Số 32 (3/2011)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2011
 
   
MỤC LỤC
Số 32 (3/2011) > |  PDF (1189.00 KB)
Phát triển thủy điện trên lưu vực sông Hương, những tồn tại và các giải pháp nâng cao hiệu quả
Số 32 (3/2011) > trang 3-10 |  PDF (461.00 KB)
Nguyễn Đính, Lê Đình Thành
Tóm tắt
Lưu vực sông Hương có tiềm năng nguồn nước dồi dào đáp ứng đủ các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Những năm gần đây nhiều công trình thủy lợi, thủy điện đã được quy hoạch và từng bước xây dựng, tuy nhiên trên quan điểm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường phát triển thủy điện trên lưu vực đã bộc lộ những vấn đề tồn tại cần được đánh giá. Bài viết nhằm cung cấp bức tranh hiện trạng về qui hoạch và xây dựng các dự án thủy điện tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nhận diện các tồn tại, bất cập về môi trường tự nhiên và xã hội trong quá trình xây dựng và vận hành các công trình; bước đầu đề xuất các giải pháp khắc phục và từng bước nâng cao hiệu quả của các công trình thủy điện trên địa bàn.
Nghiên cứu các đặc trưng khí tượng, thuỷ văn làm cơ sở cho bài toán điều hành hệ thống liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpôk
Số 32 (3/2011) > trang 11-19 |  PDF (2079.00 KB)
Ngô Lê An, Ngô Lê Long
Tóm tắt
Trên dòng chính sông Srêpôk đã và đang hình thành 6 hồ chứa thủy điện. Nghiên cứu các đặc trưng khí tượng thuỷ văn trên lưu vực sẽ là cơ sở quan trọng cho bài toán vận hành liên hồ chứa này. Bài báo đã phân tích cho thấy lưu vực sông Srêpôk có nguồn nước mưa dồi dào tuy nhiên sự phân bố rất không đều theo thời gian. Kỳ lũ trên lưu vực tương đối đồng bộ, nhưng lũ xảy ra thường không đồng thời trên các nhánh sông. Thời kỳ vận hành liên hồ chứa mùa lũ có hiệu quả là từ tháng VIII đến tháng XI hàng năm. Khi lũ đạt đến cấp báo động II thì mới bắt đầu tiến hành điều hành xả lũ.
Ứng dụng mô hình toán Mike21Fm đánh giá hiệu quả công trình bảo vệ bờ ổn định lòng dẫn sau khi xây dựng cống ngăn triều kinh lộ thuộc hệ thống công trình chống ngập cho khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Số 32 (3/2011) > trang 20-26 |  PDF (1961.00 KB)
Phạm Thị Hương Lan, Trần Thanh Tùng
Tóm tắt
Sau khi xây dựng các cống ngăn triều chống ngập cho khu vực Thành phố Hồ Chí Minh theo quy hoạch thuỷ lợi chống ngập úng cho khu vực THPCM đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 1547/QĐ-TTg sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến diễn biến lòng dẫn. Bài báo đi sâu giới thiệu về việc ứng dụng mô hình toán MIKE21FM để đánh giá hiệu quả công trình bảo vệ bờ ổn định lòng dẫn sau khi xây dựng cống ngăn triều Kinh Lộ, là một trong 12 hệ thống cống lớn chống ngập cho khu vực TPHCM.
Ứng dụng mô hình Mike11 mô phỏng vận hành hệ thống liên hồ chứa cắt giảm lũ cho hạ du - lưu vực sông Srêpôk
Số 32 (3/2011) > trang 27-33 |  PDF (3732.00 KB)
Ngô Lê Long
Tóm tắt
Những năm gần đây, tình hình lũ lụt ở các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của nhân dân. Việc nghiên cứu vận hành hệ thống liên hồ chứa phòng chống lũ đã và đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý, nhà khoa học. Bài báo ứng dụng mô hình MIKE 11 mô phỏng vận hành hệ thống liên hồ chứa trên sông Srêpôk tạo cơ sở khoa học cho việc đề xuất qui trình vận hành liên hồ chứa phòng chống lũ cho hạ du.
