Số 37 (6/2012)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 6/2012
 
   
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Số 37 (6/2012) > trang 3-9 |  PDF (1167.00 KB)
Phạm Xuân Trung
Tóm tắt
Đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo luôn là một trong những công tác trọng tâm của mỗi cơ sở giáo dục đại học. Năm 2011 Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng đã chủ trì đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo”. Bài viết này trình bày các kết quả chính của đề tài, bao gồm các nội dung: (1) Nhận dạng một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo cùng giải pháp đề xuất, (2) Thí điểm một số giải pháp tại một số đơn vị.
Kỹ năng nghề nghiệp của giảng viên trường Đại học Thủy lợi trong thời kỳ thực hiện chiến lược phát triển trường
Số 37 (6/2012) > trang 10-15 |  PDF (379.00 KB)
Đặng Tùng Hoa
Tóm tắt
Bài viết tập trung vào đánh giá kỹ năng nghề nghiệp của giảng viên trường Đại học Thủy lợi và đưa ra giải pháp nhằm cải thiện kỹ năng nghề nghiệp. Phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu là phân tích dữ liệu thứ cấp và điều tra thực tế. Trong đó các kỹ thuật chủ yếu được áp dụng là phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn cá nhân bằng bảng hỏi và thảo luận nhóm. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt về kỹ năng của các giảng viên ở các lứa tuổi khác nhau, các giảng viên có nhiều năm kinh nghiệm có kỹ năng giảng dạy và nghiên cứu khoa học hơn tốt hơn giảng viên trẻ. Kỹ năng phát triển chuơng trình và giảng dạy của các giảng viên nữ và nam đồng đều, không có sự khác biệt lớn, tuy nhiên các giảng viên nam có kỹ năng nghiên cứu khoa học tốt hơn các giảng viên nữ. Một số giải pháp được đề xuất tập trung vào nâng cao kỹ năng giảng dạy cho đội ngũ giảng viên trẻ qua việc tổ chức các chuyên đề và các khóa tập huấn.
Một số bất cập về thể chế chính sách trong quản lý các hoạt động chuyển nước lưu vực sông và vấn đề khắc phục
Số 37 (6/2012) > trang 16-20 |  PDF (235.00 KB)
Vũ Hoàng Hoa
Tóm tắt
Trong những năm gần đây những dự án chuyển nước lưu vực sông nhất là chuyển nước của hồ thủy điện từ lưu vực này sang lưu vực khác khi thực hiện và vận hành đều gây nhiều tranh cãi và bức xúc rất khó cho việc giải quyết. Ngoài nguyên nhân chủ quan do tác động tiêu cực tới môi trường của hoạt động chuyển nước gây ra còn do những khiếm khuyết về thể chế và chính sách trong việc quản lý hoạt động đó gây nên. Nghiên cứu về vấn đề này, bài báo chỉ ra một số khiếm khuyết về thể chế chính sách cũng như tổ chức quản lý các hoạt động chuyển nước lưu vực sông đồng thời đưa ra ý kiến bổ sung chỉnh sửa để cho quản lý các hoạt động chuyển nước lưu vực được chặt chẽ và tốt hơn
Bàn về vấn đề bền vững trong quy hoạch và phát triển thủy điện ở nước ta
Số 37 (6/2012) > trang 21-27 |  PDF (290.00 KB)
Vũ Hoàng Hoa
Tóm tắt
Nước ta có tiềm năng thủy điện khá dồi dào, hiện đã khai thác được gần 5000MW chiếm gần 50% tổng công suất lắp máy của toàn hệ thống điện quốc gia. Sự phát triển nhanh của thủy điện trong mấy thập kỷ gần đây đã đóng góp rất nhiều cho phát triển nguồn năng lượng sạch cho đất nước nhưng cũng không tránh khỏi còn những tồn tại bất cập cần phải theo gỡ.
