Số 36 (3/2012)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2012
 
   
Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nhu cầu nước tưới của cây trồng trên vùng tưới Trung Hà - Suối Hai
Số 36 (3/2012) > trang 3-8 |  PDF (949.00 KB)
Nguyễn Tuấn Anh, Lê Văn Chín
Tóm tắt
Việt Nam là một trong những nước bị tác động nhiều nhất do biến đổi khí hậu (BĐKH). Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến nhiều ngành, lĩnh vực ở nước ta, trong đó lĩnh vực nông nghiệp bị ảnh hưởng nhiều nhất. Một trong những tác động của BĐKH đến ngành nông nghiệp là làm tăng nhu cầu nước của các loại cây trồng do nhiệt độ và bốc hơi tăng lên. Do vậy cần có nghiên cứu đánh giá mức độ ảnh hưởng này. Bài báo này giới thiệu kết quả bước đầu đánh giá tác động của BĐKH đến nhu cầu nước của các cây trồng ở một hệ thống tưới điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ là hệ thống tưới Trung Hà, Suối Hai. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhu cầu nước tưới của ngô Đông Xuân tăng lên cao nhất so với thời kỳ 1980-1999 (13,8% vào năm 2050 và 27,2% vào năm 2100, ứng với kịch bản B2), tiếp đến là lúa vụ chiêm. Nhu cầu nước tưới của lúa vụ mùa tăng lên ít nhất (0,6% vào năm 2050 và 1,9% vào năm 2100, ứng với kịch bản B2)
Kết quả thí nghiệm chế độ tưới luân chuyển 1/2 gốc cho cây Thanh long - Bình Thuận
Số 36 (3/2012) > trang 9-18 |  PDF (774.00 KB)
Lê Xuân Quang, Vũ Thế Hải
Tóm tắt
Giải pháp tưới tiết kiệm nước cho cây ăn quả vùng khô hạn Nam Trung Bộ nhằm cung cấp nước cho cây trồng đạt hiệu quả cao nhất trong điều kiện nguồn nước thiếu hụt.
Bài viết này nhằm giới thiệu một số kết quả bước đầu trong việc đưa ra chế độ tưới luân chuyển ½ gốc cây bằng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho cây Thanh Long –Bình Thuận, bao gồm việc bố trí hệ thống tưới, kết quả bước đầu nghiên cứu về chế độ tưới luân chuyển ½ gốc cây Thanh Long Bình Thuận.
Nghiên cứu đề xuất thông số yêu cầu cho máy bơm phục vụ tưới tiêu vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Số 36 (3/2012) > trang 19-20 |  PDF (370.00 KB)
Nguyễn Tiến Thái, Nguyễn Tuấn Anh, Lê Chí Nguyện
Tóm tắt
Nhu cầu tưới tiêu bằng động lực cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện nay là rất lớn. Để đảm bảo tưới tiêu nước chủ động, phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL. Người ta đã xây dựng hàng vạn trạm bơm loại nhỏ và vừa, với các loại máy bơm áp dụng chưa được chọn lựa tốt cũng như chưa có loại bơm phù hợp cho yêu cầu tưới tiêu vùng ĐBSCL. Trước tính hình đó, việc nghiên cứu tính toán xác định ra các thông số yêu cầu phổ biến đối với bơm phục vụ tưới tiêu ở ĐBSCL là cần thiết, làm cơ sở cho việc chọn lựa sử dụng bơm cũng như đặt hàng nghiên cứu sản xuất bơm phục vụ tưới tiêu vùng ĐBSCL.
Nghiên cứu xác định mô hình bơm hợp lý cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Số 36 (3/2012) > trang 21-23 |  PDF (671.00 KB)
Nguyễn Tiến Thái, Nguyễn Tuấn Anh, Lê Chí Nguyện
Tóm tắt
Hiện nay để tưới tiêu cấp thoát nước phục vụ nuôi trồng thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) người ta đã xây dựng hàng ngàn trạm bơm loại vừa và nhỏ, dùng máy bơm tự chế với đa số là trạm bơm kiểu dã chiến, không có nhà trạm. Các trạm bơm này chủ yếu do dân tự làm để đáp ứng ngay nhu cầu sản xuất, không đảm bảo an toàn lao động, không thuận tiện cho quản lý. Trước tình hình đó việc nghiên cứu xác định mô hình bơm hợp lý cho vùng ĐBSCL là cần thiết.
