Số 31 (12/2010)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 12/2010
 
   
MỤC LỤC
Số 31 (12/2010) > |  PDF (312.00 KB)
Tràn sự cố - một giải pháp an toàn cho hồ chứa thủy lợi, thủy điện
Số 31 (12/2010) > trang 03 - 10 |  PDF (664.00 KB)
Phạm Ngọc Quý
Tóm tắt
Một công trình quan trọng trong điều chỉnh lưu lượng và mực nước phục vụ các yêu cầu sử dụng nước khác nhau và phòng chống giảm nhẹ thiên tai là hồ chứa nước. An toàn hồ chứa mang một ý nghĩa đặc biệt, nhất là hiện nay vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra theo hướng tăng thêm bất lợi cho hồ chứa. Trước tình hình đó, một giải pháp đáp ứng an toàn hồ chứa đang được bắt đầu sử dụng ở Việt Nam là xây dựng Tràn sự cố.
Những kết quả nghiên cứu về tràn sự cố không chỉ dùng khi lũ đến vượt thiết kế, nhằm đảm bảo an toàn cho hồ chứa, mà còn ứng dụng để nâng cao mực nước dâng bình thường (nhưng không tăng chiều cao đập), hoặc phối hợp xây dựng nhiều hình thức tràn với mỗi tràn có một chức năng nhiệm vụ riêng, nhằm hạ thấp giá thành công trình
Ảnh hưởng của lũ và lũ quét đến một số công trình giao thông ở vùng duyên hải miền Trung
Số 31 (12/2010) > trang 11 - 15 |  PDF (1814.00 KB)
Lê Xuân Khâm
Tóm tắt
Việt Nam là một nước nằm trong vùng áp thấp nhiệt đới, có nhiều thiên tai bất thường như lũ, bão. Một số năm gần đây, vùng duyên hải miền Trung là nơi có bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ nhiều so với cả nước. Bão và áp thấp nhiệt đới thường kéo theo mưa lớn, tập trung sinh ra lũ lụt đã gây ra nhiều thiệt hại về tài sản và thiệt hại về con người, trong đó có các công trình giao thông nông thôn.
Trong báo cáo, này tác giả thống kê một số dạng hư hỏng của công trình giao thông nông thôn ở vùng duyên hải miền Trung nước ta, phân tích tổng quan về nguyên nhân cũng như nghiên cứu sơ bộ giải pháp giảm thiểu thiệt hại do lũ gây ra.
Kết quả nghiên cứu xác định mũi phun hợp lý cho tràn xả lũ sông Bung 4
Số 31 (12/2010) > trang 16 - 20 |  PDF (239.00 KB)
Nguyễn Quang Cường, Trần Quốc Thưởng, Nguyễn Thị Hương Giang
Tóm tắt
Tràn xả lũ thủy điện sông Bung 4 có tỷ lưu lớn, hạ lưu tràn là một đoạn sông cong, có đường giao thông và dân sinh sống ở bờ trái. Do đó việc nghiên cứu thí nghiệm mô hình thủy lực lựa chọn kết cấu mũi phun tràn để giảm xói lở và gia cố hạ lưu là cần thiết.
Bài viết nêu tóm tắt kết quả nghiên cứu thực nghiệm, chọn kết cấu mũi phun hợp lý cho tràn xả lũ thủy điện Sông Bung 4 – Quảng Nam.
Nghiên cứu thực nghiệm chế độ thuỷ lực xả lũ thi công công trình thuỷ điện Đăkđrinh
Số 31 (12/2010) > trang 21 - 26 |  PDF (412.00 KB)
Nguyễn Quang Cường, Trần Quốc Thưởng, Vũ Đức Hạnh
Tóm tắt
Dẫn dòng thi công là công tác hết sức quan trọng trong xây dựng các công trình thuỷ lợi thủy điện. Xác định được biện pháp dẫn dòng thi công hợp lý là đảm bảo cho công tác thi công công trình đúng tiến độ, an toàn và giảm giá thành xây dựng.
