Số 45 (6/2014)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2014
 
   
MỤC LỤC
Số 45 (6/2014) > |  PDF (374.00 KB)
Nghiên cứu đánh giá cập nhật mưa lũ và lũ thiết kế các hồ chứa thủy lợi Cam Ranh và Vực Tròn
Số 45 (6/2014) > trang 3-9 |  PDF (273.00 KB)
Nguyễn Tiến Kiên, Lê Đình Thành
Tóm tắt
Miền Trung là khu vực có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế, xã hội nhưng cũng là nơi chịu nhiều thiên tai khắc nghiệt như lũ, bão, hạn hán,… Trong mấy chục năm qua Nhà nước và địa phương đã đầu tư xây dựng nhiều công trình hồ chứa lớn nhỏ phục vụ cấp nước và phòng chống giảm nhẹ thiên tai. Sau nhiều năm hoạt động, dưới sự tác động mạnh mẽ khí hậu, môi trường nên nhiều hồ chứa đã xuống cấp, giảm khả năng thực thi các nhiệm vụ được giao trong cấp nước, phòng chống thiên tai và, đảm bảo an toàn cho bản thân công trình. Để có cơ sở khoa học cho các đề xuất nâng cấp các hồ chứa thủy lợi miền Trung, bài báo giới thiệu một số kết quả nghiên cứu ban đầu về cập nhật đánh giá lũ thiết kế và khả năng an toàn của hai hồ chứa điển hình của khu vực là hồ chứa Cam Ranh (Khánh Hòa) và hồ chứa Vực Tròn (Quảng Bình).
Nghiên cứu xác định ranh giới đê sông và đê cửa sông, áp dụng cho Cửa Hội, sông Cả, Nghệ An
Số 45 (6/2014) > trang 10-17 |  PDF (1968.00 KB)
Trần Thanh Tùng, Nguyễn Hữu Thảnh
Tóm tắt
Hiện nay, Tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia (TCVN) về yêu cầu kỹ thuật thiết kế đê sông (TCVN 9902:2013) và thiết kế đê biển (TCVN 9901:2013) đã được xây dựng thành công và đưa ra triển khai áp dụng cụ thể trong tính toán thiết kế công trình. Nằm chuyển tiếp giữa đê sông và đê biển, đê cửa sông đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống công trình bảo vệ bờ sông, bờ biển, phòng tránh ngập lụt cho vùng cửa sông, ven biển. Tuy nhiên sự đầu tư nghiên cứu cho đê vùng cửa sông thì chưa thật sự tương xứng với tầm quan trọng của công trình. Đó là do loại công trình này chịu tác động của nhiều điều kiện biên phức tạp và chịu nhiều yếu tố chi phối dẫn đến hiện nay chúng ta vẫn chưa xây dựng được một cơ sở khoa học và phương pháp xác định ranh giới đê sông và đê cửa sông cụ thể nào mang tính thuyết phục. Bài báo này sẽ trình bày các cơ sở khoa học và phương pháp xác định ranh giới đê sông và đê cửa sông, ứng dụng xác định ranh giới đê cửa sông cho cửa Hội, sông Cả, Nghệ An
Nghiên cứu biến động vùng cửa sông Cái, Nha Trang qua các tư liệu viễn thám (giai đoạn 1999-2013)
Số 45 (6/2014) > trang 18-23 |  PDF (1072.00 KB)
Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Hoàng, Sơn Trần Thanh Tùng
Tóm tắt
Vịnh Nha Trang là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới, đã và đang là trung tâm du lịch và dịch vụ đang có tốc độ tăng trưởng nhanh của tỉnh Khánh Hòa nói riêng và khu vực Nam Trung Bộ nói chung. Trước sự phát triển của hạ tầng, đô thị, các hoạt động của con người, các tác động biến đổi khí hậu, đã và đang làm cho cửa sông, bờ biển biến đổi phức tạp hơn. Bài báo này trình bày bức tranh thực trạng xói lở, bồi tụ cửa sông, bờ biển vịnh Nha Trang theo không gian và thời gian bằng công nghệ viễn thám và GIS. Với chuỗi ảnh Landsat [4] từ năm 1999 đến 2013 khu vực Nha Trang, cho kết quả phân tích, tính toán biến động đường bờ một cách chi tiết, cụ thể hơn. Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho các nhà khoa học, các nhà quản lý tìm ra giải pháp khắc phục, có định hướng trong chiến lược bảo vệ bờ biển, quy hoạch tổng thể các công trình ven bờ biển vịnh Nha Trang nói riêng và Khánh Hòa nói chung.
