Số Đặc biệt (11/2011)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 11 năm 2011 - Kỷ niệm 45 năm thành lập Khoa Công trình
 
   
Nghiên cứu giải pháp đảm bảo an toàn thấm cho đập đất không đồng chất được xây dựng bằng công nghệ đầm nén ở vùng Tây nguyên Việt Nam
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 5-11 |  PDF (351.00 KB)
Nguyễn Quang Hùng, Mai Văn Công, Nguyễn Văn Mạo
Tóm tắt
Các đập đất không đồng chất xây dựng ở Tây nguyên Việt Nam với các thành phần đất giàu hàm lượng sét, có tính trương nở và tan rã thường có độ an toàn về thấm không cao. Để đảm bảo an toàn cho các đập như thế cần phải tiến hành các nghiên cứu để lựa chọn giải pháp kết cấu công nghệ xây dựng và phương pháp đánh giá chất lượng đập trong quá trình thi công. Bài báo bình luận các điều kiện xây dựng đập ở vùng Tây nguyên nước ta. Đồng thời bài báo cùng trình bày phân tích tổng hợp để lựa chọn phương án chống thấm và sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn để phân tích cố kết thấm làm cơ sở khoa học để lựa chọn giải pháp kết cấu, công nghệ thi công và đánh giá chất lượng đập ĐăkYên ở Kontum thuộc vùng Tây Nguyên Việt Nam.
Phân tích hiệu quả kỹ thuật giải pháp gia cường kết cấu bê tông cốt thép gia cường bằng vật liệu cốt sợi tổng hợp
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 12-17 |  PDF (546.00 KB)
Nguyễn Chí Thanh, Lê Mạnh Hùng, Phạm Ngọc Khánh
Tóm tắt
Gia cường kết cấu chịu lực bê tông cốt thép bằng việc dán lớp vật liệu cốt sợi cường độ cao là một trong các giải pháp duy trì và nâng cao sức chịu tải của kết cấu cũ để đáp ứng yêu cầu về khai thác. Để đánh giá tính hiệu quả kỹ thuật của giải pháp này, bài báo giới thiệu một số điểm quan trọng cũng như trình bày một số kết quả khảo sát số và khảo sát thực nghiệm của cấu kiện bê tông cốt thép được gia cường.
Nghiên cứu ảnh hưởng tính huồng vỡ đập hồ Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh đến vùng hạ du
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 18-25 |  PDF (2146.00 KB)
Phạm Thị Hương Lan, Nguyễn Cảnh Thái, Trần Ngọc Huân
Tóm tắt
Hồ chứa được xây dựng với nhiều mục đích khác nhau như là: tưới cho nông nghiệp, phát điện, phòng lũ, du lịch sinh thái…nó mang lại nhiều lợi ích cho các ngành kinh tế xã hội. Tuy nhiên những hồ chứa lớn có sự chênh lệch cột nước thượng – hạ lưu cao tiềm ẩn những nguy cơ và thảm họa khi xảy ra sự cố vỡ đập, đe dọa đến tính mạng và tài sản của nhân dân vùng hạ lưu. Chính vì thế việc nghiên cứu ảnh hưởng của sự cố vỡ đập là vấn đề quan trọng cần phải được xem xét. Bài báo sử dụng mô hình MIKE FLOOD mô phỏng ngập lụt hạ du hồ Kẻ Gỗ tình huống vỡ đập chính hồ Kẻ Gỗ ứng với lũ lớn nhất khả năng (PMF). Hồ Kẻ Gỗ là một trong những hồ chứa lớn ở khu vực miền Trung, vùng hạ lưu hồ là khu vực tập trung đông dân cư, khu kinh tế phát triển. Kết quả nghiên cứu vỡ đập chính hồ Kẻ Gỗ xác định độ sâu dòng chảy, lưu tốc dòng chảy, phạm vi ảnh hưởng và thời gian xuất hiện của dòng lũ sinh ra do vỡ đập phía hạ du. Đây là những thông tin quan trọng giúp các nhà quản lý có những hành động khẩn cấp, biện pháp thích hợp giảm thiểu tối đa các thiệt hại do sự cố vỡ đập gây ra
