Số 38 (9/2012)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9/2012
 
   
Phân tích ảnh hưởng của các hồ chứa thượng nguồn trên địa phận Trung Quốc đến dòng chảy hạ lưu sông Đà, sông Thao
Số 38 (9/2012) > trang 3-8 |  PDF (830.00 KB)
Hà Văn Khối, Vũ Thị Minh Huệ
Tóm tắt
Lưu vực sông Hồng là một lưu vực sông liên quốc gia chảy qua ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Lào. Từ năm 2007 đến nay, Trung Quốc xây dựng hàng loạt các công trình hồ chứa bậc thang, khai thác mạnh mẽ nguồn tài nguyên nước ở thượng nguồn và đang dự kiến xây dựng thêm nhiều hồ chứa mới trong những năm tới. Các hồ chứa của Trung Quốc có tác động rõ rệt đến chế độ dòng chảy của Việt Nam bắt đầu từ năm 2008 đối với sông Đà và từ năm 2010 đối với sông Thao. Về mùa lũ, gây bất lợi cho công tác dự báo lũ hồ chứa, gây nguy hiểm cho công tác điều hành, đặc biệt khi xảy ra lũ lớn. Rất khó đánh giá chế độ xả lũ của Trung Quốc do từ năm 2006 đến nay chưa có lũ lớn xảy ra trên sông Đà. Về mùa kiệt có dấu hiệu các hồ chứa của Trung Quốc làm tăng dòng chảy hạ du
Nghiên cứu dự báo dòng chảy lũ đến hồ chứa trên lưu vực sông Ba
Số 38 (9/2012) > trang 9-16 |  PDF (624.00 KB)
Ngô Lê An, Nguyễn Thị Bích Ngọc
Tóm tắt
Lũ trên hệ thống sông Ba hàng năm có xu hướng gia tăng cả về quy mô và cường độ. Trong khi đó, trên lưu vực đã và đang xây dựng nhiều hồ chứa thuỷ điện. Đa số các hồ đều không có nhiệm vụ phòng lũ hạ du. Những trận lũ lớn xảy ra trong thời gian gần đây trên lưu vực đã đặt ra nhiều vấn đề rất cấp bách, trong đó có vấn đề xây dựng quy trình dự báo lũ đến hồ chứa trên lưu vực giảm nhẹ thiệt hại do lũ gây ra. Báo cáo nghiên cứu dự báo dòng chảy lũ đến các hồ chứa chính trên lưu vực bằng mô hình thuỷ văn mưa dòng chảy (HEC-HMS), mô hình mô phỏng vận hành hồ chứa (HEC-RESSIM) kết hợp với kết quả dự báo từ mô hình khí tượng BOLAM. Kết quả dự báo thử nghiệm cho thấy, chỉ số đảm bảo phương án đều đạt trên 80% tại Củng Sơn, An Khê, Ayun Hạ.
Xác định ranh giới đê sông và đê cửa sông bằng phương pháp mô hình toán - ứng dụng cho cửa sông Ba tỉnh Phú Yên
Số 38 (9/2012) > trang 17-22 |  PDF (1007.00 KB)
Nguyễn Thị Phương Thảo , Trần Thanh Tùng
Tóm tắt
Công trình đê sông và đê cửa sông thì đều có chức năng là bảo vệ vùng đất dân cư phía trong đồng, nhưng các tải trọng tác động lên mỗi loại đê khác nhau, đặc biệt được thể hiện ở thành phần mực nước thiết kế đê. Với đê sông, mực nước thiết kế thường phụ thuộc vào lượng nước thượng lưu đổ về còn đối với vùng cửa sông thì mực nước không những phụ thuộc vào mực nước lũ sông dâng cao mà còn phụ thuộc vào các dao động mực nước ngoài biển. Bài báo này trình bày nghiên cứu ứng dụng mô hình số (Mike 11) nhằm xác định ranh giới giữa đê sông và đê cửa sông dựa trên quan điểm về tương tác thủy động lực học giữa sông và biển - ứng dụng cho cửa sông Ba tỉnh Phú Yên
Một số kết quả bước đầu về khảo sát động thái chất lượng nước hồ Trúc Bạch – Hà Nội
Số 38 (9/2012) > trang 23-30 |  PDF (1709.00 KB)
Bùi Quốc Lập
Tóm tắt
