Số 30 (9/2010)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9/2010
 
   
MỤC LỤC
Số 30 (9/2010) > |  PDF (375.00 KB)
Phân tích ảnh hưởng của nhiệt và tải trọng tới trường ứng suất đập bê tông đầm lăn trong quá trình thi công
Số 30 (9/2010) > trang 6-11 |  PDF (864.00 KB)
Đinh Hữu Dụng, Nguyễn Văn Mạo
Tóm tắt
Đập bê tông đầm lăn là loại đập đang được lựa chọn để xây dựng cho nhiều dự án ở Việt Nam hiện nay. Bê tông đầm lăn là loại bê tông ít toả nhiệt do có hàm lượng xi măng thấp. Công nghệ thi công bê tông đầm lăn có ưu điểm là tốc độ thi công nhanh, hạ giá thành công trình. Tuy nhiên do cường độ của bê tông phát triển chậm nên có thể làm ảnh hưởng đến khả năng chịu tải của đập trong quá trình thi công. Bài báo này đi vào nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của nhiệt độ và các tải trọng trong quá trình lên đập đến trường ứng suất của đập bê tông đầm lăn trong quá trình thi công. Bài báo là tài liệu tham khảo cho xây dựng đập bê tông đầm lăn, đồng thời cũng là thông tin đóng góp vào các thảo luận về nguyên nhân nứt trong các đập bê tông đầm lăn
Nghiên cứu công nghệ bê tông tự lèn vào công trình bảo vệ bờ trên nền đất yếu
Số 30 (9/2010) > trang 12-15 |  PDF (462.00 KB)
Lương Thanh Hương, Bùi Văn Tình, Vũ Quốc Vương, Phạm Ngọc Khánh
Tóm tắt
Hiện nay bờ biển nước ta bị xói lở do sự ảnh hưởng của quá trình vận động tự nhiên trên nền đất mềm yếu, do ảnh hưởng của áp thấp, bão và thủy triều. Việc chống sạt lở bờ bao gồm đê biển, bờ biển, bờ sông, đập, các công trình thủy lợi... luôn có ý nghĩa quan trọng. Với công nghệ bê tông truyền thống áp dụng cho công trình bảo vệ bờ này đều có hiện tượng xâm thực do bê tông có độ rỗng lớn, đặc biệt đối với dự án đê kè áp dụng bằng sáng chế 5874 thì bê tông rỗng rất nhiều vì cục 5874 rất nhiều góc cạnh. Vậy nên việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ bê tông tự lèn vào dự án bảo vệ bờ đoạn xung yếu bờ biển Ấp Cồn Trứng, xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh sẽ khắc phục được nhược điểm bê tông rỗng, làm tăng tuổi thọ công trình và tăng nhanh thời gian thi công.
Một vài ý kiến về ứng dụng mũi phun hai tầng cho tràn xả lũ có dốc nước
Số 30 (9/2010) > trang 16-21 |  PDF (350.00 KB)
Lê Quang Hưng, Trần Quốc Thưởng
Tóm tắt
Thiết kế tràn xả lũ với hình thức nối tiếp thân tràn có dốc nước, cuối dốc nước là mũi phun phụ thuộc nhiều yếu tố: lưu lượng tháo, độ dốc của dốc nước, vận tốc và độ sâu dòng chảy cuối dốc nước. Kết cấu mũi phun được lựa chọn sao cho đáp ứng được yêu cầu về kinh tế kỹ thuật. Về mặt thủy lực phải đảm bảo các thông số chính: vận tốc mũi phun vừa đảm bảo cho dòng phun xa lớn nhưng phải phù hợp với vật liệu, áp suất vùng mũi phun phải nhỏ hơn giá trị áp suất âm cho phép để không sinh ra hiện tượng khí thực trên bề mặt mũi phun và chiều sâu hố xói phải nhỏ. Hiện nay chưa có công thức tính toán để lựa chọn mũi phun hai tầng, thường thì phải thông qua thí nghiệm mô hình để xác định hình dạng kết cấu mũi phun hợp lý. Bài báo nêu lên một số kết quả nghiên cứu bước đầu về dạng mũi phun hai tầng thông qua thực nghiệm.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến độ sụt của hỗn hợp đất - Bentonite
Số 30 (9/2010) > trang 22-27 |  PDF (6532.00 KB)
Nguyễn Cảnh Thái, Bùi Quang Cường
Tóm tắt