Phần mềm QMM ĐTĐL 2009/01 và an toàn công trình xây dựng trong điều kiện thiên tai bất thường miền Trung
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 26-31 |  PDF (953.00 KB)
Nghiêm Hữu Hạnh, Nguyễn Văn Mạo, Nguyễn Xuân Hùng
Tóm tắt
Trượt lở đất là một loại thiên tai bất thường ở miền Trung nước ta, gây thiệt hại to lớn về người và của. Dự báo trượt lở đất là một trong những phương pháp để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra cho vùng này . Bài báo này giới thiệu chương trình mang tên QMM ĐTĐL2009/01,một công cụ dự báo trượt lở đất làm cơ sở tìm những giải pháp kĩ thuật nhằm đảm bảo an toàn cho công trinh xây dựng trong điều kiện thiên tai bất thường miền Trung
Cơ sở thiết kế và luân chuyển ván khuôn khi thi công bê tông làm giàu vữa ở tường thượng - hạ lưu đập bê tông đầm lăn
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 32-37 |  PDF (390.00 KB)
Mai Lâm Tuấn, Lê Văn Hùng
Tóm tắt
Công nghệ thi công đập bê tông đầm lăn hiện nay rất phát triển, đã có nhiều cải tiến trong việc thiết kế và thi công. Việc áp dụng bê tông làm giàu vữa ở tường thượng - hạ lưu đập để chống thấm và tạo mỹ quan cho đập đang được áp dụng nhiều ở Việt Nam. Bài báo giới thiệu các cơ sở thiết kế và luân chuyển ván khuôn cho việc thi công loại bê tông này ở đập RCC.
Nghiên cứu mô hình vật lý hiệu quả giảm sóng của đê chắn sóng nổi hình hộp cho khu tránh trú bão tầu thuyền
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 38-43 |  PDF (948.00 KB)
Hồ Hồng Sao, Nguyễn Văn Dũng
Tóm tắt
Giải pháp công trình đê chắn sóng nổi sử dụng cho các khu tránh trú bão, neo đậu tầu thuyền đã được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên việc áp dụng ở Việt Nam còn hạn chế do những nghiên cứu cụ thể về đê chắn sóng nổi còn rất ít. Bài báo đề cập đến hiệu quả giảm sóng của đê chắn sóng nổi thông qua nghiên cứu mô hình vật lý, được tiến hành trong máng sóng của Phòng Thí nghiệm Thủy lực – Đại học Thuỷ Lợi. Kết quả thí nghiệm cho thấy hiệu quả giảm sóng của đê là đáng kể, vì vậy có thể nghiên cứu ứng dụng trong thực tiễn ở nước ta
Tình trạng ăn mòn bê tông cốt thép và giải pháp chống ăn mòn cho công trình bê tông cốt thép trong môi trường biển Việt Nam
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 44-49 |  PDF (1909.00 KB)
Đồng Kim Hạnh, Dương Thị Thanh Hiền
Tóm tắt
Ăn mòn cốt thép là nguyên nhân phổ biến làm hư hỏng kết cấu BTCT trong môi trường biển. Bài viết tóm tắt những nghiên cứu về nguyên nhân, thực trạng ăn mòn và phá huỷ BTCT dưới tác động của nước biển. Trên cơ sở những kết quả đó bài viết đề xuất một số biện pháp sửa chữa nhằm nâng cao độ bền cho công trình BTCT trong vùng biển Việt Nam
Mô phỏng bài toán va chạm khối cát kháng chấn bằng phương pháp phẩn tử hữu hạn
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 50-56 |  PDF (901.00 KB)
Hồ Sỹ Tâm, Masuya Hiroshi, Nguyễn Cảnh Thái
Tóm tắt
