Số 34 (9/2011)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9/2011
 
   
MỤC LỤC
Số 34 (9/2011) > |  PDF (314.00 KB)
Nghiên cứu dấu hiệu lũ lớn và phân vùng khả năng gây lũ lớn trên lưu vực sông Lam
Số 34 (9/2011) > trang 3-8 |  PDF (711.00 KB)
Trần Duy Kiều, Lê Đình Thành
Tóm tắt
Lưu vực sông Lam là một trong những lưu vực sông lớn của Việt Nam. Lũ trên lưu vực rất phức tạp và ác liệt gây khó khăn cho việc phòng chống và quản lý lũ. Hiện nay việc quản lý lũ trên lưu vực sông Lam đang được quan tâm nhằm giảm thiểu các thiệt hại do lũ gây ra. Việc nghiên cứu các cơ sở khoa học nhằm đề xuất giải pháp quản lý lũ trên lưu vực là rất quan trọng. Bài báo bước đầu đã đưa ra các dấu hiệu nhận dạng lũ lớn, tiêu chí và kết quả phân vùng khả năng gây ra lũ lớn trên lưu vực sông Lam góp phần nâng cao khả năng cảnh báo và phòng tránh lũ lớn trên lưu vực một cách hiệu quả
Một số ý kiến về tính toán khả năng tiếp nhận nước thải ứng dụng trong quản lý các nguồn gây ô nhiễm và cấp phép xả thải
Số 34 (9/2011) > trang 9-13 |  PDF (302.00 KB)
Vũ Hoàng Hoa
Tóm tắt
Hiện nay, quản lý và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm nước trên các thủy vực sông hồ là vô cùng quan trọng có liên quan đến quản lý bảo vệ chất lượng nước các dòng sông. Để làm được điều đó cần phải kiểm soát các nguồn nước thải chảy vào sông không được vượt quá khả năng chịu tải của dòng sông.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề trên, năm 2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT) đã quy định cấp phép xả nước thải vào nguồn nước phải dựa trên khả năng tiếp nhận nước thải của thủy vực tiếp nhận và có hướng dẫn về các phương pháp tính toán khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước (2008). Tuy nhiên cũng do còn một số vấn đề chưa được làm rõ và bổ sung cho đầy đủ nên phương pháp này chưa được sử dụng một cách rộng rãi trong cấp phép xả thải trong thực tế.
Đề cập về vấn đề trên, bài báo làm rõ khái niệm khả năng tiếp nhận (KNTN) nước thải và đưa ra các ý kiến đánh giá về các tồn tại của phương pháp tính toán khả năng tiếp nhận nước thải hiện hành và hướng nghiên cứu tiếp tục để có được một phương pháp tính toán KNTN nước thải phù hợp với điều kiện thực tế của đoạn sông để cho kết quả tính toán có thể sử dụng ngay được trong quá trình cấp phép xả thải
Một số kết quả nghiên cứu về xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tình trạng và diễn biến môi trường nước và hệ sinh thái thủy sinh hạ lưu sông Trà Khúc
Số 34 (9/2011) > trang 14-20 |  PDF (486.00 KB)
Phạm Thị Ngọc Lan, Hồ Thanh Hải
Tóm tắt
Hạ lưu sông Trà Khúc hiện đang chịu ảnh hưởng nặng nề của sự cạn kiệt về nguồn nước và kéo theo là sự suy thoái tài nguyên thủy sinh vật do sự khai thác, quản lý nước không bền vững gây ra. Tình trạng này hiện trở thành khá phổ biến ở nhiều lưu vực sông lớn ở nước ta. Việc đầu tư cho bảo vệ môi trường nước và HST thủy sinh lưu vực sông hầu như chưa được đưa vào trực tiếp trong các quyết định đầu tư vào các công trình hạ tầng về nước. Để có cơ sở đánh giá đúng đắn diễn biến môi trường – sinh thái sông rất cần phải thu thập thông tin về môi trường, các đặc trưng của hệ sinh thái (HST) sông và diễn dịch chúng thành dạng dễ hiểu nhằm cung cấp các dẫn liệu khoa học cho các nhà quy hoạch, các nhà quản lý, các nhà ra quyết định ở cả Trung ương và địa phương xem xét. Với ý nghĩa đó, bài báo này sẽ trình bày một số kết quả nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị để đánh giá tình trạng và diễn biến môi trường nước và hệ sinh thái thủy sinh khu vực hạ lưu sông Trà Khúc.