Tường hào đất-bentonite ( Đ-B) đã được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và nhiều nước khác trong hơn 50 năm qua để chống thấm. Để đảm bảo chất lượng của tường hào trong quá trình thiết kế và thi công cần xác định, kiểm tra độ sụt hợp lý của vật liệu tường hào. Trong bài báo này các tác giả đã nghiên cứu xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng chúng đến độ sụt (như thời gian, hàm lượng nước, hàm lượng bentonite) đồng thời xây dựng mối quan hệ giữa độ sụt của côn sụt tiêu chuẩn (SS) và độ sụt của côn sụt thu nhỏ (SM) (thể tích côn thu nhỏ bằng 1/6 thể tích côn tiêu chuẩn) để thuận tiện cho quá trình thiết kế, thi công và quản lý chất lượng tường hào Đ-B sau này
Nghiên cứu giải pháp xử lý nền đất yếu bằng thiết bị thoát nước thẳng đứng
Số 30 (9/2010) > trang 28-36 |  PDF (584.00 KB)
Nguyễn Hồng Nam, Nguyễn Hồng Trường
Tóm tắt
Nghiên cứu giải pháp xử lý nền đất yếu bằng thiết bị thoát nước thẳng đứng được thực hiện dựa trên mô phỏng bài toán cố kết thấm theo phương pháp phần tử hữu hạn theo sơ đồ bài toán phẳng, trong đó hệ số thấm tương đương theo phương đứng được tính từ độ cố kết trung bình trong điều kiện cố kết một trục (Chai và nnk, 2001). Ảnh hưởng của tham số như chiều sâu, khoảng cách bấc thấm, hệ số thấm ngang, độ xáo trộn và hệ số thấm trong vùng xáo trộn đối với tốc độ cố kết là có ý nghĩa khi áp dụng đối với công trình đường cao tốc Cầu Giẽ- Ninh Bình. Kết quả mô phỏng cho thấy tốc độ cố kết tăng khi chiều sâu bấc thấm tăng, khoảng cách bấc thấm giảm, hệ số thấm ngang lớn, độ xáo trộn giảm, hệ số thấm trong vùng xáo trộn lớn. Tuy nhiên, khi chiều sâu bấc lớn hơn 15m thì ảnh hưởng nói trên không lớn; Ảnh hưởng này rõ nét hơn khi đất nền có hệ số thấm ngang lớn so với hệ số thấm theo phương đứng
Nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa mác chống thấm W và hệ số thấm Kt của bê tông truyền thống dùng trong các công trình thủy lợi
Số 30 (9/2010) > trang 37-39 |  PDF (264.00 KB)
Cao Đức Việt, Nguyễn Quang Phú
Tóm tắt
Bài báo nghiên cứu mối quan hệ giữa mác chống thấm W và hệ số thấm Kt của một số mác bê tông truyền thống (M15 ÷ M40) dùng trong các công trình Thủy lợi. Từ những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong phòng để xác định mối quan hệ giữa W và Kt. Kết quả cho thấy để đánh giá chính xác hơn tính thấm nước của bê tông Thủy công, thì đối với các loại bê tông có mác > M20 nên dùng mác chống thấm W, còn những loại bê tông có mác ≤ M20 nên dùng hệ số thấm Kt
Dẫn dòng thi công về mùa lũ trong xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện
Số 30 (9/2010) > trang 40-46 |  PDF (306.00 KB)
Nguyễn Hữu Huế
Tóm tắt
Dẫn dòng thi công là công tác chiếm một vị trí quan trọng trong xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện đặc biệt là giai đoạn dẫn dòng về mùa lũ. xác định được biện pháp dẫn dòng thi công hợp lý là đảm bảo cho công tác thi công công trình đúng tiến độ, an toàn và giảm giá thành xây dựng. Đối với những công trình nhỏ thường dẫn dòng qua cống và kênh. Những năm gần đây nước ta xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi, thuỷ điện lớn như: Sê San 3, Sê San 4, Bản Vẽ, Tuyên Quang, Cửa Đạt…Nếu theo các sơ đồ dẫn dòng thông thường thì qui mô các công trình dẫn dòng rất lớn, tốn nhiều kinh phí. Để giảm kinh phí cho công tác dẫn dòng thi công trên thế giới và Việt Nam đã áp dụng biện pháp xả lũ qua cống và đập xây dở để dẫn dòng thi công về mùa lũ trong xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện lớn đảm bảo kinh tế, kỹ thuật. Bài viết này giới thiệu một số biện pháp dẫn dòng thi công về mùa lũ ở thế giới và Việt Nam.
