Số 5 (5/2004)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 5/2004
 
   
Một số kết quả nghiên cứu chân kè bảo vệ bờ sông, bờ biển
Số 5 (5/2004) > trang 4-7 |  PDF (242.00 KB)
Nguyễn Văn Mạo, Phạm Ngọc Quý, Nguyễn Hoàng Hà
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu một số kết quả nghiên cứu các giải pháp kết cấu chân kè đã được xây dựng ở nước ta và một số kết quả thí nghiệm mô hình vật lý trên máng sóng. Điều kiện áp dụng các loại hình chân kè phù hợp đã được đề xuất dựa trên việc phân tích các nguyên nhân gây hư hỏng chân kè. Các kết quả thí nghiệm đã giải thích được nguyên nhân gây ra hư hỏng chân kè dưới tác động của sóng và kiến nghị cách tính kích thước cấu kiện dùng để bảo vệ bãi trước chân kè. Để cho việc thiết kế chân kè ngày càng hoàn thiện và đáp ứng yêu cầu bảo vệ bờ sông, bờ biển của nước ta, những nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở khoa học cũng như hoàn thiện công nghệ sử dụng ống buy làm kết cấu chân kè cần được tiếp tục tổ chức nghiên cứu; những nghiên cứu sử dụng mô hình toán kết hợp với thí nghiệm mô hình vật lý và đo đạc ở thực địa... là rất cần thiết
Luận giải về kịch bản trong quy hoạch chiến lược phát triển tài nguyên nước
Số 5 (5/2004) > trang 8-18 |  PDF (328.00 KB)
Tô Trung Nghĩa
Tóm tắt
Khái niệm về kịch bản trong quy hoạch phát triển hiện nay còn đang có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn tới thiếu thống nhất trong khi áp dụng. Để phục vụ cho công tác quy hoạch nói chung và các nghiên cứu chiến lược nói riêng, sau khi nghiên cứu các phương pháp quy hoạch chiến lược của UNESCAP, chúng tôi viết bµi này để luận giải về khái niệm kịch bản dùng trong quy hoạch chiến lược.
Bµi viÕt được trình bày theo phương pháp quy nạp, tức là bắt đầu từ những vấn đề về xuất xứ và ứng dụng của kịch bản, sau đó mới đi tới định nghĩa về kịch bản.
Khái niệm kịch bản ở đây nằm trong phạm vi của quy hoạch chiến lược phát triển tài nguyên nước, cho nên ở phần đầu chúng tôi cũng trình bày một số khái niệm về chiến lược, từ đó đi tới nhu cầu và phương pháp xây dựng kịch bản. Để tránh nhầm lẫn, bµi viÕt cũng phân tích sự khác nhau giữa kịch bản và một số cách xử lý khác đối với những biến động bất thường trong tương lai của phương pháp quy hoạch truyền thống.