Một số ý kiến về cải tiến thể chế, chính sách trong quản lý bảo vệ chất lượng nước các hệ thống Thủy lợi ở Việt Nam
Số 34 (9/2011) > trang 21-25 |  PDF (302.00 KB)
Vũ Hoàng Hoa
Tóm tắt
Là một nước kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, Việt Nam có những hệ thống thủy lợi lớn thuộc địa bàn của một hoặc vài tỉnh. Bên trong hệ thống thủy lợi (HTTL) có những khu tập trung dân cư, khu công nghiệp và các thôn xóm. Điều đó khiến cho việc quản lý bảo vệ chất lượng nước của nhiều HTTL rất khó khăn, phức tạp. Do áp lực của sự gia tăng dân số, đô thị hóa và phát trỉển công nghiệp của các tỉnh và các địa phương trong các năm vừa qua, chất lượng nước của nhiều HTTL đang bị suy giảm nhanh chóng gây nên nhiều bức xúc cho người dân và phát triển KTXH. Một trong nguyên nhân gây nên bức xúc trên là còn những tồn tại trong thể chế, chính sách quản lý chất lượng nước áp dụng trong HTTL chưa được tháo gỡ. Đề cập đến vấn đề trên, bài báo này đi sâu phân tích những tồn tại về thể chế chính sách trong quản lý bảo vệ chất lượng nước các HTTL ở nước ta hiện nay và đề xuất các ý kiến để tháo gỡ nhằm từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm, quản lý bảo vệ tốt chất lượng nước các HTTL
Tiến hành thí nghiệm đánh giá khả năng chịu sóng tràn của mái đê biển trồng cỏ với máy xả sóng
Số 34 (9/2011) > trang 26-31 |  PDF (783.00 KB)
Lê Hải Trung, Vũ Minh Cát, Nguyễn Quang Lương, Thiều Quang Tuấn, Jentsje W. van der Meer
Tóm tắt
Vấn đề ổn định và độ bền của đỉnh đê và mái đê phía trong, đặc biệt là mái đắp đất trồng cỏ thường được nghiên cứu trên mô hình vật lý tỷ lệ 1:1 hoặc trong máng sóng kích thước lớn vì do rất khó thu nhỏ các đặc trưng của vật liệu như đất đắp, đất trồng cỏ, loại cỏ trồng trên mái. Hiện nay ở Việt Nam chưa có phòng thí nghiệm nào đáp ứng được yêu cầu của các thí nghiệm tỷ lệ lớn, nhưng đã có các nghiên cứu đánh giá khả năng chịu sóng tràn của mái đê biển trồng cỏ bằng thiết bị máy xả sóng tại một số tuyến đê biển miền Bắc Việt Nam. Mỗi thí nghiệm tại một điểm thông thường diễn ra trong khoảng 1 tuần, mái đê được kiểm tra với nhiều cấp lưu lượng tăng dần từ nhỏ tới lớn, cho tới khi hư hỏng xảy ra. Qui trình thí nghiệm và số liệu đo đạc được thực hiện theo hướng dẫn thí nghiệm ở Hà Lan và có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Kết quả đã chỉ ra rằng với cỏ bản địa, đồng đều, lưu lượng tràn lên tới 70 l/s/m mới xuất hiện tình trạng xói mái, trong khi cỏ hỗn hợp có lẫn cây lớn trên mái thì khi lưu lượng tràn mới chỉ 20l/s/m đã xuất hiện hố xói trên mái, bắt đầu từ vị trí của cây lớn