Một số vấn đề về thiết kế hệ thống ao nuôi Tôm trên cát gắn với xử lý môi trường tại tỉnh Bình Định
Số 30 (9/2010) > trang 47-52 |  PDF (1075.00 KB)
Đỗ Văn Lượng
Tóm tắt
Trong những năm gần đây, phong trào mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản trên các vùng đất cát ven biển miền Trung đang được người dân quan tâm. Một số dự án nuôi trồng thủy sản trên vùng đất cát ven biển với quy mô nhỏ đã được đầu tư và đã có một số kết quả ban đầu. Song đây là mô hình mới được triển khai trong điều kiện tự nhiên khá đặc biệt: địa hình nền ao thường cao hơn mực nước biển, nền ao và bờ ao toàn là cát, nguồn nước ngọt thường ở xa khu nuôi,… Chính vì vậy nên có những tổng kết kinh nghiệm để đề xuất các mô hình ao nuôi, sơ đồ hệ thống cung cấp nước mặn, nước ngọt, hệ thống xử lý nước thải đảm môi trường nuôi trồng bền vững, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội từng vùng và hiệu quả của vốn đầu tư là rất có ý nghĩa.
Một vài kết quả nghiên cứu về diễn biến nhiệt và ứng suất nhiệt trong bê tông đầm lăn
Số 30 (9/2010) > trang 53-58 |  PDF (651.00 KB)
Lê Quốc Toàn
Tóm tắt
Để tránh những sự cố do ứng suất nhiệt gây ra đối với các công trình được xây dựng bởi công nghệ bê tông đầm lăn cần lựa chọn cấp phối và quy trình công nghệ thi công phù hợp dựa trên kết quả nghiên cứu về nhiệt và ứng suất nhiệt. Bài viết đề cập đến quá trình diễn biến nhiệt, ứng suất nhiệt; phương pháp và phần mềm tính toán nhiệt, ứng suất nhiệt; một số kết quả nghiên cứu về nhiệt và ứng suất nhiệt tại công trình đập bê tông đầm lăn Đồng Nai 4.
Sử dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm xác định cấp phối bê tông đầm lăn thỏa mãn 3 yêu cầu cường độ, chống thấm và nhiệt
Số 30 (9/2010) > trang 59-64 |  PDF (322.00 KB)
Nguyễn Như Oanh
Tóm tắt
Đối với bê tông thường (CVC), quy trình thiết kế cấp phối bê tông tương đối đơn giản, thông thuờng chỉ cần thử nghiệm 3-4 cấp phối với tỷ lệ xi măng khác nhau, chi phí một đợt thí nghiệm chỉ cần vài triệu đồng. Trong khi đó để thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn (RCC), do phải xác định cấp phối sao cho thỏa mãn đồng thời các yêu cầu kỹ thuật, trong đó quan trọng nhất với các đập RCC là yêu cầu về cường độ, chống thấm và nhiệt trong RCC để khống chế nứt nẻ. Các nhà Tư vấn Việt Nam hiện thường đang phải tốn rất nhiều công sức, kinh phí để làm thí nghiệm (thường thử nghiệm đến vài ba trăm cấp phối, kinh phí lên đến vài ba tỷ đồng – chưa kể thí nghiệm hiện trường)
Bài viết này, tác giả đã sử dụng bài toán quy hoạch thực nghiệm để tìm ra cấp phối BTĐL ban đầu cho 2 mác bê tông thiết kế khác nhau, thỏa mãn 3 yêu cầu kể trên mà số thí nghiệm phải làm ít nhất. Kết quả có thể tham khảo trong quy trình thiết kế cấp phối BTĐL nhằm giảm kinh phí làm thí nghiệm.