Hà Nội có hơn 100 hồ lớn, nhỏ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên cảnh quan và là nơi cư trú của nhiều động, thực vật nước. Tuy nhiên, vì là những vùng nước đứng (tốc độ trao đổi nước với các nguồn nước bên ngoài không đáng kể), các hồ này đang phải đối mặt với một loạt vấn đề chất lượng nước do phải tiếp nhận nhiều nguồn thải không được quản lý chặt chẽ cũng như nguyên nhân nội tại xuất phát ở các vùng nước đứng. Đặc biệt, hiện tượng phân tầng nhiệt mà phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện khí tượng có tác động lớn đến chất lượng nước các hồ. Để nghiên cứu vấn đề này, hồ Trúc Bạch nằm ở phía Tây bắc của trung tâm Hà Nội đã được lựa chọn làm nghiên cứu điển hình. Trong nghiên cứu này, các thông số chất lượng nước của hồ Trúc Bạch trong thời đoạn chu kỳ một ngày đêm đã được đo trực tiếp tại hiện trường và lấy mẫu định kỳ (trong bốn mùa) để phân tích trong phòng thí nghiệm nhằm khảo sát động thái diễn biến chất lượng nước theo chiều sâu hồ cũng như sự thay đổi theo mùa trong thời đoạn một năm. Các kết quả của nghiên cứu này không chỉ cung cấp các thông tin hữu ích về sự thay đổi theo không gian và thời gian trong năm mà còn là nguồn dữ liệu đầu vào quan trọng cho việc mô phỏng động thái chất lượng nước hồ Trúc Bạch sẽ được thực hiện trong các nghiên cứu tiếp sau.
Ứng dụng của phương pháp thể tích hữu hạn cho mô hình thấm không bão hòa trong môi trường đất do vòi tưới nhỏ giọt
Số 38 (9/2012) > trang 31-38 |  PDF (620.00 KB)
Vũ Chí Công, Bùi Quốc Lập
Tóm tắt
Phương pháp thể tích hữu hạn mô hình hóa sự phát triển miền thấm trong đất theo thời gian dưới tác dụng của vòi tưới nhỏ giọt dạng điểm được trình bày trong bài này. Mô hình thấm dựa trên phương trình Richard cho hệ tọa độ trụ. Kết quả bài toán - độ ẩm trong đất được xác định một cách nhanh chóng dựa trên những ưu điểm của phương pháp thể tích hữu hạn, bao gồm việc sai phân không phức tạp và tốc độ tính toán nhanh chóng. Các loại đất bao gồm cát mịn, đất thịt pha cát, cát pha thịt và đất thịt pha sét là đối tượng nghiên cứu. Sự phát triển của miền thấm bởi mô hình được kiểm chứng với kết quả nghiên cứu đã có và kết quả thí nghiệm. Kết quả mô hình thể hiện sự phù hợp giữa tính toán trong mô hình và kết quả của nghiên cứu đã có cũng như kết quả thí nghiệm cho các loại đất nêu trên.
Đánh giá hiệu quả của một số quy trình tưới tiết kiệm nước cho lúa áp dụng trên địa bàn Hà Nội
Số 38 (9/2012) > trang 39-43 |  PDF (339.00 KB)
Phạm Tất Thắng, Lê Văn Hùng
Tóm tắt
Trong những năm gần đây mực nước sông Hồng về mùa kiệt suy giảm liên tục dẫn đến thiếu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Hà Nội, điều này thúc đẩy chúng ta phải tìm kiếm các giải pháp sử dụng nguồn nước hợp lý. Trong nghiên cứu này, các tác giả xin đề xuất áp dụng một số quy trình tưới giảm lượng nước tưới tại mặt ruộng, đồng thời đánh giá hiệu quả của các quy trình này so với quy trình tưới thông thường
Nghiên cứu xây dựng các mối quan hệ về diện tích sử dụng, diện tích có khả năng thu trữ nước mưa từ các hộ gia đình khu vưc ngoại thành
Số 38 (9/2012) > trang 44-49 |  PDF (397.00 KB)
Giang Thị Thu Thảo, Phạm Tất Thắng
Tóm tắt
Nước mưa là nguồn tài nguyên quan trọng. Sử dụng nước mưa là trách nhiệm gắn liền với “Phát triển bền vững” của các thành phố. Sử dụng nước mưa là giải pháp toàn diện cho các vấn đề tài nguyên nước và môi trường ở đô thị. Để có cơ sở khoa học lập quy hoạch sử dụng, tính toán dung tích các bể thu trữ,vv.. nguồn nước mưa thì việc nghiên cứu xây dựng các mối quan hệ về số hộ khẩu, diện tích sử dụng, diện tích có khả năng thu trữ nước mưa từ các hộ gia đình là rất cần thiết
Một phương pháp xác định cao trình đáy cống xả của trạm bơm tiêu
Số 38 (9/2012) > trang 50-53 |  PDF (398.00 KB)