Dựa trên cơ sở của phát triển bền vững, bài báo này phân tích đánh giá một số biểu hiện không bền vững trong quy hoạch phát triển thủy điện, khi triển khai thực hiện các dự án trong thực tế, qua đó nêu lên một số ý kiến để từng bước tháo gỡ, khắc phục các tồn tại trên trong hoạt động phát triển thủy điện đảm bảo bền vững
Đánh giá khả năng lấy nước của các cống tưới hệ thống thủy lợi Nam Thái Bình dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu – nước biển dâng
Số 37 (6/2012) > trang 28-33 |  PDF (470.00 KB)
Nguyễn Thu Hiền
Tóm tắt
Bài báo này đã ứng dụng mô hình MIKE11 để mô phỏng khả năng lấy nước của các cống tưới hệ thống thủy lợi Nam Thái Bình với năm trung bình nước và năm ít nước với điều kiện hiện trạng và khi có xét đến kịch bản biến đổi khí hậu năm 2050. Kết quả tính toán cho thấy, dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng một số cống phía đầu hệ thống khả năng lấy nước có tăng lên nhưng một số cống thuộc hệ thống không thể lấy được nước do độ mặn vượt quá mức cho phép trong khi đó nhu cầu tưới lại tăng lên, vì vậy hệ thống không đủ đáp ứng yêu cầu. Trên cơ sở kết quả tính toán, một số giải pháp tăng cường khả năng lấy nước của các cống thuộc hệ thống để đảm bảo nhu cầu dùng nước phục vụ sản xuất trong tương lai.
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu – nước biển dâng đến tình hình xâm nhập mặn dải ven biển Đồng bằng Bắc bộ
Số 37 (6/2012) > trang 34-39 |  PDF (400.00 KB)
Phạm Tất Thắng, Nguyễn Thu Hiền
Tóm tắt
Vấn đề biến đổi khí hậu – nước biển dâng cùng với mực nước các sông hạ thấp, xâm nhập mặn ngày càng gia tăng về mùa kiệt thuộc dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ trong những năm gần đây đang là thách thức rất lớn cho ngành thủy lợi. Bài báo này đã ứng dụng mô hình MIKE11 để mô phỏng lan truyền mặn trên các sông thuộc vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ tương ứng với năm kiệt hiện trạng và với kịch bản biến đổi khí hậu năm 2030. Kết quả tính toán cho thấy dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, tình hình xâm nhập mặn ngày càng gia tăng. Điều này cho thấy sự cần thiết phải đưa các giải pháp giảm thiểu xâm nhập mặn để đảm bảo nhu cầu dùng nước phục vụ sản xuất trong tương lai.
Sử dụng nước thải chế biến dứa sau xử lý để tưới
Số 37 (6/2012) > trang 40-44 |  PDF (307.00 KB)
Huỳnh Phú
Tóm tắt
Từ các công đoạn chế biến dứa quả thải ra một lượng lớn nước thải trên một đơn vị nguyên liệu. Hàm lượng chất ô nhiễm trong nước thải không quá cao, nhưng cũng không thể đổ thẳng vào môi trường. Để xử lý làm sạch nguồn nước thải này và tái sử dụng nó trong sản xuất nông nghiệp, người ta thường sử dụng công nghệ sinh học. Tại những vùng trồng dứa nguyên liệu, nguồn nước thường khan hiếm, vì vậy việc tái sử dụng nước thải sau xử lý làm nước tưới không những đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nước mà còn nâng cao nhận thức của người dân, nhà quản lý về một hoạt động thân thiện với môi trường.
Nghiên cứu khả năng của một số loại vi khuẩn quang hợp tía đặc thù tham gia vào quá trình xử lý nước thải nhằm giảm bớt lượng chất ô nhiễm trong nước thải cũng như giảm chi phí vận hành hệ lọc sinh học và khả năng tham gia vào quá trình kích thích sinh trưởng thực vật được tiến hành.
Khả năng kích thích sinh trưởng của nước thải sau xử lý đã được nuôi cấy vi khuẩn quang hợp tía được thí nghiệm trên cây rau cải xanh, cây đậu Facol và chồi dứa Cayen, loại dứa trồng chủ yếu phục vụ dây chuyền đồ hộp xuất khẩu, cho kết quả khả quan.