Bài báo nghiên cứu sử dụng phương pháp PTHH mô phỏng quá trình va chạm của một vật rơi hình cầu vào khối cát hình lập phương dùng trong bộ phận kháng chấn của các kết cấu bảo vệ đá rơi. Khối cát được nghiên cứu chịu va chạm bởi vật rơi từ độ cao khác nhau, với hai loại điều kiện biên hông (biến dạng hông tự do FD và biến dạng hông hạn chế bởi vật liệu cùng loại MC). Kết quả nghiên cứu được kiểm định bằng cách so sánh với thí nghiệm mô hình vật lý tương đương. Một số nhận xét và kết luận về tính chính xác của mô hình và sự ảnh hưởng chiều cao đá rơi đến đặc điểm va chạm đã được rút ra
Nghiên cứu ứng dụng lí thuyết độ tin cậy và phân tích rủi ro để đánh giá mức đảm bảo an toàn cho hệ thống công trình thủy lợi lấy nước bằng hồ chứa trong điều kiện Việt Nam
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 57-62 |  PDF (295.00 KB)
Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Văn Mạo, Mai Văn Công
Tóm tắt
Ứng dụng thiết kế ngẫu nhiên và phân tích rủi ro trong thiết kế công trình xây dựng nói chung cũng như công trình thuỷ lợi nói riêng hiện đang được phổ biến và là xu thế chung trên thế giới. Tại Việt Nam nghiên cứu ứng dụng lý thuyết này trong thiết kế công trình mới chỉ đang ở những bước đầu và đang được mở rộng hơn trong những năm gần đây. Nội dung của bài báo trình bày mục tiêu nghiên cứu và cách tiếp cận đề tài “Nghiên cứu ứng dụng lí thuyết độ tin cậy và phân tích rủi ro để đánh giá mức đảm bảo an toàn cho hệ thống công trình thủy lợi lấy nước bằng hồ chứa trong điều kiện Việt Nam“, đồng thời trình bầy ví dụ ứng dụng lí thuyết độ tin cậy phân tích an toàn công trình tràn để làm rõ các vấn đề cần tổ chức nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng bản mặt bê tông để chống thấm kết hợp với bảo vệ mái đập đất, ứng dụng cho đập nước ngọt Ninh Thuận
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 63-69 |  PDF (788.00 KB)
Nguyễn Chiến, Luyện Thành Thắng
Tóm tắt
Sử dụng bản mặt bê tông chống thấm kết hợp với bảo vệ mái đập đất là một giải pháp hợp lý khi tại khu vực xây dựng đập, đất đắp có hệ số thấm lớn và không có vật liệu đất sét để làm bộ phận chống thấm. Khi áp dụng giải pháp này cần tiến hành phân tích ứng suất-biến dạng thân đập và tính toán kết cấu bản mặt để kiểm tra điều kiện bền và bố trí cốt thép hợp lý. Trong bài giới thiệu một số kết quả nghiên cứu bước đầu và tính toán áp dụng cho đập Nước Ngọt – Ninh Thuận
Cơ sở khoa học, đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo an toàn các công trình cầu, đường nông thôn miền Trung trong điều kiện thiên tai bất thường
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 70-76 |  PDF (2253.00 KB)
Lê Xuân Khâm
Tóm tắt
Việt nam là một nước nằm trong vùng áp thấp nhiệt đới, có nhiều thiên tai bất thường như lũ, bão, trong đó miền Trung là nơi chịu ảnh hưởng của thiên tai bất thường nhiều so với cả nước. Mưa lớn với thời gian mưa dài đã sinh ra lũ lụt làm sạt trượt mái đường, phá hỏng các công trình cầu giao thông, nhất là các công trình cầu đường nông thôn miền núi. Trong báo cáo này tác giả phân tích ảnh hưởng của mưa, lũ bất thường tới ổn định của cầu, mái dốc của đường giao thông nông thôn, từ đó đưa ra một số biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo an toàn trong điều kiện thiên tai bất thường
Thi công thử nghiệm tường hào đất – Bentonite chống thấm