Khảo sát các tham số thiết kế ảnh hưởng đến chiều dày và ứng suất trong mặt đường bê tông xi măng
Số 45 (6/2014) > trang 24-31 |  PDF (2091.00 KB)
Bùi Ngọc Kiên
Tóm tắt
Sự thay đổi tải trọng và nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi ứng suất, chiều dày trong tấm bê tông mặt đường. Bên cạnh đó, còn các tham số khác ảnh hưởng đến ứng suất và chiều dày mặt đường bê tông xi măng (BTXM) trong quá trình thiết kế như chiều dài tấm, chiều dày tấm, hệ số chiết giảm theo tiêu chuẩn thiết kế đường 22TCN223-95. Trong bài báo này tác giả đi khảo sát các yếu tố thiết kế ảnh hưởng đến chiều dày và ứng suất trong tấm bê tông xi măng mặt đường
Xác định áp lực thủy động tác động lên cửa van cống kiểu sập trục dưới
Số 45 (6/2014) > trang 32-36 |  PDF (615.00 KB)
Cao Văn Chan, Trịnh Công Vấn
Tóm tắt
Cửa sập trục dưới được sử dụng phổ biến tại Việt Nam trong xây dựng các cống kiểm soát triều, ngăn mặn-giữ ngọt và tiêu thoát lũ. Tại thành phố Hồ Chí Minh cửa sập trục dưới cũng đã được lựa chọn để xây dựng tại một số vị trí làm nhiệm vụ ngăn triều cường, chống ngập cho thành phố. Tuy nhiên trong tính toán lựa chọn thiết bị đóng mở vận hành cửa van, chưa có công thức nào để xác định áp lực thủy động tác dụng lên cửa. Nghiên cứu này trình bày cách xác định áp lực thủy động tác dụng lên cửa trong quá trình vận hành đóng cửa bằng mô hình toán (Flow- 3D) kết hợp với số liệu quan trắc thực tế. Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng cho tính toán thiết kế thiết bị đóng mở cửa van kiểu sập trục dưới
Nghiên cứu sử dụng Metacaolanh Việt Nam để thay thế một phần xi măng trong sản xuất bê tông
Số 45 (6/2014) > trang 37-43 |  PDF (279.00 KB)
Chu Mạnh Quân, Trịnh Quang Minh, Vũ Quốc Vương
Tóm tắt
Bài báo này nghiên cứu sử dụng vật liệu Metacaolanh (MK) Việt Nam để sản xuất bê tông cho các công trình xây dựng và thủy lợi. Nội dung nghiên cứu gồm 2 phần: Phần thứ nhất là vật liệu MK làm giảm độ linh động của hỗn hợp bê tông. Phần thứ hai là vật liệu MK cải thiện cường độ nén, kéo khi ép chẻ và cải thiện độ chống thấm của bê tông
Ảnh hưởng của các công trình trên các cửa sông lớn đến xâm nhập mặn vào hệ thống sông đồng bằng sông Cửu Long
Số 45 (6/2014) > trang 44-51 |  PDF (1736.00 KB)
Lương Quang Xô
Tóm tắt
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở hạ lưu sông Mekong, có địa hình thấp (0,8-1,2m), hệ thống kênh rạch dày đặc. Chế độ thủy văn vô cùng phức tạp, chịu ảnh hưởng của thủy triều biển Đông, biển Tây, khai thác của thượng lưu, chế độ mưa, khai thác ngay tại đồng bằng, gió chướng và nước biển dâng. Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2050, mực nước biển trung bình có thể tăng lên 30cm, như vậy mặn ở ĐBSCL sẽ xâm nhập sâu vào trong nội vùng. Giải pháp cho tương lai đối với ĐBSCL là lên đê và xây dự ng các cống lớn trên các dòng sông chính sông Mekong, việc xây dựng này dẫn tới sự thay đổi chế độ dòng chảy và sự xâm nhập mặn ở ĐBSCL. Bài báo sử dụng mô hình 1-2 D để tính toán thủy lực dòng chảy và diễn biến xâm nhập mặn trong hệ thống sông. Kết quả cho thấy: (i) Mô hình có khả năng mô phỏng tốt trạng thái dòng chảy và xâm nhập mặn ở ĐBSCL;(ii)Dưới tác động của nước biển dâng đến 2050 (30cm), khi xây dựng các cống lớn ở ĐBSCL diễn biến độ mặn chỉ thay đổi so với điều kiện bình thường trên sông Vàm Cỏ khoảng 38km, sông Hậu 25 km, sông Hàm Luông 20km, sông Tiền 25 km tính từ cửa sông. Độ mặn tại Cần Thơ (trên sông Hậu), Mỹ Thuận trên sông Tiền hầu như không thay đổi; và (iii) Độ mặn tại 9 cửa sông biến đổi từ 17-33 g/l, tùy từng cửa.