Nghiên cứu khả năng thích ứng của hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển dưới tác động của nước biển dâng nghiên cứu ở đồng bằng sông hồng
Số 37 (6/2012) > trang 45-52 |  PDF (387.00 KB)
Nguyễn Thị Kim Cúc, Trần Văn Đạt
Tóm tắt
Bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn đã và đang được coi như một trong những biện pháp nhằm thích ứng với những hệ quả của biến đổi khí hậu. Hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng chịu những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp từ biến đổi khí hậu và ngược lại. Trước những tác động qua lại đó, hệ sinh thái rừng ngập mặn có thế phát triển và tồn tại trên đúng một vị trí nếu tốc độ bồi lắng trầm tích (nâng cao thể nền) của khu vực tương ứng với mực nước biển dâng. Ngoài ra, hệ sinh thái này cũng có thể lấn biển nếu tốc độ bồi lắng lớn hơn mức nước biển dâng; ngược lại rừng ngập mặn sẽ tiến sâu vào đất liền nếu không có hệ thống công trình (đê biển ...) ngăn cản hoặc dẫn đến suy thoái. (1) Những nghiên cứu ở ven biển đồng bằng sông Hồng cho thấy tốc độ bồi lắng nhìn chung tương đối cao nhưng không đồng đều trên toàn vùng. Hơn nữa, những nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng, tốc độ bồi lắng của vùng chịu nhiều tác động không chỉ của thiên nhiên mà cả của các hoạt động của con người. (2) Kết quả nghiên cứu về mực nước biển dâng (MONRE, 2010) cho thấy vùng biển Bắc bộ có mức nước biển dâng cao hơn 0,16-0,20 cm/năm so với mức trung bình của cả nước. (3) Một thực tế rất rõ ràng là hầu hết hệ thống đê biển vùng ven biển miền bắc đã và đang được kiên cố hóa và nâng cấp. Tổng hợp và phân tích 3 yếu tố trên có thể thấy hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển đồng bằng sông Hồng có nguy cơ đối mặt với suy thoái trước ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu.
Khả năng cấp bổ sung nước dưới đất, Ninh Phước, Ninh Thuận, Việt Nam
Số 37 (6/2012) > trang 53-57 |  PDF (995.00 KB)
Huỳnh Phú
Tóm tắt
Rãnh ngăn nước mưa theo đường đồng mức sẽ ngăn sự chảy tràn của nước mưa, tạo điều kiện cho nước mưa thấm sâu xuống đất, tránh được xói mòn đất và giữ lại một lượng nước mưa đáng kể sau thời gian mưa, tăng thời gian nước mưa thấm vào đất tạo điều kiện để nước mưa bổ sung vào tầng nước ngầm. Đập ngăn cát trên các khe suối chính sẽ có tác dụng tạm thời ngăn chặn dòng chảy mặt và chuyển thành dòng chảy dưới đất, vì vậy có thể chuyển dòng chảy từ tập trung trong khe rãnh sang dòng chảy diện rộng dưới mặt đất, giảm khả năng gây xói, kéo dài thời gian thấm bổ sung của nước xuống tầng nước ngầm.
Từ năm 2007, hệ thống công trình ngăn giữ nước mưa này được thử nghiệm tại xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh thuận, nơi khô hạn nhất của Việt Nam. Tác động bổ sung nước và nước ngầm cho khu vực được theo dõi nghiên cứu từ năm 2008-2011 cho thấy bước đầu có kết quả tốt. Để nâng cao hiệu quả bổ sung nước và nước ngầm cho khu vực khan hiếm nước này, hệ thống công trình thu trữ nước tương tự cần được thực hiện nhân rộng cho khu vực.
Phân tích nguyên nhân và quy luật diễn biến cửa Mỹ Á, đề xuất giải pháp ổn định
Số 37 (6/2012) > trang 58-64 |  PDF (2617.00 KB)
Hoàng Quốc Xuyển, Lê Đình Thành, Nghiêm Tiến Lam
Tóm tắt
Cửa Mỹ Á là một của sông nhỏ nhưng đóng vai trò rất quan trọng đối với huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi. Cửa Mỹ Á diễn biến rất phức tạp gây khó khăn cho hàng trăm tàu thuyền đánh cá và cuộc sống của dân cư trong vùng. Đã có nhiều nghiên cứu về các nguyên nhân, hiện trạng diễn biến cửa Mỹ Á, và đề xuất giải pháp công trình đã được công bố. Tuy nhiên, nghiên cứu sâu và toàn diện về các quy luật diễn biến cửa Mỹ Á vẫn là một đề tài cần được đầu tư nhằm lý giải những vấn đề khoa học và thực tế ở đây. Nghiên cứu này, với phương pháp tiếp cận bằng điều tra thực tế kết hợp với ứng dụng mô hình toán đã cho thấy những kết quả thuyết phục trong phân tích quy luật diễn biến của Mỹ Á theo thời gian trong năm. Từ đó đề xuất giải pháp công trình nhằm ổn định cửa Mỹ Á.