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 77-84 |  PDF (2147.00 KB)
Nguyễn Cảnh Thái, Nguyễn Anh Tú, Bùi Quang Cường
Tóm tắt
Tường hào đất - bentonite (Đ-B) là công nghệ chống thấm tiên tiến đã được áp dụng rộng rãi tại các nước như Mỹ, Nhật, Australia … trong hơn 50 năm qua. Nhằm mục đích nghiên cứu, ứng dụng thi công tường hào Đ-B trong điều kiện Việt Nam, nhóm tác giả đã tiến hành thi công thử nghiệm hiện trường cho nhiều trường hợp khác nhau. Các kết quả theo dõi hiện trường cũng như lấy mẫu từ thân hào kiểm tra trong phòng thí nghiệm cho thấy nếu chọn lựa cấp phối phù hợp thì có thể thi công tường hào có khả năng chống thấm cao
Kết quả nghiên cứu về ứng dụng phụ gia consolid gia cường đất đắp đê biển
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 85-92 |  PDF (868.00 KB)
Hoàng Việt Hùng, Trịnh Minh Thụ, Ngô Trí Viềng, Nguyễn Thị Loan
Tóm tắt
CONSOLID444/CONSERVEX và CONSOLID444/SOLIDRY là các chất phụ gia dùng để gia cường và chống thấm cho các loại đất làm vật liệu xây dựng. Nguyên lý làm việc của CONSOLID là đẩy nước ra khỏi đất và lấp đầy các lỗ rỗng trong đất dưới tác dụng hoá lý và năng lượng đầm chặt.
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu một số tính chất cơ lý của đất có phụ gia tại phòng thí nghiệm Địa kỹ thuật Đại học Thuỷ lợi. Xây dựng quy trình xử lý đất khi có sử dụng phụ gia CONSOLID. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để ứng dụng rộng rãi công nghệ này trong xây dựng và nhằm góp phần xây dựng một trong các tiêu chuẩn thiết kế đê biển tràn nước ở Việt Nam.
Phân tích nguyên nhân sự cố trượt bãi sông Hồng tương ứng k29+850 đến k30+050 đê Hữu Hồng tại Sơn Tây
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 93-100 |  PDF (1213.00 KB)
Nguyễn Hồng Nam
Tóm tắt
Phân tích nguyên nhân sự cố trượt bãi sông Hồng đoạn từ K29+850 đến K30+050 đê Hữu Hồng ngày 18/10/2010 tại Sơn Tây, Hà Nội đã được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích số liệu quan sát thực địa, hồ sơ thiết kế, hồ sơ khảo sát địa hình địa chất khu vực kết hợp với mô phỏng ổn định trượt mái theo phương pháp phần tử hữu hạn. Kết quả phân tích ổn định trượt bãi sông tại mặt cắt nguy hiểm 2-2' với nhiều trường hợp tính toán khác nhau cho thấy nguyên nhân chính gây sạt trượt bãi sông là do tải trọng cát quá lớn chất trên bề mặt bãi sông và địa chất nền bãi có lớp đất yếu 2a. Nhìn chung có sự phù hợp giữa kết quả mô phỏng và số liệu quan trắc thực tế về hình dạng, vị trí mặt trượt.
Phân tích ổn định cống vùng triều tỉnh Nam Định
Số Đặc biệt (11/2011) > trang 101-106 |  PDF (468.00 KB)
Nguyễn Công Thắng, Hoàng Trung Thành
Tóm tắt
Các cống vùng triều khu vực đồng bằng Bắc Bộ chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ mực nước nhật triều biển Đông, có biên độ dao động lớn. Chính vì vậy, khi vận hành chênh lệch mực nước thượng hạ lưu lớn gây ra xói cả hai phía đồng và sông ở các mức độ khác nhau, đe dọa sự ổn định của cống. Trong bài báo này, trình bày hiện trạng xói của các cống vùng triều tỉnh Nam Định và lựa chọn phương pháp đánh giá ổn định của cống phục vụ công tác quản lý vận hành
123