Những vấn đề môi trường bức xúc trong khai thác thủy điện trên lưu vực sông Ba và vấn đề quản lý kiểm soát
Số 32 (3/2011) > trang 34-39 |  PDF (1165.00 KB)
Vũ Hoàng Hoa
Tóm tắt
Sông Ba là một sông tương đối lớn ở miền Trung và Tây nguyên của nước ta rất giàu tiềm năng thủy điện. Trong những năm vừa qua, các công trình thủy điện lớn và nhỏ trên sông Ba đã phát triển rất nhanh và ồ ạt nên mặc dù đã sản xuất được một lượng điện đáng kể cho đất nước nhưng cũng bộc lộ một số tồn tại và bất cập về môi trường đòi hỏi phải xem xét và tháo gỡ. Dựa trên tình hình thực tế của phát triển thủy điện trên sông Ba, bài báo này đã phân tích để chỉ ra các tồn tại, những vấn đề bức xúc nói trên đồng thời đưa ra các ý kiến cho việc quản lý, kiểm soát cũng như từng bước giải quyết để phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông.
Mô hình số thủy động lực học ở các vùng nước đứng dưới tác dụng của gió
Số 32 (3/2011) > trang 40-46 |  PDF (1446.00 KB)
Bùi Quốc Lập
Tóm tắt
Thủy động lực học ở các vùng nước đứng như các hồ tự nhiên và hồ chứa, chủ yếu gây ra bởi lực cắt của gió tác động lên bề mặt hồ và một phần do sự trao đổi nhiệt giữa hồ và khí quyển thông qua bề mặt hồ, là một trong các vấn đề chủ yếu của khoa học môi trường nước. Nó liên quan chặt chẽ đến chất lượng nước ở các vùng nước đứng thông qua việc ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố các thông số chất lượng nước trong hồ. Do đó, việc hiểu biết và tính toán được sự vận chuyển của nước trong các vùng nước đứng dưới tác dụng của gió có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì và bảo tồn chất lượng nước của các nguồn nước này. Với ý nghĩa đó, bài báo này sẽ trình bày một số kết quả ban đầu về việc xây dựng một mô hình số hai chiều để mô phỏng dòng thủy động lực học ở các vùng nước đứng dưới tác dụng trực tiếp của gió lên bề mặt hồ. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu này, có thể nâng cấp để xây dựng mô hình cho việc mô phỏng chất lượng nước ở các vùng nước đứng.
Khả năng xử lý chất thải hữu cơ, Ammonia của chế phẩm vi sinh EM (Effective Microorganims) ở đáy ao nuôi tôm sú thâm canh trên đất phèn tỉnh Cà Mau
Số 32 (3/2011) > trang 47-51 |  PDF (376.00 KB)
Cao Phương Nam, Cao Thanh Liêu, Lê Văn Hậu
Tóm tắt
Đề tài khảo sát khả năng xử lý chất hữu cơ, khí độc ammonia trong nước đáy ao, nước bùn đáy nuôi tôm sú trên đất phèn tại ấp 8 xó Thới Bỡnh, huyện Thới Bỡnh tỉnh Cà Mau, bằng chế phẩm sinh học EM (effective microorganims), được tiến hành trên 3 ao (ao đối chứng ĐC (đối chứng) không sử dụng EM, ao M1 sử dụng 6 lít EM/lần, ao M2 sử dụng 9 lít EM/lần, cách 7 ngày sử dụng 1 lần; giai đoạn cải tạo sử dụng 200 lít EM/ao cho mỗi ao M1, M2). Kết quả ao M2 đạt hiệu quả xử lý ụ nhiễm hữu cơ và xử lý khí độc ammmonia cao nhất, nồng độ ammonia suốt vụ nuôi được duy trỡ ≤0,09 mg/L ở nước đáy ao, và ≤0,13 mg/L ở nước bùn đáy; năng suất đạt 7,2 tấn/ha/vụ,tỷ lệ sống 72%, hệ số chuyển đổi thức ăn FCR=1,47, tỷ lệ tổng thu/tổng chi phí B/C=1,52, thời gian nuôi 145 ngày.
Cần chú trọng hơn nữa đến môi trường nông thôn nước ta
Số 32 (3/2011) > trang 52-55 |  PDF (369.00 KB)
Nguyễn Quốc Luật
Tóm tắt
Cần chú trọng đến môi trường nông thôn nước ta. Ở mức độ nhất định, các thành phố và các đô thị môi trường đó được quan tâm bảo vệ thì môi trường nông thôn nước ta gần như bị lãng quên.