Nghiên cứu đề xuất sử dụng phụ gia khoáng hoạt tính cho bê tông đầm lăn đập Tân Mỹ tỉnh Ninh Thuận trên khía cạnh kinh tế và kỹ thuật
Số 36 (3/2012) > trang 24-31 |  PDF (692.00 KB)
Đinh Xuân Anh, Nguyễn Như Oanh
Tóm tắt
Trong bê tông đầm lăn (BTĐL), phụ gia khoáng hoạt tính (PGKHT) tro bay nhiệt điện và puzơlan thiên nhiên đã thay thế khoảng 25 ÷ 30% lượng xi măng so với bê tông thường. Tính chất cơ lý của BTĐL bị ảnh hưởng rất lớn bởi PGKHT. Với góc nhìn kinh tế và kỹ thuật của BTĐL đối với công trình, đề xuất sử dụng phụ gia khoáng hoạt tính cho BTĐL đập Tân Mỹ tỉnh Ninh Thuận
Sự biến đổi cường độ và hệ số thấm của bê tông trong môi trường chua phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long
Số 36 (3/2012) > trang 32-37 |  PDF (1657.00 KB)
Khương Văn Huân
Tóm tắt
Cường độ và hệ số thấm của bê tông thay đổi theo thời gian. Trong môi trường chua phèn, môi trường mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, cường độ bê tông tăng, hệ số thấm giảm chỉ trong khoảng 9 tháng đầu, sau đó diễn biến ngược lại. Chất lượng bê tông ở môi trường chua phèn có xu hướng bị suy giảm nhiều hơn môi trường nhiễm mặn. Mức độ thay đổi hệ số thấm và cường độ của bê tông phụ thuộc vào tỷ lệ nước xi măng (N/X). Khi bê tông có tỷ lệ N/X dưới 0,50, cường độ và hệ số thấm của bê tông rất ổn định trong môi trường nghiên cứu. Đề nghị không sử dụng mác bê tông thấp hơn M30 xây dựng các công trình bê tông cốt thép ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Cải tiến thay thế bể lọc cưỡng bức bằng bể lọc tự rửa trong mô hình cấp nước nông thôn
Số 36 (3/2012) > trang 38-13 |  PDF (493.00 KB)
Lương Văn Anh
Tóm tắt
Hiện nay công tác vận hành và bảo dưỡng các công trình cấp nước nông thôn đặc biệt là bể lọc trong trạm xử lý, đòi hỏi phải có cán bộ chuyên môn và kinh nghiệm. Thực tế có công trình xử lý không hoạt động hoặc hoạt động kém và chất lượng nước sau xử lý không đạt yêu cầu phần lớn do công tác quản lý vận hành bể lọc. Không thực hiện đúng qui trình nên dẫn đến vật liệu lọc không sạch, bể lọc làm việc không đạt kết quả mong muốn, chu kỳ làm việc của bể bị rút ngắn. Mặt khác để giảm chi phí quản lý, công tác rửa bể lọc không thường xuyên nên bể lọc hoạt động ngày càng kém, dần xuống cấp và không còn tác dụng lọc nước gây ra tắc, tràn bể lọc làm cho chất lượng nước không đạt yêu cầu, công suất xử lý giảm xuống.
Bể lọc tự rửa là tự điều chỉnh quá trình rửa lọc mà không cần sự điều khiển của công nhân hay các thiết bị tự động phức tạp trong quá trình làm việc cũng như trong quá trình rửa lọc do đó nó giúp giảm chi phí vận hành mà còn nâng cao hiệu quả làm việc của trạm xử lý.
