Số 35 (11/2011)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 11/2011 - Kỷ niệm 35 năm thành lập các đoàn ĐH
 
   
Một số vấn đề về đê, kè tỉnh Ninh Thuận và đề xuất ứng dụng các giải pháp phù hợp
Số 35 (11/2011) > trang 5-14 |  PDF (4168.00 KB)
Phạm Ngọc Quý, Đỗ Văn Lượng, Đỗ Xuân Tình
Tóm tắt
Vùng ven biển tỉnh Ninh Thuận là vùng kinh tế phát triển chậm và còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, tiềm năng phát triển kinh tế trong vùng rất lớn. Hệ thống đê, kè biển, đê cửa sông chưa được đầu tư thỏa đáng, cao trình đỉnh đê còn thấp dưới mức triều cường, mặt cắt ngang đê chưa đủ tiêu chuẩn thiết kế, xuống cấp thường xuyên sau mỗi mùa mưa bão. Mặt khác, do sự biến đổi khí hậu toàn cầu và hiện tượng nước biển dâng đã và đang làm cho hệ thống đê kè biển ngày càng xuống cấp nghiêm trọng.
Trong thời gian tới, vùng bờ biển Ninh Thuận đang tập trung phát triển kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực, nên nhu cầu bảo vệ con người và tài sản ngày càng cao.
Chính vì vậy việc hoàn thiện hệ thống đê biển, đê cửa sông; nghiên cứu xây dựng các dự án củng cố nâng cấp đê biển hiện có; đề xuất các dạng mặt cắt kết cấu đê, kè biển hợp l‎ý và phù hợp với từng dạng địa hình, từng vùng địa chất, từng điều kiện sử dụng và thân thiện với môi trường là rất cấp thiết. Đồng thời với đầu tư, nâng cấp là xây dựng hệ thống quản lý chặt chẽ và hiệu quả.
Một số giải pháp nhằm đảm bảo an toàn các công trình xây dựng trong điều kiện thiên tai bất thường miền Trung
Số 35 (11/2011) > trang 15-24 |  PDF (966.00 KB)
Nguyễn Văn Mạo, Nguyễn Quang Hùng, Mai Văn Công
Tóm tắt
Miền Trung gồm 13 tỉnh từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, là nơi hàng năm có nhiều thiên tai bão, lũ, trượt lở đất gây thiệt hại to lớn về người và của. Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp kĩ thuật nhằm đảm bảo an toàn cho các công trình xây dựng trong điều kiện thiên tai bất thường miền Trung” do trường ĐHTL chủ trì thực hiện trong ba năm 2009-2011.Báo cáo này giới thiệu một số kết quả nghiên cứu của đề tài: Cơ sở dữ liệu về các loại hình thời tiết thủy văn nguy hiểm gây TTBT và dự báo trượt lở đất miền Trung. Đồng thời, báo cáo cũng giới thiệu các kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp kĩ thuật nhằm đảm bảo an toàn các công trình giao thông, thủy lơi, xây dựng kiến trúc miền Trung trong điều kiện thiên tai bất thường. Các nghiên cứu đã dựa trên các phân tích các kết quả điều tra khảo sát thực tế miền Trung và cập nhật các tiến bộ khoa học về mô hình tính, phương pháp tính, phần mềm ứng dụng, hệ thống tiêu chuẩn kĩ thuật trong nước và một số nước trên thế giới. Các kết quả nghiên cứu có hàm lượng khoa học phong phú, phù hợp với thực tế miền Trung, đủ độ tin cậy, dễ chuyển giao để phục vụ công tác phòng tránh thiên tai miền Trung nước ta.