Đối với những công trình nhỏ, về mùa kiệt thường dẫn dòng thi công qua cống, kênh, về mùa lũ qua cống, lòng sông thu hẹp, kênh…. . Gần đây nước ta xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi, thuỷ điện lớn: Sê San 3, Sê San 4, Bản Vẽ, Tuyên Quang, Cửa Đạt… Nếu theo các sơ đồ dẫn dòng thông thường thì sẽ tốn nhiều kinh phí. Do đó, lựa chọn sơ đồ xả lũ dẫn dòng thi công kết hợp qua cống và đập tràn xây dở... giảm đáng kể kinh phí xây dựng công trình. Tuy nhiên khi tính toán lý thuyết chưa đề cập được đầy đủ các yếu tố, do đó thường cần phải xác định thông qua thí nghiệm mô hình thuỷ lực. Bài viết nêu tóm tắt kết quả nghiên cứu thực nghiệm chế độ thuỷ lực xả lũ thi công công trình thuỷ điện Đăkđrinh.
Cơ sở khoa học và thực tiễn lựa chọn kích thước khối đổ đập bê tông trọng lực
Số 31 (12/2010) > trang 27 - 33 |  PDF (5276.00 KB)
Nguyễn Hữu Huế
Tóm tắt
Phân chia và xác định kích thước khoảnh đổ là vấn đề rất quan trọng trong thi công bê tông khối lớn. Đặc biệt là đối với đập bê tông trọng lực có chiều cao, chiều dài hàng chục đến hàng trăm mét, phải đổ một lượng bê tông hàng chục nghìn đến hàng triệu m3 bê tông. Đập thường được thiết kế thành nhiều khoang liên kết bởi khớp nối. Dù có chia nhỏ, nhưng mỗi khoang cũng thường hàng nghìn m3 bê tông. Không thể thi công liên tục trong từng khoang, nên phải chia thành những khoảnh có kích thước phù hợp với kết cấu đập, đảm bảo năng suất, tiến độ và đảm bảo khống chế nhiệt độ trong quá trình thi công. Việc lựa chọn kích thước khoảnh đổ bê tông hợp lý có ý nghĩa rất lớn đến kinh tế và kỹ thuật công trình. Việc tăng kích thước khoảnh đổ sẽ đẩy nhanh tiến độ thi công, giảm chi phí lắp đặt ván khuôn và xử lý khe thi công.
Nghiên cứu đề xuất giải pháp ổn định cửa Đà Rằng
Số 31 (12/2010) > trang 34 - 39 |  PDF (4469.00 KB)
Lê Đình Thành, Ngô Lê Long, Phạm Thu Hương
Tóm tắt
Có thể nói cửa Đà Rằng là cửa sông lớn nhất và phức tạp nhất cửa Phú Yên và của khu vực nam Trung Bộ, cửa Đà Rằng với thành phố Tuy Hòa ngay cửa sông nên các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội càng tác động đến cửa sông. Đến nay đã có một số nghiên cứu, đề xuất để ổn định cửa nhưng chưa được thực hiện vì các nghiên cứu về cơ sở khoa học còn hạn chế cũng như năng lực tài chính chưa cho phép. Nội dung bài báo này là kết quả nghiên cứu toàn diện từ điều tra đo đạc thực tế đến ứng dụng các mô hình toán tiên tiến về các cơ sở khoa học và thực tiễn để từ đó đề xuất giải pháp phối hợp bằng công trình cụ thể và nạo vét luồng có tính khả thi và hiệu quả khá toàn diện.
Nghiên cứu cơ sở khoa học vận hành hệ thống hồ chứa phòng lũ cho lưu vực sông Cả
Số 31 (12/2010) > trang 40 - 45 |  PDF (1171.00 KB)
Hoàng Thanh Tùng, Vũ Minh Cát, Robeto Ranzi
Tóm tắt
Giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt gây ra, tăng cường hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường từ việc vận hành hệ thống liên hồ chứa trên lưu vực các sông lớn ở Miền trung là những vấn đề cấp bách hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh thiên tai lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn, với mức độ ngày càng trầm trọng hơn. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học vận hành hệ thống liên hồ chứa phòng lũ cho lưu vực sông Cả, tỉnh Nghệ An,Việt Nam.