Trước tình hình: nông nghiệp nước ta đang phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá với trình độ thâm canh ngày càng cao. Ngành trồng trọt do thâm canh, tăng vụ khiến việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón gia tăng. Chất thải của ngành chăn nuôi dường như xả thẳng ra môi trường; của ngành thuỷ sản đều xả thẳng ra sông, ra biển. Các làng nghề đang là thủ phạm của 3 loại ô nhiễm: không khí, nguồn nước và đất đai. Lượng rác thải ở nông thôn mỗi năm tới khoảng 100 triệu tấn, … Song, tất cả vẫn như chưa được kiểm soát.
Làm thế nào để bảo vệ môi trường nông thôn? Đó là một tổng thể các giải pháp mà nội dung bài sẽ đề cập tới.
Máy xả sóng, thiết bị kiểm tra khả năng chịu sóng tràn của mái đê biển trồng cỏ
Số 32 (3/2011) > trang 56-61 |  PDF (904.00 KB)
Lê Hải Trung, Vũ Minh Cát , Jentsje W. van der Meer
Tóm tắt
Máy xả sóng là một thiết bị có khả năng mô phỏng (tạo ra) các con sóng tràn trên đỉnh và mái trong của đê biển thực tế. Cơ sở của thiết bị này là khi xem xét hiện tượng sóng tràn qua đê thì không cần phải mô phỏng toàn bộ con sóng thực tế mà chỉ cần mô phỏng phần sóng tràn qua đỉnh. Bên cạnh đó, lý thuyết về sóng tràn đã được nghiên cứu trong nhiều năm, có thể miêu tả chi tiết diễn biến thủy lực trên đỉnh đê. Nước được cấp liên tục vào Máy xả sóng với một lưu lượng không đổi và được xả ra tại những thời điểm tính toán trước, tạo ra con sóng tràn. Máy xả sóng đã được sử dụng để kiểm tra khả năng chịu sóng tràn của mái đê trồng cỏ tại Hải Phòng, Nam Định và Thái Bình trong năm 2009 và 2010. Bài báo này giới thiệu cơ sở lý thuyết, thiết kế và chế tạo thiết bị Máy xả sóng.
Hướng dẫn thiết kế đê biển sản phẩm có nhiều tiến bộ về khoa học và công nghệ
Số 32 (3/2011) > trang 62-66 |  PDF (460.00 KB)
Lê Xuân Roanh, Lê Tuấn Hải
Tóm tắt
Nước ta có đường bờ biển dài trên 3200KM trong đó hệ thống đê biển được xây dựng ở nhiều đoạn khác nhau, độ an toàn khác nhau. Hiện nay tài liệu 14TCN 130-2002 được xem là tiêu chuẩn chính làm cơ sở để thiết kế và thẩm định thiết kế. Trong quá trình áp dụng tài liệu này đã bộc lộ một số bất cập. Cuốn hướng dẫn thiết kế đê biển của chương trình KHCN xây dựng đê biển và công trình thủy lợi vùng cửa sông ven biển đã có những thay đổi rất lớn về quan điểm, phương pháp tính toán. Bài viết này giới thiệu những thành tựu công nghệ mới áp dụng trong tiêu chuẩn thiết kế như: chọn cấp công trình, tiêu chuẩn an toàn, chọn tuyến, lựa chọn kết cấu bảo vệ, tính toán tham số thiết kế, công nghệ xử lý nền đất yếu, tính toán ổn định…
Nghiên cứu xác định mặt cắt đê biển huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình theo tiêu chuẩn sóng tràn trong điều kiện nước biển dâng
Số 32 (3/2011) > trang 67-71 |  PDF (659.00 KB)
Hồ Việt Hùng, Hoàng Văn Thành, Nguyễn Bảo Khương
Tóm tắt
Tiền Hải có hệ thống đê biển và đê cửa sông dài trên 54 km ở cao trình từ +5,00m đến +5,50m so với mực nước biển nên khi bão vào đất liền sẽ xảy ra hiện tượng sóng tràn qua đê. Cùng với sự biến đổi khí hậu và nước biển dâng, sóng tràn ngày càng trở nên phổ biến hơn, gây ảnh hướng xấu tới đê biển. Bài báo này trình bày một số giải pháp trong thiết kế và xây dựng đê biển nhằm đảm bảo an toàn cho tuyến đê biển huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình, thích ứng với điều kiện nước biển dâng theo các kịch bản khác nhau.