Nguyễn Tuấn Anh , Đỗ Minh Thu
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu một phương pháp xác định cao trình đáy cống xả của trạm bơm tiêu dựa trên lý thuyết phân tích hệ thống và tối ưu hóa. Trong phương pháp này, hàm mục tiêu được chọn là tổng chi phí xây dựng và quản lý quy về năm đầu nhỏ nhất. Phương pháp đã được áp dụng cho một trạm bơm cụ thể trong thực tế và cho kết quả đáng tin cậy. Phương pháp tính toán này nên được áp dụng trong công tác thiết kế các trạm bơm tiêu nước mưa ra sông, đặc biệt là các trạm bơm mà ở đó lũ ngoài sông không trùng tần suất xuất hiện với mưa trong đồng
Xác định đường kính kinh tế của ống đẩy trạm bơm
Số 38 (9/2012) > trang 54-58 |  PDF (341.00 KB)
Nguyễn Tuấn Anh
Tóm tắt
Bài báo này giới thiệu một phương pháp xác định đường kính kinh tế của ống đẩy trạm bơm. Phương pháp này được xây dựng dựa trên lý thuyết phân tích hệ thống và tối ưu hóa với hàm mục tiêu là tổng chi phí xây dựng và quản lý quy về năm đầu nhỏ nhất. Nghiên cứu đã xây dựng được một công thức xác định đường kính kinh tế của ống đẩy trạm bơm, nó bao gồm bảy thông số. Qua ứng dụng công thức này cho trường hợp ống thép không gỉ ở khu vực Hà nội, kết quả cho thấy, với cùng một lưu lượng tính toán ống nhưng có sự khác nhau đáng kể về kết quả tính toán đường kính kinh tế giữa các trạm bơm có số giờ làm việc trong năm khác nhau như trạm bơm tưới, tiêu, cấp nước sinh hoạt.
Mô hình hóa vấn đề phân bổ tài nguyên nước bởi kỹ thuật tối ưu
Số 38 (9/2012) > trang 59-62 |  PDF (375.00 KB)
Đào Văn Khiêm, Bùi Thị Thu Hòa
Tóm tắt
Việc mô tả cô đọng các nội dung chính của các môn kinh tế học vi mô và kinh tế học phúc lợi có thể thực hiện được thông qua các mô hình toán học, như các mô hình tối ưu. Trên cơ sở tiếp cận tổng hợp mức cao, các nhà kinh tế có thể biết được rõ ràng những thách thức và cơ hội mà kinh tế tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên nước nói riêng phải đối mặt.
Hơn nữa,tiếp cận mô hình hóa toán học còn giúp các nhà kinh tế phát triển các mô hình để phần nào khắc phục các thất bại thị trường như hàng hóa công cộng, ngoại ứng, thông tin phi đối xứng. Bài viết này trình bày một vài nét phác họa để minh họa cho cách tiếp cận mô hình toán này.
Lựa chọn phương án vận chuyển tối ưu trên công trưòng xây dựng công trình thuỷ lợi, thuỷ điện
Số 38 (9/2012) > trang 63-68 |  PDF (355.00 KB)
Nguyễn Trọng Hoan
Tóm tắt
Công tác vận chuyển trên công trường xây dựng công trình thuỷ lợi, thuỷ điện chiếm một phần lớn chi phí trong giá thành xây dựng công trình. Công tác vận chuyển trên công trường liên quan đến nhiều vấn đề trong tổ chức bố trí mặt bằng xây dựng, làm ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ, an toàn và giá thành xây dựng công trình. Trong thực tế hiện nay trên các công trường xây dựng chưa được chú ý đúng mức trong việc lựa chọn phương án tổ chức vận chuyển hợp lý, chưa có cơ sở để lựa chọn tìm phương án vận chuyển tối ưu. Chi phí xây dựng đường vận chuyển trên công trường chưa được đưa vào giá thành công tác vận chuyển một cách hợp lý. Nội dung bài báo đưa ra quan điểm giá thành vận chuyển gồm hai thành phần (Chi phí xây dựng đường và chi phí tổ chức vận chuyển), ứng dụng lý thuyết phân tích hệ thống (PTHT), tối ưu hoá để xây dựng bài toán lựa chọn tuyến đường vận chuyển tối ưu. lập trình tính toán và ứng dụng kiểm chứng cho công trình Cửa Đạt – Thanh Hóa.