Đánh giá sự bồi lắng lòng hồ núi Cốc, đề xuất giải pháp bảo vệ và sử dụng bền vững
Số 31 (12/2010) > trang 46 - 51 |  PDF (430.00 KB)
Ngô Lê Long
Tóm tắt
Hồ Núi Cốc đóng một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên. Những năm gần đây, do yêu cầu cấp nước sinh hoạt, công nghiệp cho Thành phố Thái Nguyên và phát triển du lịch đòi hỏi tăng cao số lượng và chất lượng nước trong hồ. Trong khi đó, một số hoạt động kinh tế - xã hội đã làm cho lượng bùn cát đổ vào hồ tăng lên đáng kể gây bồi lắng lòng hồ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuổi thọ của công trình. Vì vậy, cần phải xem xét đánh giá việc bồi lắng lòng hồ từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.
Ứng dụng mô hình MIKE 11 đánh giá hiệu quả phòng chống lũ lụt của các hồ chứa thượng nguồn sông Hương
Số 31 (12/2010) > trang 52 - 56 |  PDF (2937.00 KB)
Ngô Lê Long, Nguyễn Mạnh Toàn
Tóm tắt
Sông Hương là sông lớn nhất và quan trọng nhất của tỉnh Thừa Thiên – Huế. Sông có nguồn nước phong phú, nhưng phân bố không đều theo mùa. Để phòng lũ và nâng cao khả năng khai thác, sử dụng nước, nhiều công trình thủy lợi, thủy điện trên hệ thống sông Hương đã và đang được xây dựng. Sự xuất hiện các công trình hồ chứa thủy điện thượng nguồn sẽ làm thay đổi toàn bộ chế độ dòng chảy tự nhiên trên hệ thống sông Hương, đồng thời nảy sinh mâu thuẫn giữa các hộ dùng nước. Trong đó đặc biệt là mâu thuẫn giữa yêu cầu chống lũ cho hạ du và quyền lợi của ngành điện. Việc giải quyết mâu thuẫn đòi hỏi phải có sự phối hợp tốt giữa các hồ chứa trong phòng chống lũ. Bài báo ứng dụng mô hình toán MIKE 11 phân tích hiệu quả chống lũ của các hồ chứa thượng nguồn sông Hương, làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa phục vụ khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước trên lưu vực sông.
Nghiên cứu diễn biến chất lượng nước hồ Đại Lải tỉnh Vĩnh Phúc qua một năm đo đạc và thu thập dữ liệu
Số 31 (12/2010) > trang 57 - 64 |  PDF (316.00 KB)
Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thị Thu Huyền
Tóm tắt
Hiện tượng phú dưỡng nước (eutrophication) là một dạng suy giảm chất lượng nước thường xảy ra ở các hồ chứa với hiện tượng nồng độ các chất dinh dưỡng (thông thường là các muối chứa phốt pho và nitơ) trong hồ tăng cao làm bùng phát các loại thực vật nước (như rong, tảo, lục bình, bèo v.v...), làm tăng các chất lơ lửng, chất hữu cơ, làm suy giảm lượng ôxy trong nước, không chỉ gây ô nhiễm môi trường nước mà còn gây ra những khó khăn tốn kém cho các ngành kinh tế quốc dân. Kết quả đo đạc chất lượng nước hồ Đại Lải cho thấy chất lượng nước hồ tương đối tốt, hồ chưa bị phú dưỡng bởi phốt pho.Hàm lượng ni tơ trong nước hồ tương đối lớn. Những kết quả đo đạc chất lượng nước hồ sẽ dùng làm dữ liệu đầu vào để xây dựng mô hình tính toán quá trình phú dưỡng nước ở hồ chứa tiếp theo.