Nghiên cứu, đề xuất mặt cắt ngang đê biển hợp lý và phù hợp với điều kiện từng vùng từ Quảng Ngãi đến Bà Rịa – Vũng Tàu
Số 35 (11/2011) > trang 25-31 |  PDF (357.00 KB)
Trần Thanh Tùng, Phạm Ngọc Quý, Đỗ Tất Túc
Tóm tắt
Nghiên cứu, đề xuất mặt cắt ngang đê biển hợp lý và phù hợp với điều kiện từng vùng từ Quảng Ngãi đến Bà Rịa – Vũng Tàu là một nội dung quan trọng trong Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng đê biển và công trình thủy lợi vùng cửa sông ven biển (Dự án giai đoạn II). Đề tài tập trung vào việc phân loại, đề xuất các dạng mặt cắt ngang hợp lý cho các vùng, xây dựng bộ số liệu điều kiện biên và đưa ra tiêu chuẩn an toàn áp dụng cho các tỉnh từ Quảng Ngãi tới Bà Rịa – Vũng Tàu. Các kết quả của đề tài sẽ đóng góp vào việc cập nhật Tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế đê biển ở Việt Nam
Những vấn đề về kỹ thuật và thiết kế cửa van nhịp lớn cho đồng bằng sông Cửu Long
Số 35 (11/2011) > trang 32-36 |  PDF (249.00 KB)
Đỗ Văn Hứa
Tóm tắt
Sau khi nêu rõ môi trường làm việc và yêu cầu đối với cửa van ở Đồng bằng sông Cửu Long, tác giả đề nghị bổ sung những yêu cầu tính toán, vật liệu, tổ hợp tải trọng khi thiết kế cửa van trong TCVN 8299-2009: Công trình thủy lợ i- Thiết kế cửa van, khe van bằng thép – Yêu cầu kỹ thuật. Hà Nội - 2009
Một số kinh nghiệm thi công thùng chìm khối lớn tại dự án kéo dài đê chắn sóng Tiên Sa – Đà Nẵng
Số 35 (11/2011) > trang 37-44 |  PDF (2436.00 KB)
Nguyễn Huy Khôi
Tóm tắt
Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3.260 km. Việc bảo vệ, khai thác tiềm năng kinh tế biển là gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đất nước. Sự triển khai ngày càng nhiều về số lượng, càng lớn về qui mô, ngày càng phong phú đa dạng về chức năng đối với các loại công trình biển như công trình bảo vệ bờ biển, công trình neo đậu - tránh bão, bến cảng, đê chắn sóng, các công trình bảo vệ đảo, cảng và sân bay trên đảo xa, v.v...Những loại công trình này đã được nghiên cứu và xây dựng nhiều trên thế giới và trong nước ta, nhưng còn tồn tại nhiều vấn đề chưa giải quyết tốt. Đặc biệt là vùng biển nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, gió bão và địa chất nền khác nhau.... Do đó, nhiều vấn đề tồn tại về kết cấu và tính ổn định của công trình, về bố trí tổng thể,có cả vấn đề về xử lý nền đất và có vấn đề về công nghệ thi công.
Trải qua gần 20 năm thực tế trực tiếp tham gia xây dựng công trình biển, bản thân đã tích lũy được những kiến thức mới về KHCN biển nhằm chia sẻ kinh nghiệm đến các đồng nghiệp “Trình tự và công nghệ thi công thùng chìm” đã được áp dụng thành công tại Dự án Cảng nước sâu Cái Lân- Quảng Ninh (2000-2003) và Dự án đê chắn sóng Tiên Sa- Đà Nẵng (2005-2007)
Phát triển tương quan mới tính toán chiều dài tường cọc bản cho kè ven sông ở thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long
Số 35 (11/2011) > trang 45-48 |  PDF (243.00 KB)
Văn Hữu Huệ
Tóm tắt
Thời gian gần đây, chúng ta đã thấy được những hiểm hoạ không nhỏ do sạt lở bờ sông ở TP. Hồ Chí Minh và ĐBSCL. Chúng đã gây nên những tổn thất lớn đe doạ nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản nhà nước và nhân dân trong vùng. Từ trước tới nay, thiết kế tường cọc bản (TCB.) là giả định chiều dài TCB. trước, sau đó tính toán kiểm tra ổn định và biến dạng của TCB., chúng ta chưa tính toán trực tiếp chiều dài TCB. Việc nghiên cứu xây dựng tương quan mới tính toán trực tiếp chiều dài TCB. phục vụ thiết kế kè bảo vệ sạt lở bờ sông là khẩn thiết cho TP. Hồ Chí Minh và ĐBSCL.