Bµi viÕt cũng nêu ra một ví dụ về các kịch bản đã được xây dựng trong bài toán sử dụng nước toàn cầu do Viện Nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế thực hiện
Phân loại hồ chứa theo quan điểm bổi lắng
Số 5 (5/2004) > trang 19-23 |  PDF (266.00 KB)
Lưu Văn Lâm
Tóm tắt
Bồi lắng hồ chứa có thể làm bồi lấp dung tích chết, ở một số hồ chứa, việc bồi lắng xảy ra ngay cả ở dung tích hữu ích làm ảnh hưởng đến tác dụng điều tiết của chúng , làm giảm khả năng phòng lũ. Đặc biệt là ở một số hồ có nhiều nhánh sông đổ vào, bồi lắng thường lấp kín một số cửa nhánh và vô hiệu hoá các dung tích thành phần ở các nhánh. Bồi lắng dần lan tới vùng sát chân đập làm giảm tính ổn định của đập và ảnh hưởng đáng kể đến các công trình điều tiết và lấy nước như cửa vào, tràn xả, cống tháo... Khi bùn cát chảy vào cửa lấy nước, đường dẫn và turbine do mặt cắt ướt bị thu hẹp đột ngột nên tốc độ dòng chảy rất lớn, nhất là vào mùa lũ, một phần hạt bùn cát cuốn theo dòng chảy sẽ làm mài mòn turbine, các cửa van, các kết cấu thép và bản thân công trình. Bồi lắng hồ chứa làm ô nhiễm môi trường thông qua quá trình tương tác các chất hoá học giữa bề mặt hạt phù sa và nước hồ, quá trình bồi lắng có thể làm biến đổi lượng ô xy hoà tan trong nước, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của các loài thuỷ sinh. Nguồn thức ăn cho chim, thú bị giảm do một số loài sinh vật dưới nước trong chuỗi thức ăn bị một lượng bùn cát lắng đọng che phủ mất. Giao thông thuỷ cũng gặp khó khăn khi nước hồ ở mức thấp lại vướng các bãi bồi trong lòng dẫn. Quá trình hình thành tam giác châu (delta) sẽ nâng cao đáy hồ ngay phía đầu hồ và do đó làm dềnh nước gây nguy cơ ngập lụt phía thượng lưu hồ. Điều này càng trở nên bất cập nếu ở đó lại có các khu dân cư tập trung hay các cơ sở kinh tế công, nông nghiệp hoặc các điểm di tích, các công trình văn hoá, an ninh, quốc phòng…
Nghiệm giải tích của dòng chảy trong cửa triều nối với đầm phá có sự tham gia của dòng chảy thượng nguồn
Số 5 (5/2004) > trang 24-27 |  PDF (159.00 KB)
Nghiêm Tiến Lam, H.J Verhagen, M. Van der Wegen
Tóm tắt
Các đặc tính thuỷ lực của dòng chảy trong một cửa sông ảnh hưởng triều đóng một vai trò quan trọng trong diễn biến hình thái của cửa. Trong điều kiện bình thường, dòng chảy trong cửa đẩy bùn cát ra khỏi cửa để duy trì cửa mở chống lại xu hướng bồi lấp cửa do lượng vận chuyển bùn cát ven bờ gây ra. Đóng góp cho sự tồn tại của cửa bao gồm có dòng thuỷ triều và dòng thượng nguồn từ các sông. Phân tích lý thuyết về sự ổn định của các cửa triều nối các đầm phá với biển có thể thực hiện được dựa trên các nghiệm giải tích của bài toán thuỷ lực. Bài viết trình bày một lời giải mới cho nghiệm giải tích của bài toán thuỷ lực trong cửa triều có xét đến thành phần quán tính và sự đóng góp của dòng chảy nhập lưu từ các sông. Lời giải được so sánh với nghiên cứu của các tác giả khác nhau. Trên cơ sở của nghiệm giải tích được thiết lập, vấn đề phân tích ổn định của cửa triều có thể được tiến hành.