Tính toán lượng thuốc nổ cho phép để hạn chế tác hại của sóng địa chấn đến kết cấu bê tông đang xây dựng
Số 36 (3/2012) > trang 44-46 |  PDF (474.00 KB)
Nguyễn Quang Cường
Tóm tắt
Việc tiến hành song song giữa công tác bê tông và công tác nổ mìn sẽ cho phép rút ngắn đáng kể thời gian xây dựng đối với một số công trình. Tuy nhiên các trấn động do nổ ảnh hưởng rất tiêu cực đến các khối bê tông đang trong giai đoạn đông cứng, cho nên việc tiến hành song song còn rất bị hạn chế. Nội dung bài báo giới thiệu phương pháp tính toán một trong những thông số quan trọng khi thiết kế các vụ nổ ở gần các công trình bê tông đang đông cứng là lượng thuốc nổ tối đa cho phép đảm bảo an toàn về chấn động cho bê tông
Phân tích độ ổn định các điểm khống chế trong hướng chuẩn
Số 36 (3/2012) > trang 47-51 |  PDF (531.00 KB)
Hoàng Xuân Thành
Tóm tắt
Trong công tác quan trắc biến dạng công trình việc đánh giá độ ổn định của các mốc khống chế vô cùng quan trọng. Bài báo nêu ra cơ sở lý thuyết để xử lý số liệu đo chuyển dịch trong quan trắc hướng chuẩn tổng quát đối với mọi sơ đồ và dựa vào kết quả để phân tích độ ổn định của các mốc khống chế. Theo nguyên lý này chúng tôi đã thành lập chương trình tính toán, bình sai và phân tích độ ổn định các mốc khống chế cũng như các mốc kiểm tra trong lưới hướng chuẩn
Bản sắc văn hoá truyền thống trong kiến trúc công trình thuỷ lợi Việt Nam
Số 36 (3/2012) > trang 52-56 |  PDF (515.00 KB)
Phạm Thị Liên Hương
Tóm tắt
Kiến trúc và bản sắc văn hoá truyền thống Việt Nam luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau, đều bắt nguồn từ cội nguồn truyền thống dân tộc. Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập ngày nay, kiến trúc phải hiện đại hoá trong sự kế thừa tinh hoa dân tộc nhằm phản ánh rõ bản sắc vùng miền và trở thành yếu tố mang tính biểu tượng cho đặc trưng văn hoá truyền thống. Kiến trúc công trình thuỷ lợi cũng không nằm ngoài xu thế đó. Một số công trình là sự hoà nhịp thành công giữa kiến trúc truyền thống và kỹ thuật hiện đại đã trở thành điểm nhấn du lịch văn hoá địa phương. Bài viết đưa ra một số định hướng tạo lập bản sắc văn hoá truyền thống cho kiến trúc công trình thuỷ lợi, góp phần xây dựng cơ sở khoa học bền vững trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong các thiết kế hiện đại cho các kỹ sư, các kiến trúc sư, các nhà quản lý, các nhà chuyên môn có liên quan trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới
Một số đánh giá về ô nhiễm nước sông Đào Nam Định và biện pháp quản lý kiểm soát
Số 36 (3/2012) > trang 57-63 |  PDF (769.00 KB)
Vũ Hoàng Hoa
Tóm tắt
Đoạn sông Đào chảy qua thành phố Nam Định có vai trò rất quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định. Đây là nguồn nước cấp cho nhà máy nước Nam Định để cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp khu vực thành phố Nam Định nên có yêu cầu rất cao về quản lý bảo vệ chất lượng nước.
Thông qua các thông tin, số liệu điều tra, khảo sát các nguồn gây ô nhiễm và ước tính tải lượng chất ô nhiễm của các nguồn thải, bài báo đã chỉ ra các nguồn gây ô nhiễm chủ yếu nguồn nước các sông, kênh khu vực nông nghiệp bao quanh thành phố Nam Định cũng như nguồn nước của sông Đào. Nghiên cứu cụ thể về ô nhiễm nước trên sông Đào, bài báo đã đánh giá mức độ, nguyên nhân gây ô nhiễm nước trên sông Đào; và đề xuất các ý kiến về biện pháp cần tiến hành để giảm thiểu ô nhiễm nước, hướng tới khắc phục tình trạng ô nhiễm nước của sông Đào trong tương lai, bảo vệ chất lượng nguồn nước cấp cho nhà máy nước Nam Định.