Đánh giá hạn hán tỉnh ĐăkNông
Số 37 (6/2012) > trang 65-71 |  PDF (564.00 KB)
Phan Thị Thanh Hằng
Tóm tắt
Nghiên cứu này đã xem xét, đánh giá tình hình hạn hán, biến động của dòng chảy trong khu vực tỉnh ĐăkNông trong thời gian gần đây. Các yếu tố ảnh hưởng đến hạn hán trong tỉnh ĐăkNông cũng đã được đề cập đến.
Ảnh hưởng xả lũ của hồ chứa thủy điện A Vương đến ngập lụt hạ lưu Vu Gia – Thu Bồn
Số 37 (6/2012) > trang 72-77 |  PDF (1718.00 KB)
Tô Thúy Nga, Lê Hùng
Tóm tắt
Trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn đã và đang xây dựng nhiều hồ chứa thủy điện khác nhau như hồ A Vương (vận hành năm 2009) hồ Đăk Mi 4, Sông Tranh 2 (vận hành năm 2011), hồ sông Bung 2 và sông Bung 4. Mỗi khi đến mùa mưa lũ thì vấn đề xả lũ của các hồ chứa thủy điện điều gây nhiều tranh cãi. Sau trận lũ năm 2009, có nhiều ý kiến về việc xả lũ hồ chứa A Vương đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến ngập lụt hạ du. Để tìm hiểu về tác dụng trong vận hành điều tiết lũ đến mức độ ngập lụt của hạ lưu trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ mô phỏng lại trận lũ năm 2009 và đánh giá ảnh hưởng của việc xả lũ hồ A Vương đến ngập lụt hạ du với 3 trường hợp : Khi hồ A Vương xả lũ theo số liệu thực tế năm 2009, khi xem như không có hồ và khi hồ xả lũ theo đề nghị của tác giả.
Xây dựng công nghệ dự báo hạn khí tượng ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Số 37 (6/2012) > trang 78-83 |  PDF (963.00 KB)
Nguyễn Đăng Tính, Nguyễn Trịnh Chung, Trương Quốc Bình
Tóm tắt
Trong những thập kỷ gần đây, tình trạng hạn hán ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng gia tăng, thậm chí có thể xảy ra ngay trong mùa mưa, ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế xã hội ở vùng này. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo hạn ở vùng này có ý nghĩa thực tiễn đối với việc đề ra giải pháp phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Hạn hán được phân ra nhiều loại, trong công trình này các tác giả giới hạn phạm vi xây dựng công nghệ dự báo hạn khí tượng. Để xây dựng công nghệ dự báo hạn khí tượng cho khu vực ĐBSCL, các tác giả đã sử dụng 2 phương pháp tương ứng với 2 mô đun trong mô hình dự báo. Mô đun thứ nhất dựa trên cơ sở mối quan hệ với trường chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển SSTA. Mô đun thứ hai dựa trên cơ sở mối quan hệ với hoàn lưu khí quyển với các chỉ số hạn.
Về giải pháp chống thấm qua thân đập bê tông đầm lăn
Số 37 (6/2012) > trang 84-88 |  PDF (346.00 KB)
Nguyễn Chiến
Tóm tắt
Đập bê tông đầm lăn (RCC) được xây dựng nhiều ở nước ta trong thời gian gần đây. Tuy nhiên trong thực tế xây dựng còn những vấn đề tồn tại về lý luận thiết kế, kỹ thuật thi công và kiểm soát chất lượng chống thấm của đập. Trong bài báo này nhấn mạnh sự cần thiết quy định mác chống thấm cho lớp bê tông thượng lưu đập, lưu ý các quy định khi lắp đặt tấm chắn nước của các khe co giãn và yêu cầu kiểm soát chất lượng chống thấm của đập RCC.
Tính đa dạng trong tổ chức hình khối - không gian kiến trúc công trình thuỷ điện
Số 37 (6/2012) > trang 89-94 |  PDF (579.00 KB)
Phạm Thị Liên Hương
Tóm tắt
Các con đập tạo hồ chứa nước hiện nay đóng vai trò rất quan trọng do nguồn điện năng mà nó tạo ra ảnh hưởng lớn tới sự phát triển văn hoá và đời sống nhân loại. Tổ chức hình khối-không gian kiến trúc công trình thuỷ điện rất phong phú về thể loại, đa dạng về hình thức góp phần làm nên nét độc đáo và đặc trưng của kiến trúc công trình thuỷ điện - một kiểu kiến trúc đặc thù kỹ thuật.
12