Hồ chứa nước ở Ninh Thuận: kết quả và định hướng phát triển
Số 35 (11/2011) > trang 49-54 |  PDF (1652.00 KB)
Nguyễn Văn Bính
Tóm tắt
Sau giải phóng hơn 36 năm, Ninh Thuận đã có nhiều đổi thay và phát triển. Trong thành tựu chung đó có sự đóng góp hiệu quả của các hệ thống thuỷ lợi, đặc biệt là các Hồ chứa nước. Chính các hồ chứa đã đưa lại màu xanh cho tỉnh, đã đảm bảo cấp nước cho các yêu cầu khác nhau, góp phần hạn chế tác hại của lũ. Tuy nhiên từ thực tế xây dựng và quản lý các hồ đã bộc lộ nhiều bất cập. Bài viết đề cập đến hiệu quả, hạn chế và định hướng phát triển hệ thống các hồ chứa của tỉnh Ninh Thuận
Một số kiến nghị về giải pháp xử lý chất thải rắn từ các nhà máy đóng tầu, nhà máy nhiệt điện, các khu công nghiệp nặng nhằm đảm bảo ổn định bền vững môi trường
Số 35 (11/2011) > trang 55-59 |  PDF (3140.00 KB)
Nguyễn Huy Khôi
Tóm tắt
Việt Nam với hơn 3.000 km bờ biển với nhiều hệ thồng đảo và quần đảo ven thềm lục địa là tiềm năng cho các dự án Khai thác Cảng, các công trình thủy công ven biển hoặc lấn biển cũng như công trình bảo vệ hải đảo trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, bảo vệ toàn vẹn lãnh hải Việt Nam.
Công nghệ Thiết kế và thi công các công trình ven biển và lấn biển đang áp dụng với các kết cấu Betong khối lớn, công nghệ hiện đại như kết cấu dạng thùng chìm sẽ được áp dụng rộng rãi và phù hợp với các khu vực bờ biển miền Trung, Nam Trung Bộ của Việt Nam. Kết cấu thùng chìm được đúc rỗng, hạ thủy, lắp đặt tại vị trí. Các thùng chìm được đổ đầy vật liệu hạt rời ( γ≥ 1,6T/m3) theo kết cấu công trình và đổ lớp bê tông phủ nắp kín đảm bảo bền vững.
Tuy nhiên tại các dự án trên vật liệu được đổ trong thùng chìm thường là cát hạt thô với γ ≥ 2,0T/m3 Đây là nguồn vật liệu rất tốt nhưng trữ lượng có hạn, cần để dành cho xây dựng hạ tầng cơ sở lâu dài cho đất nước sau này. Vấn đề được đặt ra là tìm loại vật liệu nào đạt yêu cầu tỷ trọng và rẻ, tiết kiệm nguyên liệu tự nhiên ?
Tại các khu công nghiệp lớn đang được triển khai như khu kinh tế Nghi Sơn, khu kinh tế Vũng Áng,. trong quá trình khai thác sử dụng các nhà máy (nhà máy nhiệt điện, nhà máy thép, nhà máy đóng tàu…) sẽ có một lượng chất thải lớn được thải ra và cần được xử lý.