Giải pháp phòng khí thực cho các thiết bị tiêu năng sau đập tràn cao, áp dụng cho đập tràn hồ nước trong
Số 30 (9/2010) > trang 65-70 |  PDF (867.00 KB)
Nguyễn Chiến, Phạm Hồng Hưng
Tóm tắt
Khi thiết kế bể tiêu năng của các đập tràn cao, lưu lượng đơn vị lớn, việc bố trí các thiết bị tiêu năng phụ ở trong bể (mố, dầm…) giúp cải thiện điều kiện tiêu năng, giảm chiều sâu đào bể, chiều dài bể. Tuy nhiên chính các thiết bị tiêu năng này lại rất dễ bị phá hoại do khí thực. Vì vậy trong thiết kế cần tính toán các giải pháp phòng khí thực cho các thiết bị này. Bài viết này giới thiệu phương pháp bố trí và tính toán đường ống tiếp khí cho các mố tiêu năng, áp dụng cho tràn Nước Trong
Tối ưu hóa điều kiện chống thấm để thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn cho đập
Số 30 (9/2010) > trang 71-77 |  PDF (243.00 KB)
Nguyễn Sỹ Tuân, Nguyễn Quang Phú, Nguyễn Thành Lệ
Tóm tắt
Thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn (BTĐL) cho 2 loại bê tông M20B6R90 và M15B2R90 sử dụng hai loại xi măng PC40 Hoàng Mai và PC40 Kim Đỉnh; phụ gia khoáng Puzơlan Núi Voi - Huyện Sơn Tịnh - Idico; Puzơlan Phong Mỹ; tro bay Phả lại; phụ gia kéo dài thời gian đông kết: TM25 của hãng Sika, LK-SR của Viện Công nghệ Xây dựng; phụ gia giảm nước: Sikament R2000AT(N) của hãng Sika. Lựa chọn cấp phối bằng việc tối ưu hoá theo điều kiện chống thấm. Kết quả thí nghiệm bê tông đạt mác chống thấm và cường độ thiết kế yêu cầu. Khi sử dụng xi măng Kim Đỉnh, cường độ R90 đạt 31.0÷33.8 MPa cho loại BTĐL M20B6R90 và đạt 17.9÷19.4 MPa cho loại BTĐL M15B2R90. Việc thay thế bằng xi măng PC40 Hoàng Mai, kết quả thay đổi không đáng kể: cường độ của BTĐL M20B6R90 R90 đạt 30.5÷32.9 MPa và BTĐL M15B2R90 đạt 17.7÷18.7 MPa
Phương pháp điều khiển tối ưu trong hệ thống treo chủ động ô tô
Số 30 (9/2010) > trang 78-83 |  PDF (494.00 KB)
Nguyễn Đức Ngọc, Deng Zhaoxiang
Tóm tắt
Thông qua việc thiết lập xây dựng mô hình tổng thể hệ thống treo ô tô với bảy bậc tự do, ứng dụng lý thuyết phương pháp điều khiển tối ưu thiết kế bộ điều khiển tuyến tính để kiểm soát hoạt động hệ thống treo của xe. Sử dụng phần mềm Matlab xây dựng mô hình mô phỏng điều khiển hệ thống treo. Kết quả mô phỏng so sánh với hệ thống treo bị động, cho thấy việc kiểm soát hệ thống treo chủ động với bộ điều khiển tuyến tính cải thiện đáng kể hiệu suất của hệ thống treo, làm cho nguời ngồi trên xe cảm thấy thoải mái hơn.
Kết quả nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu lao động tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giai đoạn công nghiệp hóa, đô thị hóa
Số 30 (9/2010) > trang 84-88 |  PDF (282.00 KB)
Phan Văn Yên, Nguyễn Thị Phương Lan
Tóm tắt
Nước ta đang tiến hành công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, mục tiêu để đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH. Bài báo nêu lên thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động trong giai đoạn CNH, ĐTH đang diễn ra hết sức mạnh mẽ tại huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội, qua đó thấy được sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời gian qua là đúng hướng, song tốc độ còn quá chậm chưa tương xứng với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện
12