Nghiên cứu tác dụng giảm sóng leo trên mái đê biển khi sử dụng kết cấu lát dạng khối chữ nhật khoét lõm
Số 34 (9/2011) > trang 32-37 |  PDF (414.00 KB)
Hoàng Ngọc Tuấn
Tóm tắt
Khối chữ nhật khoét lõm bằng vật liệu bê tông là một trong những dạng kết cấu lát mái đê nhằm bảo vệ mái và giảm chiều cao sóng leo. Tuy nhiên tác dụng giảm sóng leo của loại kết cấu này chưa được nghiên cứu nhiều. Trong bài này trình bày phương pháp nghiên cứu thực nghiệm xác định hệ số chiết giảm chiều cao sóng leo trên mái được lát bằng các khối hình chữ nhật khoét lõm. Kết quả nghiên cứu được khuyến cáo áp dụng cho đê biển Hải Hậu cũng như các khu vực khác có điều kiện tương tự
Xác định ranh giới đê sông và đê cửa sông Trà Khúc tỉnh Quảng Ngãi
Số 34 (9/2011) > trang 38-44 |  PDF (767.00 KB)
Trần Thanh Tùng, Nguyễn Hữu Thảnh
Tóm tắt
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu xác định ranh giới giữa đê sông và đê cửa sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi thông qua việc tính toán giới hạn truyền triều trên sông bằng mô hình thủy lực Mike11. Ranh giới giữa đê sông và đê cửa sông là cơ sở quan trọng để xác định chức năng, nhiệm vụ, điều kiện làm việc và các tải trọng tác dụng lên đê. Đây là một nội dung trong Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu, đề xuất mặt cắt ngang đê biển hợp lý và phù hợp với điều kiện từng vùng từ Quảng Ngãi đến Bà Rịa – Vũng Tàu”. Các kết quả của nghiên cứu sẽ đóng góp vào việc biên soạn Tiêu chuẩn Thiết kế đê biển mới ở Việt Nam.
Khả năng chịu tải của cọc từ kết quả thử động biến dạng lớn (PDA) và nén tĩnh
Số 34 (9/2011) > trang 45-50 |  PDF (476.00 KB)
Bùi Trường Sơn, Phạm Cao Huyên
Tóm tắt
Đánh giá khả năng chịu tải của cọc tại hiện trường là công tác quan trọng và cần thiết sau khi thi công cọc nhằm kết luận chính xác sức chịu tải của cọc theo điều kiện thực tế. Thí nghiệm thử động biến dạng lớn (PDA) cho phép đánh giá khả năng chịu tải của cọc với độ tin cậy cần thiết trong thời gian ngắn. Ngoài ra, thí nghiệm thử động biến dạng lớn có thể thực hiện nhằm hạn chế những bất lợi của thí nghiệm nén tĩnh như điều kiện mặt bằng chật hẹp, tải trọng thí nghiệm quá lớn hay kết quả thử tĩnh không đạt đến giá trị tới hạn. Nội dung chính của bài viết là đánh giá các mô hình trong thử động biến dạng lớn, phân tích các thông số đầu vào và độ tin cậy của phương pháp thí nghiệm trong điều kiện địa chất khu vực.
