nhất chúng ta đi tính năng lượng dao động của cọc. Trước đây một số tác giả đã nghiên cứu về năng lượng dao động của cọc trong một nhát búa ở bài toán đóng cọc trong môi trường đồng nhất, đáy cọc gặp lực chống không đổi, không có ma sát mặt bên. Nội dung báo cáo này, trên cơ sở lý thuyết va chạm dọc của vật rắn vào thanh đàn hồi, các tác giả sẽ xác định vận tốc tâm khối lượng của cọc trong thời gian va chạm, xác định động năng tâm khối lượng và tìm năng lượng dao động của cọc đóng trong nền đồng nhất, đáy cọc gặp lực cản không đổi nhưng có kể đến ma sát mặt bên.
Thuật giải đồng thời hệ phương trình REYnolds hai chiều đứng bằng phương pháp phần tử hữu hạn hai giai đoạn với độ chính xác cao
Số 6 (9/2004) > trang 64-68 |  PDF (217.00 KB)
Lê Văn Nghị
Tóm tắt
Phương pháp phần tử hữu hạn hai giai đoạn có độ chính xác cao đã được Navon sử dụng giải hệ phương trình nước nông không đầy đủ [5], thu được từ việc xấp xỉ Galerkin số hạng đối lưu phi tuyến. Bài viết này trình bày thuật giải đồng thời hai giai đoạn hệ phương trình Reynolds hai chiều đứng xét đến sự thay đổi theo chiều ngang dòng chảy bằng phương pháp phần tử hữu hạn hai giai đoạn với độ chính xác cao. Độ chính xác cao thu được từ việc xấp xỉ Galerkin số hạng đạo hàm phi tuyến của thành phần vận tốc dòng chảy và sử dụng phần tử tam giác bậc cao.
Mô hình thích hợp cho các cơn bão đổ bộ vào nước ta
Số 6 (9/2004) > trang 69-73 |  PDF (232.00 KB)
Vũ Thị Thu Thuỷ
Tóm tắt
Đất nước ta luôn phải gánh chịu ảnh hưởng và bị thiệt hại hàng năm do các cơn bão gây ra. Việc nghiên cứu mô hình hoá các cơn bão trong khu vực có một ý nghĩa rất quan trọng. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu mô hình hoá các cơn bão đổ bộ vào nước ta thông qua việc diễn tả trường gió và khí áp. Tác giả đã khảo sát rất nhiều các mô hình gió và khí áp khác nhau dựa trên kết quả đo đạc của một số trận bão điển hình và chọn ra được các mô hình phù hợp nhất cho mô phỏng trường khí áp và trường gió trong bão là mô hình Fujita và mô hình xoáy cải tiến của Rankine. Kết quả trường gió khí áp trong cơn bão có thể sử dụng để tính toán dự báo nước dâng do bão ở các vùng ven biển phục vụ cho công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.
Thuật toán  -gần đúng cho bài toán tối ưu tổ hợp
Số 6 (9/2004) > trang 74-78 |  PDF (142.00 KB)
Nguyễn Mạnh Hùng
Tóm tắt
Bài toán tìm cực đại hoặc cực tiểu của thương hai hàm thực trên tập D của không gian Rn được gọi là bài toán quy hoạch phân tuyến. Bài toán quy hoạch phân tuyến có nhiều ứng dụng trong thực tế nhưng rất khó tìm nghiệm chính xác, vì thế người ta quan tâm đến việc xây dựng các thuật giải gần đúng. Một thuật toán được gọi là -gần đúng nếu nó luôn cho lời giải -tối ưu tức là lời giải có sai số tương đối so với giá trị tối ưu bị chặn trên bởi một hằng số dương .
Hệ số khuyếch tán đứng và sức tải phù sa của dòng chảy
Số 6 (9/2004) > trang 79-84 |  PDF (239.00 KB)
Đỗ Tiến Lanh
Tóm tắt
Hệ số khuếch tán đứng z ít được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về dòng chảy trong lúc vai trò của nó rất lớn trong việc phân bố phù sa và khuếch tán nhiệt, chất – Bài báo đưa ra một cách xác định z từ kết quả đo đạc mạch động lưu tốc theo chiều đứng và phân tích thứ nguyên. Từ kết quả đó đưa ra phương pháp tính sức tải phù sa và trị số của nó.