Đánh giá ổn định mái dốc trong không gian ba chiều– phương pháp trượt cố thể
Số 45 (6/2014) > trang 52-56 |  PDF (429.00 KB)
Phạm Hữu Sy
Tóm tắt
Đánh giá ổn định mái dốc là vấn đề địa chất công trình thường phải giải quyết trong thực tiễn xây dựng. Từ trước đến nay vấn đề này được giải quyết bằng bài toán phẳng dễ dàng, nhưng có nhược điểm là không xét được ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Tác giả bài báo đã nghiên cứu phát triển bài toán phẳng của Petterson để đánh giá ổn định mái dốc trong không gian ba chiều. Bằng thuật toán đưa khối trượt hình ellipsoid về hình bán cầu cho phép tính tích phân để xác định thể tích và diện tích mặt trượt, tác giả đã xây dựng được phương pháp 3D tính ổn định mái dốc bảo đảm chặt chẽ về mặt toán học và cơ học. Kết quả nghiên cứu có thể xây dựng được phương pháp hoàn thiện để áp dụng trong thực tế
Ứng dụng các bao cát sinh thái cho bảo vệ bờ sông thí điểm bảo vệ bờ sông tại tỉnh Tiền Giang
Số 45 (6/2014) > trang 57-62 |  PDF (591.00 KB)
Trần Quang Đức, Trịnh Công Vấn và nnk
Tóm tắt
Sạt lở bờ sông đang là vấn đề cấp thiết hiện nay ở viêt nam. Sạt lở xảy ra ở hầu hết các con sông và ảnh hưởng trực tiếp tới kinh tế, xã hội. Để đối mặt với vấn đề này, hàng năm chính phủ phải đầu tư một khoản ngân sách lớn cho các công trình bảo vệ bờ khắp cả nước. Biện pháp phổ biến hiện nay vẫn chủ yếu dùng các vật liệu cứng truyền thống như bê tông, đá…Tuy nhiên, các giải pháp này có giá thành cao, ảnh hưởng môi trường tự nhiên, việc nâng cấp sửa chữa tốn kém và khó khăn… Bài viết này sẽ giới thiệu kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả, phát triển và ứng dụng thí điểm giải pháp bao cát vải địa kỹ thuật để bảo vệ bờ, một giải pháp mềm mới có giá thành thấp, thân thiện môi trường đang được ứng dụng ngày càng phổ biến trên thế giới.
Đánh giá hiệu quả giảm ngập úng của việc áp dụng các giải pháp thu trữ nước mưa cho Trường đại học Thủy lợi
Số 45 (6/2014) > trang 63-68 |  PDF (245.00 KB)
Phạm Tất Thắng
Tóm tắt
Hàng năm, Hà Nội xảy ra hàng chục trận mưa lớn gây ra ngập úng với mức độ ảnh hưởng khác nhau. Sơ bộ có thể ước tính thiệt hại gây ra trên địa bàn Thành phố lên đến hàng nghìn tỷ đồng/năm. Nguyên nhân gây ra ngập úng là do mưa – kiểm soát nước mưa chính là giải pháp bền vững giải quyết vấn đề tiêu nước. Có hai phương pháp kiểm soát nước mưa: (1) Thu trữ và sử dụng nước mưa cho các nhu cầu sử dụng nước của con người; (2) Đưa nước mưa vào lòng đất (tầng không áp và có áp). Trong bài báo này tác giả sẽ tiến hành đánh giá định lượng thiệt hại gây ra do ngập lụt ở đô thị và hiệu quả giảm ngập úng của việc áp dụng các giải pháp thu trữ nước mưa cho Trường Đại học Thủy lợi.
Nghiên cứu đề xuất giải pháp phù hợp cho cấp nước nông thôn trong điều kiện biến đổi khí hậu của tỉnh Nam Định
Số 45 (6/2014) > trang 69-75 |  PDF (3253.00 KB)
Lương Văn Anh, Phạm Thị Minh Thúy, Nguyễn Thùy Linh
Tóm tắt
Hiện nay tính cho toàn tỉnh Nam Định có 1.546.141 người đang sử dụng nước hợp vệ sinh (HVS) từ các loại hình cấp nước khác nhau; chủ yếu cấp nước từ các công trình cấp nước tập trung, công trình cấp nước tập trung của tỉnh chủ yếu là khai thác nguồn nước mặt từ Sông, nước ngầm chiếm một tỷ lệ nhỏ chủ yếu là khai thác nhỏ, lẻ. Xu thế của Biến đổi khí hậu (BĐKH) ảnh hưởng nhiều đến cung cấp và sự phát triển cấp nước sinh hoạt của toàn khu vực tỉnh Nam Định trong thời gian tới. Trước tình hình đó việc nghiên cứu đề xuất giải pháp Cấp nước nông thôn trong điều kiện BĐKH của tỉnh Nam Định là cần thiết.