Tràn Labyrinth và hiệu quả nâng cao khả năng thoát lũ
Số 5 (5/2004) > trang 28-32 |  PDF (336.00 KB)
Nguyễn Phú Quỳnh
Tóm tắt
Trong thời gian gần đây, yêu cầu về sự đảm bảo an toàn các hồ chứa trở nên cấp thiết, nhiều đập tràn được nâng cấp nhằm tăng khả năng tháo lũ mà vẫn không làm thay đổi khả năng tích nước của hồ chứa. Các đập đó cú thường rất khó mở rộng khẩu diện tràn hoặc mở thêm tràn phụ. Để tăng lượng tràn cùng một khẩu độ và không hạ thấp ngưỡng, một trong những giải pháp là đập tràn dạng labyrinth, loại tràn này có mặt bằng hỡnh gấp khỳc (zớc zắc) nhằm kộo dài đường tràn nước dài hơn tràn thẳng có cùng khẩu độ, lưu lượng xả qua tràn có thể tăng lên gấp 5 lần so với tràn thẳng. Một số công trỡnh với cỏc điều kiện thích hợp, tràn labyrinth thực sự có lợi khi so sánh các mặt kinh tế và kỹ thuật
Hồ chứa nước đã xây dựng và những vấn đề đặt ra
Số 5 (5/2004) > trang 33-36
Phạm Ngọc Quý
Tính toán dòng chảy, vận chuyển phù sa bùn sét và tốc độ bồi lắng đáy kênh lấy nước làm mát Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng
Số 5 (5/2004) > trang 37-43 |  PDF (421.00 KB)
Vũ Thanh Ca, Nguyễn Kiên Dũng, Phạm Việt Tiến
Tóm tắt
Kênh dẫn nước làm mát là một hạng mục công trình của Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng nằm ở Thị xã Uông Bí Tỉnh Quảng Ninh. Cửa lấy nước của kênh bắt đầu từ sông Bạch Đằng thuộc xã Điền Công, theo lòng dẫn của lạch nước tự nhiên cũ dài 3450,54 m (đoạn I- nạo vét ) sau đó chạy thẳng đến vị trí trạm bơm dự kiến xây dựng (gần cầu nằm trên quốc lộ 18 qua sông Uông Bí), đoạn này có chiều dài 2000,37 m (đoạn II- có gia cố mái kênh). Sơ đồ bố trí kênh được diễn tả trên hình 1. Trạm TV1 là điểm nối giữa kênh dự kiến với sông Bạch Đằng và trạm TV2 là điểm dự kiến đặt trạm bơm lấy nước
Ứng dụng mô hình toán hai chiều SWAN cho việc tính truyền sóng ở vùng biển Hải Hậu - Nam Định
Số 5 (5/2004) > trang 44-48 |  PDF (224.00 KB)
Nguyễn Thị Thu Hương
Tóm tắt
Việc nghiên cứu đầy đủ về sự biến đổi các tham số của sóng theo không gian và đặc biệt khi nó dịch chuyển vào gần bờ là một vấn đề phức tạp và đòi hỏi mất nhiều thời gian nhưng vô cùng quan trọng đối với việc xem xét nguyên nhân gây ra sự cố hư hỏng đối với các công trình bảo vệ bờ tại các vùng bờ biển. Trong bài báo này, tác giả muốn trình bày kết quả nghiên cứu và ứng dụng của mô hình SWAN cho việc tính sóng tại vùng biển Hải Hậu – Nam Định. Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho sự kiểm chứng về độ chính xác của mô hình trong điều kiện bờ biển ở nước ta
Dòng chảy không gian không ổn định trong hệ thống kênh dẫn hở của trạm thuỷ điện
Số 5 (5/2004) > trang 49-50 |  PDF (115.00 KB)
Hoàng Tư An, Nguyễn Văn Sơn
Tóm tắt
Trong bài này đã mở rộng hệ phương trình Saint-Venant của dòng chảy một chiều bằng cách bổ sung thêm gia tốc do dòng chảy phụ gây ra theo phương dòng chảy chính.
Thuật toán để giải phương trình đã có giống như thuật toán trong mô hình VRSAP. Chương trình tính đã được ứng dụng để giải bài toán Thuỷ lực trên hệ thống kênh dẫn nước vào trạm Thuỷ điện Mộc Châu
Nhu cầu nước dùng và các biện pháp phát triển nguồn nước ở Đăk Lăk
Số 5 (5/2004) > trang 51-54 |  PDF (73.00 KB)
Nguyễn Hữu Chung
Tóm tắt
Đến tháng 10 năm 2003, Đăk Lăk là một tỉnh lớn nằm ở trung tâm của Tây Nguyên có tổng diện tích tự nhiên 1.953.545ha (dân số gần hai triệu người theo thống kê tháng 7 năm 2003).
Là một vùng có điều kiện tự nhiên rất phong phú và đa dạng, địa hình chủ yếu là đồi núi. Đồi núi cao tập trung ở phía Đông và Đông Nam chiếm 25% diện tích tự nhiên, có độ cao trung bình từ 1000 đến 1200m. Trong khu vực địa hình chia cắt mạnh này diện tích rừng còn nhiều nhưng độ dốc lớn.