Ảnh hưởng của ethanol đối với dung dịch bentonite trong công nghệ thi công tường hào chống thấm Bentonite
Số 34 (9/2011) > trang 51-55 |  PDF (353.00 KB)
Nguyễn Cảnh Thái, Nguyễn Thị Thu Hương
Tóm tắt
Khi áp dụng công nghệ chống thấm bằng tường hào bentonite, hỗn hợp vật liệu làm tường được pha trộn bằng cách tạo dung dịch bentonite (là hỗn hợp của nước với bentonite) để sử dụng với vai trò giữ ổn định cho vách hào trước, rồi mới đem trộn với đất để tạo thành vật liệu dạng bùn đặc đổ vào hào. Theo công nghệ thi công tường hào như vậy, cũng như căn cứ vào những yêu cầu về mặt kỹ thuật của tường hào trong các trường hợp khác nhau thì việc tạo được dung dịch bentonite thích hợp để vừa thỏa mãn điều kiện thi công, vừa đảm bảo được các yêu cầu kỹ thuật của tường như khả năng chống thấm, cường độ,.. đòi hỏi phải dùng đến một số chất phụ gia pha trộn vào hỗn hợp. Bài báo này sẽ đề cập đến vấn đề ảnh hưởng của phụ gia Ethanol đối với dung dịch bentonite, đồng thời đưa ra kết luận và kiến nghị cho những công trình áp dụng công nghệ chống thấm bằng tường hào Bentonite sau này
Nghiên cứu thực nghiệm ứng xử uốn của bản bê tông cốt thép gia cường bằng tấm cốt sợi tổng hợp
Số 34 (9/2011) > trang 56-61 |  PDF (863.00 KB)
Nguyễn Chí Thanh, Phạm Thị Thu Thủy, Vũ Văn Thành
Tóm tắt
Bản bê tông cốt thép là cấu kiện phổ biến trong kết cấu kỹ thuật công trình dân dụng, cầu đường và thủy lợi. Sức chịu tải của kết cấu này có thể được tăng cường nhờ việc ứng dụng tấm composite dán trên bề mặt chịu kéo. Ứng xử của kết cấu sau khi gia cường là phức tạp do sự phân phối lại nội lực khi chịu tải của kết cấu. Sự có mặt của tấm gia cường làm thay đổi trạng thái phá hoại của tấm uốn, đặc biệt sự phá hủy có thể xuất hiện do sự bong bật dính bám giữa bản bê tông và tấm composite. Trong phạm vi bài báo này, ứng xử của của bản bê tông cốt thép chịu uốn được gia cương bằng tấm composite được nghiên cứu thông qua phương pháp thí nghiệm. Các kết quả thu được sẽ được phân tích và thảo luận.
Nghiên cứu áp lực sóng dội lên mái đê biển khi có thềm giảm sóng
Số 34 (9/2011) > trang 62-68 |  PDF (385.00 KB)
Nguyễn Chiến, Hoàng Ngọc Tuấn
Tóm tắt
Biểu đồ áp lực sóng dội lên mái đê và trị số áp lực sóng dương lớn nhất lên mái nghiêng đơn đã được trình bày trong nhiều tài liệu khác nhau. Nhưng với trường hợp trên mái có thềm giảm sóng thì các yếu tố trên chưa được làm rõ. Trong bài này trình bày cơ sở thiết lập các công thức xác định vị trí sóng dội lên mái có thềm giảm sóng. Trị số áp lực sóng lớn nhất tác dụng lên mái được xác định bằng công thức thực nghiệm và được khuyến cáo áp dụng cho đê biển Hải Hậu cũng như các vùng khác có điều kiện tương tự
Luận bàn vấn đề thiết kế thành phần bê tông
Số 34 (9/2011) > trang 69-71 |  PDF (201.00 KB)
Nghiêm Xuân Thung, Nguyễn Tiến Trung
Tóm tắt
Việc thiết kế thành phần cấp phối bê tông hiện nay có rất nhiều phương pháp và nhiều trường phái, trong bài viết muốn giới thiệu và giải thích ý nghĩa của một số phương pháp thiết kế thành phần bê tông đang được áp dụng tại Việt Nam.
Hiệu quả thí nghiệm mô hình thủy lực cống đầu mối thuộc dự án đầu tư tiếp nước, cải tạo khôi phục sông Tích từ Lương Phú
Số 34 (9/2011) > trang 72-77 |  PDF (423.00 KB)
Phạm Văn Quốc
Tóm tắt
Bài báo trình bày về hiệu quả của thí nghiệm mô hình thủy lực Cống đầu mối thuộc Dự án đầu tư Tiếp nước, cải tạo khôi phục Sông Tích từ Lương Phú, xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội do Văn phòng Tư vấn Thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình - Trường Đại học Thủy lợi thực hiện.
Nghiên cứu mũi phun không liên tục áp dụng cho tràn xả lũ Krông Pách Thượng bằng thực nghiệm
Số 34 (9/2011) > trang 78-83 |  PDF (826.00 KB)
Trần Vũ
Tóm tắt
Bài viết nêu kết quả nghiên cứu thực nghiệm xác định kết cấu mũi phun không liên tục (hay so le) ứng dụng cho tràn xả lũ Krông Pách Thượng.
12