Giải pháp kiểm soát khí độc ammonia, hydrogen sulfide trong mô hình nuôi tôm sú thâm canh trên đất phèn tỉnh Cà Mau
Số 36 (3/2012) > trang 64-71 |  PDF (516.00 KB)
Cao Phương Nam, Cao Thanh Liêu, Lê Văn Hậu
Tóm tắt
Đề tài thực nghiệm giải pháp kiểm soát khí độc ammonia (NH3), hydrogen sulfide (H2S) trong nước đáy ao, nước bùn đáy nuôi tôm sú trên đất phèn tại xã Thới Bình, huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau, bằng chế phẩm sinh học EM (effective microorganims) kết hợp cấp oxy, được tiến hành trên 3 đợt thí nghiệm với các ao thí nghiệm (vụ 1, mỗi ao diện tích 4000m2, vụ 2, 3 mỗi ao 4800 m2): ao đối chứng ĐC không dùng EM, DOd(oxy hòa tan ở nước đáy ao): 2-2,8 mg/L; ao M0 không dùng EM, DOd: 3,2-4 mg/L; ao M1 với DOd: 3,2-4 mg/L, 1 lít EM/800 m3/ 7ngày; ao M2 với DOd: 3,2-4 mg/L và 1 lít EM/534 m3/ 7ngày. Giai đoạn cải tạo vụ 1 sử dụng 200 lít EM/ao M1, M2; và 250 lít EM/ao cho mỗi ao M1, M2 vụ 2,3 ). Kết quả ao M2 đạt hiệu quả kiểm soát xử lý khí độc NH3, H2S đạt cao nhất, nồng độ trung bình NH3 suốt các vụ nuôi được duy trì trong các vụ nuôi ≤0,06 mg/L ở nước đáy ao, và ≤0,12 mg/L ở nước bùn đáy; nồng độ trung bình H2S trong nước sát đáy ≤0,04 mg/L, bùn đáy ≤0,06 mg/L, năng suất đạt 5,9 tấn-7,2 tấn/ha/vụ, tỷ lệ sống của tôm nuôi đạt 67- 72%, hệ số chuyển đổi thức ăn FCR=1,47-1,53, tỷ lệ tổng thu/tổng chi phí R/C=1,49-2,18, thời gian nuôi trung bình 140 ngày.
So sánh một số phương pháp chi tiết hóa sự biến đổi mưa trên lưu vực sông Cả trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Số 36 (3/2012) > trang 72-78 |  PDF (1520.00 KB)
Cù Thị Phương
Tóm tắt
Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề nóng bỏng trong hoàn cảnh hiện nay. Sự biến đổi khí hậu trong tương lai được mô phỏng bằng các mô hình biến đổi khí hậu toàn cầu (GCMs). Tuy nhiên các mô hình GCMs có tỷ lệ rất thô so với sự biến đổi của các yếu tố khí tượng của một vùng, nhất là đối với mưa. Do đó các phương pháp chi tiết hóa các yếu tố khí tượng (downscaling) được ứng dụng để mô phỏng sự biến đổi mưa trong tương lai chi tiết cho từng vùng, từng trạm khảo sát. Bài viết này sẽ giới thiệu 2 phương pháp mô phỏng sự biến đổi mưa năm trên lưu vực sông Cả dựa trên kết quả của mô hình biến đổi khí hậu toàn cầu HadCM3 và tài liệu thực đo mưa tại 12 trạm trên lưu vực. Từ đó có thể đánh giá cụ thể hơn về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nguồn nước mưa trên lưu vực.
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến dòng chảy lưu vực sông Cả
Số 36 (3/2012) > trang 79-84 |  PDF (1543.00 KB)
Cù Thị Phương
Tóm tắt
Lưu vực sông Cả là một trong những lưu vực sông chính ở Miền Bắc Trung bộ. Với đặc điểm độ dốc lưu vực lớn, lưu vực thường gặp nhiều khó khăn về nguồn nước vào mùa khô. Đây cũng là một trong những thách thức của lưu vực trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Bài viết sẽ giới thiệu kết quả chi tiết hóa lượng mưa theo 2 kịch bản A2 và B2 trên lưu vực trong tương lai dựa trên mô hình biến đổi khí hậu toàn cầu HadCM3 và sử dụng mô hình hệ thống mưa dòng chảy để mô phỏng sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước trên hệ thống sông tính đến trạm Yên Thượng.
Các phương pháp đánh giá thiệt hại kinh tế do lũ gây ra đối với xã hội
Số 36 (3/2012) > trang 85-89 |  PDF (610.00 KB)
Bùi Thị Thu Hòa, Nguyễn Thị Thu Hà
Tóm tắt
Kiểm soát lũ luôn là vấn đề quan trọng ở Việt Nam cũng như việc lập chính sách, chiến lược, hành động làm giảm thiểu những thiệt hại do lũ gây ra luôn được Chính phủ quan tâm. Tuy nhiên những ảnh hưởng của lũ tới xã hội chưa được đề cập và tính toán một cách toàn diện. Vì vậy bài viết này muốn trình bày một số phương pháp đánh giá thiệt hại kinh tế do lũ gây ra đối với xã hội. Từ đó, việc tính toán tác động của lũ sẽ giúp cho việc lập phương án kiểm soát lũ được hợp lý hơn.
12