Nước chua vùng Bắc Đông và vấn đề cải tạo
Số 5 (5/2004) > trang 55-59 |  PDF (5647.00 KB)
Đặng Hoà Vĩnh
Tóm tắt
Sau nhiều năm khai thác và cải tạo, vấn đề chua phèn Đồng Tháp Mười đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên vùng Bắc Đông – bồn trũng phía Nam của Đồng Tháp Mười, vẫn còn chua phèn nặng. Vì đây là một vùng biển cũ chứa nhiều các vật liệu sinh phèn, và nằm trên đường tiêu nước của Đồng Tháp Mười, do đó Bắc Đông phải hứng chịu tất cả tác động xấu do nước chua từ thượng lưu xuống.
Bài viết này phân tích các đặc điểm hình thành nước chua, quá trình diễn biến chua phèn vùng Bắc Đông và Đồng Tháp Mười. Đề xuất phương pháp đánh dấu nguồn nước để đánh giá sự vận động các thành phần nguồn nước nhằm phân tích động thái của thành phần nước xấu. Bài viết cũng gợi ý một số vấn đề về cải tạo chua phèn cho vùng Bắc Đông
Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật trắc địa phục vụ thi công nhà cao tầng tại Việt Nam
Số 5 (5/2004) > trang 60-64 |  PDF (130.00 KB)
Đặng Đức Duyến
Tóm tắt
Nhà cao là một xu hướng mới trong chiến dịch giải quyết nhà ở tại Việt nam. Do yêu cầu phải đảm bảo độ chính xác cao và độ an toàn lớn. Phương pháp trắc đia trong thi công nhà cao tầng hiện nay chưa có một quy trình chung cho toàn nghành. Nội dung bài báo muốn đưa ra một quy trình chung trong công tác trắc địa phục vụ thi công xây dựng nhà cao tầng cho các đọc giả cùng xem xét nghiên cứu để cùng xây dựng nên quy trình chuẩn. Nội dung được nêu trong bài báo là quy trình công nghệ trắc địa phục vụ thi công nhà cao tầng bao gồm các công đoạn xây dựng lưới khống chế phục vụ thi công, các công việc thi công phần móng và công trình ngầm, các công việc phục vụ thi công phần thân công trình và công việc phục vụ việc hoàn thiện bảo trì bảo dưỡng công trình.
Một số thuật toán giải bài toán tối ưu phân thức và ứng dụng
Số 5 (5/2004) > trang 65-68 |  PDF (149.00 KB)
Nguyễn Mạnh Hùng
Tóm tắt
Hệ thống nguồn nước tạo ra nhiều vấn đề đặc biệt, ví dụ, trong sử dụng tối ưu nguồn nước, việc cực đại hiệu quả kinh tế, chất lượng môi trường, khả năng điều tiết lũ...vv khi ứng dụng các phương pháp tối ưu hoá và các mô hình Toán học gặp khá nhiều khó khăn vì các đặc trưng khác nhau của hệ thống liên quan đến bài toán qui hoạch rời rạc. Đặc điểm khác biệt của tối ưu rời rạc, tối ưu tổ hợp là các biến thuộc miền rời rạc và nó đã phát triển nhanh chóng vì việc sử dụng rộng khắp về máy tính và công nghệ thông tin. Một số kỹ thuật của tối ưu rời rạc dưới đây là lời giải về các thuật toán , các định lý hội tụ cho bài toán tối ưu phân tuyến .Sử dụng phương pháp Newton liên hệ với độ phức tạp tính toán của thuật toán trong đó nghiệm tối ưu được xấp xĩ và thuật toán đa thức dừng sau một số hữu hạn bước lặp.
Về một phương pháp phân vùng tiềm năng xói lở bờ sông với minh hoạ cho sông Hồng
Số 5 (5/2004) > trang 69-74
Nguyễn Quốc Thành, Nguyễn Văn Hoàng