Mở rộng định lý về giao tuyến phẳng của Paraboloid tròn xoay
Số 38 (9/2012) > trang 69-70 |  PDF (625.00 KB)
Nguyễn Thị Kim Hiền
Tóm tắt
Định lý về giao tuyến phẳng của Paraboloid tròn xoay giúp cho việc giải các bài toán về giao trong Hình học họa hình liên quan tới Paraboloid tròn xoay trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, phạm vi ứng dụng của nó chỉ hạn chế trong trường hợp Paraboloid là mặt tròn xoay.
Định lý: (Trang 257, sách Hình học họa hình- Hoàng Văn Thân, Đoàn Như Kim, Dương Tiên Thọ, NXB KHKT, 2005).
“Mọi giao tuyến của Paraboloid tròn xoay với một mặt phẳng song song với trục xoay là một Parabol bằng Parabol kinh tuyến.
Mọi giao tuyến với một mặt phẳng không song song với trục, chiếu thành vòng tròn lên trên một mặt phẳng vuông góc với trục”.
Phương pháp thiết kế cấp phối bê tông có sử dụng kết hợp phụ gia khoáng và phụ gia hóa
Số 38 (9/2012) > trang 71-74 |  PDF (1674.00 KB)
Nguyễn Thị Thu Hương
Tóm tắt
Dựa trên thực tế hiện nay, nhiều loại bê tông có sử dụng đến phụ gia bao gồm cả phụ gia khoáng kết hợp với phụ gia hóa nhằm cải thiện các đặc tính của bê tông cho phù hợp với những yêu cầu cụ thể khác nhau. Bài báo đề cập đến phương pháp tính toán cấp phối bê tông khi có sử dụng đến thành phần phụ gia khoáng và phụ gia hóa kết hợp. Các bước tính toán dựa trên cơ sở phương pháp thiết kế cấp phối bê tông truyền thống của Việt Nam nhưng có xem xét đến công thức tính chỉ tiêu và thành phần của phụ gia cũng như việc điều chỉnh các thành khác trong bê tông khi có thêm các thành phần phụ gia này
Một vài kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phụ gia puzolan đến cường độ và nhiệt trong kết cấu bê tông đầm lăn ở công trình thủy điện Đakmi 4
Số 38 (9/2012) > trang 75-80 |  PDF (355.00 KB)
Hồ Bá Nguyên
Tóm tắt
Để đáp ứng được những nhu cầu về sử dụng vật liệu, trong những năm gần đây ngành công nghiệp xi măng ở nước ta đang phát triển mạnh mẽ với sản lượng và chất lượng ngày càng cao. Để có thể xây dựng những công trình có chiều cao lơn thì điều cần thiết phải thay đổi kết cầu công trình từ vật liệu đất đá sang loại hỗn hợp vật liệu bê tông cốt thép ở những nơi có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là đối với những đập có kích thước lớn sao cho vừa đảm bảo kỹ thuật, chất lượng, độ bền cao nhưng cũng vừa phải đảm bảo hiệu quả kinh tế. Để hạn chế khả năng phá hủy kết cấu bê tông khối lớn do hiện tượng phát sinh nhiệt từ nhiệt thủy hóa của xi măng cần thay thế một hàm lượng nhất định phụ gia khoáng hoạt tính.
Vai trò của chủ đầu tư với hình thức trực tiếp quản lý dự án đầu tư xây dựng và công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng thủy lợi
Số 38 (9/2012) > trang 81-86 |  PDF (541.00 KB)
Lê Đình Tuân , Nguyễn Trung Anh
Tóm tắt
Quản lý dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD) chịu tác động bởi các yếu tố kỹ thuật, tự nhiên và xã hội. Việc lựa chọn hình thức quản lý dự án ĐTXD phù hợp tạo thuận lợi cho các đơn vị tham gia dự án đạt được mục tiêu, nhiệm vụ công trình. Hiện nay, chủ đầu tư có vai trò quan trọng, đòi hỏi phải có tính chủ động cao, làm đầu mối tổ chức thực hiện. Bài báo đề cập công tác quản lý chất lượng thi công đập đất đầm nén, một hạng mục công trình mang tính đặc thù của dự án xây dựng thủy lợi để phân tích làm rõ vai trò của chủ đầu tư trong quá trình thực hiện
12