Nghiên cứu ứng dụng neo gia cố các tấm lát mái bảo vệ đê biển
Số 32 (3/2011) > trang 72-76 |  PDF (512.00 KB)
Hoàng Việt Hùng, Trịnh Minh Thụ, Ngô Trí Viềng
Tóm tắt
Từ trước đến nay, các tính toán thiết kế tấm lát mái đê biển chỉ đề cập đến sự ổn định nhờ trọng lượng bản thân của nó. Các sáng chế gần đây nhất chỉ cải tiến được hình dạng tấm lát mái và các kiểu liên kết ở cạnh của từng tấm. Tuy nhiên dưới tác dụng của sóng biển, vẫn xảy ra phá huỷ cục bộ từng tấm lát dẫn đến phá huỷ cả mảng và xảy ra vỡ đê. Mục đích của neo gia cố là tăng cường ổn định cho các tấm lát mái và hạn chế chuyển vị của cả mảng gia cố dưới tác dụng của sóng và áp lực nước lỗ rỗng trong thân đê. Giải pháp công nghệ neo gia cố các tấm lát mái là bố trí thêm các neo cắm vào đất để giữ cho các tấm lát mái ổn định hơn. Giải pháp sẽ sử dụng mũi neo xoắn, dùng một thiết bị xoắn mũi neo vào đất đến một độ sâu nào đó trong thân đê và liên kết dây mềm neo với tấm lát mái. Bài báo là kết quả thí nghiệm trong phòng đánh giá khả năng neo giữ của các mũi neo và các thao tác thi công. Mật độ bố trí neo phụ thuộc vào trọng lượng của tấm lát mái, áp lực sóng, cấp độ của đê và loại đất đắp đê.
Một số kết quả nghiên cứu thí nghiệm hiện trường về phương pháp cố kết hút chân không xử lý nền đường cao tốc Long Thành - Dầu Giây
Số 32 (3/2011) > trang 77-83 |  PDF (597.00 KB)
Nguyễn Chiến, Tô Hữu Đức, Phạm Quang Đông
Tóm tắt
Việc cố kết đất yếu bằng phương pháp hút chân không đã được áp dụng trên thế giới và hiện đang được nghiên cứu ở Việt Nam- tại Trường Đại học Thủy Lợi. Trong giai đoạn thí nghiệm hiện trường với điều kiện địa chất ở nước ta, nhóm nghiên cứu đã phối hợp với đơn vị sản xuất trong việc thí nghiệm hiện trường cho công trình đường cao tốc Long Thành- Dầu Giây nhằm lựa chọn phương án thi công hiệu quả. Việc đưa phương pháp từ phòng thí nghiệm ra hiện trường đòi hỏi phải lựa chọn chính xác phương án bố trí và đưa ra một số chỉnh sửa để phù hợp với tình hình thực tế của địa điểm thí nghiệm. Trong bài này trình bày những nét chính của thí nghiệm hiện trường và một số kết quả đo đạc bước đầu.
Nghiên cứu chọn kết cấu phụ trong bể tiêu năng tràn xả lũ
Số 32 (3/2011) > trang 84-88 |  PDF (636.00 KB)
Nguyễn Hữu Huế
Tóm tắt
Công trình đầu mối thủy lợi - thủy điện thường phải bố trí công trình tháo. Một trong những vấn đề quan trọng trong bố trí công trình tháo lũ là giải quyết tốt vấn đề nối tiếp sau công trình. Với trường hợp tiêu năng đáy thường trong bể có các công trình tiêu năng phụ trợ.
Để chọn kết cấu tiêu năng phụ trợ thường qua thí nghiệm mô hình. Bài viết đề cập về dạng kết cấu bể tiêu năng của hai công trình Nước Trong và Tả Trạch. Trên cơ sở tham khảo tài liệu thí nghiệm của Viện Khoa học Thủy Lợi Việt Nam, bài viết nêu tóm tắt kết quả nghiên cứu thực nghiệm, chọn kết cấu tiêu năng phụ trợ cho bể tiêu năng tràn xả lũ Nước Trong và Tả Trạch.
12