Tác động và đáp ứng của cộng đồng ở Thừa Thiên Huế về biến đổi khí hậu
Số 45 (6/2014) > trang 76-83 |  PDF (678.00 KB)
Nguyễn Minh Kỳ
Tóm tắt
Mục đích của bài báo nhằm cung cấp một số thông tin về những tác động và thích ứng của cộng đồng ở Thừa Thiên Huế về biến đổi khí hậu trong giai đoạn hiện nay. Quá trình khảo sát và thu thập mẫu nghiên cứu được tập trung ở cộng đồng ngư dân đầm phá Tam Giang- Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu được xử lý, phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 13.0. Sau khi tiến hành tính toán các trị trung bình mẫu ( ), độ lệch chuẩn mẫu (Sx), tần suất (f), phần trăm (p, %), nghiên cứu còn sử dụng kỹ thuật phân tích thống kê như Chi-bình phương (χ 2), t-test, binomial test và One-Way ANOVA để kiểm định các kết quả thu được. Theo như đánh giá của cộng đồng thì mức độ nguy cơ nợ nần do biến đổi khí hậu khác biệt có ý nghĩa thống kê bởi yếu tố “tuổi tác” với F=4,586; df=2; p<0,05. Nhằm đáp ứng với với những tác động kéo dài của biến đổi khí hậu cộng đồng ngư dân đã có các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ ảnh hưởng của thời tiết cực đoan.
Nghiên cứu hàm lượng Cu, Pb, Zn trong đất nông nghiệp do ảnh hưởng của nước tưới sông Nhuệ
Số 45 (6/2014) > trang 84-89 |  PDF (339.00 KB)
Nguyễn Thị Lan Hương
Tóm tắt
Các mẫu đất - nước được lấy tại hai thời điểm 7/2011 (mùa mưa) và tháng 3/2012 (mùa khô), dọc theo chiều dài sông Nhuệ từ cống Liên Mạc - Hà Nội đến Phủ Lý - Hà Nam để nghiên cứu ảnh hưởng của nước tưới đến sự tích lũy hàm lượng Cu, Pb và Zn trong đất. Hàm lượng Cu và Zn trong các mẫu đất đo được tại một số vị trí vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với hàm lượng kim loại nặng trong đất (QCVN 03:2008/BTNMT). Mối tương quan giữa hàm lượng Cu, Pb, Zn trong nước và trong đất là khá cao, hệ số tương quan Pearson giao động từ 0,79 - 0,91. Điều đó chứng tỏ rằng việc sử dụng nước tưới của sông Nhuệ ảnh hưởng đến sự tích lũy hàm lượng Cu, Pb và Zn trong đất. Tại điểm có hàm lượng Cu, Pb, Zn trong nước tưới thấp thì hàm lượng trong đất cũng rất thấp, ngược lại tại điểm có hàm lượng Cu, Pb, Zn trong nước tưới cao thì hàm lượng trong đất cũng tăng cao.
Tác động của các công trình giao thông và hồ chứa thủy điện đến lũ vùng hạ du sông Ba
Số 45 (6/2014) > trang 90-96 |  PDF (3321.00 KB)
Nguyễn Văn Tuấn, Bùi Nam Sách, Đào Xuân Thắng, Trần Thị Nhung
Tóm tắt
Nghiên cứu này tập trung đánh giá tác động của các công trình hồ chứa thủy điện và hệ thống đường giao thông đến lũ hạ du lưu vực sông Ba tỉnh Phú Yên sử dụng bộ mô hình MIKE. Kết quả cho thấy đối với các công trình hồ chứa nếu vận hành theo đúng quy trình sẽ không gây tác động lớn đến lũ tại hạ du (so với điều kiện tự nhiên không có hồ), tuy nhiên các hồ này có dung tích phòng lũ nhỏ nên khi có lũ lớn vẫn phải xả để đảm bảo an toàn công trình và thời điểm xả cũng như việc tuân thủ quy trình là những vấn đề có thể gây thiệt hại cho hạ du. Đối với các công trình giao thông khi được xây dựng đã hình thành nên các tuyến cản tiêu thoát lũ đáng kể, làm dâng mực nước hạ du và tăng động lực dòng chảy sau các cống thoát nước qua đường.
12