Phát triển tương quan mới tính toán chiều dài tường cọc bản bảo vệ đường vào cầu hay khu dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long
Số 35 (11/2011) > trang 60-63 |  PDF (255.00 KB)
Văn Hữu Huệ
Tóm tắt
Việc xây dựng hạ tầng cơ sở để khơi dậy tiềm năng phát triển kinh tế cho vựa lúa lớn nhất nước đã và đang được ráo riết thực hiện ở ĐBSCL. như Cầu Mỹ Thuận, Cầu Cần Thơ, Cầu Vàm Cống, Quốc lộ 1A v.v… Từ trước tới nay, thiết kế tường cọc bản (TCB.) là giả định chiều dài TCB. trước, sau đó tính toán kiểm tra ổn định và biến dạng, chứ chưa tính toán trực tiếp chiều dài TCB. Việc nghiên cứu xây dựng tương quan mới tính toán trực tiếp chiều dài TCB. phục vụ thiết kế kè bảo vệ sạt lở đường vào cầu, khu dân cư là khẩn thiết cho TP. Hồ Chí Minh nói chung và vùng ngập lũ ĐBSCL. nói riêng
Một số kết quả đánh giá tần suất đảm bảo phòng lũ hiện tại của đê bắc sông Dinh, tỉnh Ninh Thuận theo lý thuyết độ tin cậy
Số 35 (11/2011) > trang 64-72 |  PDF (1049.00 KB)
Đỗ Xuân Tình, Mai Văn Công
Tóm tắt
Tuyến đê Bắc sông Dinh có nhiệm vụ rất quan trọng là phòng tránh lũ lụt của con sông lớn nhất tỉnh Ninh Thuận cho toàn bộ thành phố Phan Rang – Tháp Chàm. Trong những năm gần đây, tình hình lũ lụt vùng sông Dinh xảy ra ngày càng thường xuyên và nghiêm trọng hơn. Ngoài ra, tuyến đê hiện nay cũng chưa phù hợp với thực tế phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Thuận những năm gầy đây và định hướng qui hoạch phát triển thành phố Phan Rang – Tháp Chàm trong tương lai. Bài báo trình bày tóm tắt phương pháp nghiên cứu ứng dụng lý thuyết độ tin cậy đánh giá an toàn hệ thống đê sông Dinh và các kết quả ban đầu. Đây là một phần kết quả của bài toán tổng thể về đánh giá hiện trạng và thiết kế nâng cấp đê Bắc sông Dinh, tỉnh Ninh Thuận.
Đề xuất ứng dụng một số giải pháp xây dựng đập vật liệu hỗn hợp tại tỉnh Đồng Nai
Số 35 (11/2011) > trang 73-81 |  PDF (1184.00 KB)
Trần Ngọc Ánh
Tóm tắt
Trong những năm gần đây, xu hướng xây dựng đập vật liệu địa phương bằng đất đá hỗn hợp (hay còn gọi là đập có vật liệu ngẫu nhiên, không chọn lọc, đào hố móng ra được loại nào thì mang vào đắp đập loại đó) khá phổ biến. Đập đất đá hỗn hợp có ưu điểm trội hơn đập đồng chất do việc tận dụng các loại vật liệu có sẵn ở công trường, nhất là các loại đất đào hố móng và có thể sử dụng đê quây bằng đá ở hạ lưu để làm thân đập. Hiện tỉnh Đồng Nai chưa có nghiên cứu nào ứng dụng, sử dụng vật liệu hỗn hợp tại chỗ để đắp đập, do vậy nguồn vật liệu này đang bị bỏ phí. Ở Đồng Nai mỗi vùng có cấu tạo địa chất khác nhau, vật liệu đất phong hóa có chứa trên 20% các hạt to (đường kính > 2mm) rất phong phú, nếu đưa vào sử dụng để đắp đập sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Căn cứ vào tính chất cơ lý ở khu vực xây dựng công trình, bài viết giới thiệu giải pháp xây dựng đập phù hợp với từng loại đất, đặc biệt là đất hỗn hợp có tại công trình và khu vực lân cận.
Nguyên nhân những hư hỏng thường gặp và các vấn đề cần lưu ý khi thiết kế, thi công và quản lý công trình bảo vệ bờ biển tỉnh Bình Thuận
Số 35 (11/2011) > trang 82-88 |  PDF (2350.00 KB)
Mai Quang Khoát
Tóm tắt
Hư hỏng công trình bảo vệ biển là vấn đề được sự quan tâm lớn của các nhà thiết kế xây dựng và khai thác sử dụng công trình này. Vấn đề là làm sao giảm thiểu tối đa các hư hỏng, bảo đảm ở mức độ cho phép, không có ảnh hưởng lớn đến sự hoạt động của công trình cũng như làm sao ngăn chặn các hư hỏng do sự kém hiểu biết và bất cập trong thiết kế, thi công xây dựng cũng như khâu duy tu bảo dưỡng khi sử dụng khai thác công trình, vì ngăn cản hoàn toàn các hư hỏng đối với công trình bảo vệ bờ biển là điều không tưởng, đây là loại công trình có nhiều nguy cơ gặp rủi ro. Bài viết này đánh giá được hiện trạng và một số nguyên nhân hư hỏng và các vấn đề cần lưu ý khi thiết kế, thi công và quản lý các công trình bờ vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bình Thuận nói riêng và cả nước nói chung.