Nghiên cứu mô hình quản lý cấp nước sạch nông thôn
Số 31 (12/2010) > trang 65 - 70 |  PDF (274.00 KB)
Hoàng Thị Thắm, Ngô Thị Thanh Vân
Tóm tắt
Dựa trên cơ sở phân tích thực trạng của các mô hình quản lý khai thác dịch vụ nước sạch nông thôn ở Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế trong các mô hình đó là do: Cơ chế, chính sách quản lý cấp nước chưa phù hợp, hoạt động của các doanh nghiệp cấp nước còn mang tính bao cấp trong đầu tư và quản lý, chưa tự chủ về tài chính. Mặt khác, thiếu sự phối hợp quản lý giữa các bên liên quan và sự tham gia quản lý của người hưởng lợi cũng là những trở ngại lớn đối với công tác quản lý.
Để phát huy những thế mạnh và khắc phục hạn chế từ các mô hình đó, nghiên cứu đề xuất một mô hình quản lý, khai thác dịch vụ cấp nước sinh hoạt nông thôn. Mô hình này có sự quản lý kết hợp của Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và cộng đồng dân cư.
Cơ sở lý luận ước lượng giá trị kinh tế của phòng chống lũ
Số 31 (12/2010) > trang 71 - 76 |  PDF (304.00 KB)
Đào Văn Khiêm, Bùi Thị Thu Hòa
Tóm tắt
Các thảm họa do thiên nhiên gây ra ngày càng gia tăng, trong đó phải kể đến những ảnh hưởng do lũ đang ở mức báo động. Lũ lụt đã làm thiệt hại đến mọi mặt của mỗi quốc gia như kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường,… Vì thế, việc tính toán những thiệt hại do lũ gây ra cũng như những hướng khắc phục sau lũ đều được chính phủ các nước phát triển và aphát triển quan tâm. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển việc ước tính những thiệt hại do lũ gây ra dưới góc độ tài chính còn nhiều yếu kém. Trong bài viết này chúng tôi muốn thảo luận cơ sở phương pháp luận của việc ước lượng giá trị kinh tế của phòng lũ trong điều kiện kinh tế thị trường cũng như trong điều kiện phát triển bền vững của kinh tế tài nguyên môi trường. Cơ sở lý luận của việc ước lượng giá trị kinh tế của phòng chống lũ dựa trên hai quan điểm là phát triển cung và cầu.
Đánh giá giá trị môi trường bị tác động bởi dự án phát triển thủy điện
Số 31 (12/2010) > trang 77 - 81 |  PDF (233.00 KB)
Nguyễn Thị Hoàng Hoa
Tóm tắt
Bất cứ một dự án phát triển nào trên thế giới cũng có hai mặt của nó. Một mặt nó tạo ra những giá trị kinh tế làm tăng sự phát triển của xã hội. Mặt khác hầu hết các dự án này đều gây ra những tác động môi trường mà con người cần phải quan tâm cho sự phát triển bền vững. Để quyết định cho việc đầu tư phát triển một dự án phải được tính toán kỹ lưỡng trên mặt lợi, mặt hại mà nó mang lại hay nói cách khác là phải ước lượng đầy đủ chi phí và lợi ích về kinh tế và môi trường của dự án ở góc độ toàn nền kinh tế. Việc đánh giá giá trị môi trường hiện nay vẫn còn là vấn đề mới mẻ ở Việt Nam. Trong bài viết này tác giả thảo luận áp dụng một số phương pháp đánh giá giá trị môi trường của một số yếu tố môi trường điển hình bị tác động bởi các dự án phát triển thủy điện.
Xi lanh lực điện từ trong hệ thống treo chủ động của ô tô
Số 31 (12/2010) > trang 82- 87 |  PDF (1148.00 KB)
Nguyễn Đức Ngọc , Deng Zhaoxiang
Tóm tắt
Hệ thống treo chủ động là một trong các bộ phận quan trọng nhất của một chiếc ô tô hiện đại. Bài viết được dựa trên việc thiết lập mô hình tổng thể mô phỏng các hoạt động của hệ thống treo với bảy bậc tự do, sử dụng phần mềm Flux tính toán tối ưu thiết kế xi lanh lực điện từ và từ đó thiết kế mô hình điều khiển cho hệ thống treo chủ động.
12