Ứng dụng công nghệ cọc xi măng đất để xây dựng kè chống xói lở bờ sông khu đô thị mới An Phú Thịnh - thành phố Quy Nhơn
Số 35 (11/2011) > trang 89-95 |  PDF (2117.00 KB)
Đỗ Cảnh Hào, Nguyễn Văn Bảo
Tóm tắt
Công nghệ cọc xi măng đất (XMĐ - Deep soil mixing column) đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam trong việc xử lý móng và nền đất yếu cho các công trình xây dựng giao thông, thủy lợi, sân bay, bến cảng, công trình ngầm, v.v... như: làm tường hào chống thấm cho đê đập, đáy cống, gia cố đất xung quanh đường hầm, ổn định tường chắn, hố móng, chống trượt đất cho mái dốc, gia cố nền đường, mố cầu. Với các ưu điểm nổi bật về khả năng xử lý sâu (đến 50 m), thích hợp với các loại đất yếu, môi trường xâm thực, thi công được trong điều kiện mặt bằng chật hẹp, ngập nước, đặc biệt là tốc độ thi công rất nhanh, biện pháp kỹ thuật đơn giản và giá thành thấp hơn nhiều so với các giải pháp khác. Qua nghiên cứu ứng dụng công nghệ này trong thiết kế xây dựng công trình kè chống xói lở bờ sông cho khu đô thị mới An Phú Thịnh, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, chúng tôi thấy rằng công nghệ này rất thích hợp cho việc xây dựng các công trình tương tự tại các vùng đầm phá ven biển nằm trên nền địa chất yếu trong môi trường xâm thực của nước biển.
Đề xuất một số tiêu chí và phương pháp đánh giá tính hợp lý của mặt cắt đê, kè biển
Số 35 (11/2011) > trang 96-101 |  PDF (315.00 KB)
Đặng Thị Hải Vân
Tóm tắt
Trong thiết kế đê, kè biển thường có nhiều phương án. Để lựa chọn, thông thường người thiết kế đối chiếu với các tiêu chuẩn thiết kế và tính toán kinh tế để lựa chọn phương án tối ưu nhất. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn, quy phạm được ban hành để áp dụng trong cả nước. Vì vậy sự phù hợp với điều kiện từng vùng chưa được thỏa mãn. Bài viết này nghiên cứu và đề xuất phương pháp đánh giá tính hợp lý của mặt cắt đê, kè biển thông qua việc chấm điểm sự thỏa mãn từng yêu cầu đối với một mặt cắt đê, kè biển. Trong đó các yêu cầu được đề xuất có thể đưa đến sự phù hợp với điều kiện từng vùng, từng tỉnh
Mô hình thiết kế các hệ thống nước sinh hoạt nông thôn do Trung tâm ĐH2 thực hiện – những kết quả ban đầu đáng khích lệ
Số 35 (11/2011) > trang 102-105 |  PDF (917.00 KB)
Bùi Anh Dũng
Tóm tắt
Hiện nay vấn đề nâng cao chất lượng nước sinh hoạt cho người dân và nhu cầu cấp nước với chất lượng cao và ổn định trong nhiều lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, đặc biệt trong việc tham gia hưởng ứng chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Với nguồn kinh phí dàn trải, hạn hẹp, mật độ dân cư thưa thớt, công tác quản lý vận hành còn đơn giản, việc chọn công nghệ xử lý nước sạch dùng cho vùng nông thôn hết sức quan trọng vừa thích hợp trong giai đoạn hiện tại và tận dụng để nâng cấp về sau.
Trung tâm ĐH2 – Trường Đại học Thủy lợi hiện đang áp dụng mô hình thiết kế các hệ thống nước sinh hoạt áp dụng cho vùng nông thôn đã thu được những kết quả ban đầu đáng khích lệ.
12