Số 40 (3/2013)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 3/2013
 
   
Cơ sở dữ liệu trực tuyến dùng chung về cửa sông miền Trung
Số 40 (3/2013) > trang 03-07 |  PDF (691.00 KB)
Nghiêm Tiến Lam
Tóm tắt
Các cửa sông Miền Trung nước ta thường có diễn biến phức tạp dưới tác động của các quá trình lục địa và hải dương biến động theo mùa, ảnh hưởng đến các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Việc nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân và quy luật diễn biến của các cửa sông này đòi hỏi phải thu thập rất nhiều dữ liệu như địa hình, địa chất, khí tượng, thủy văn, hải văn, lịch sử biến đổi cửa sông... trong những khoảng thời gian khá dài. Sự hạn chế của các loại số liệu cơ bản này dẫn đến sai số lớn trong quy hoạch và thiết kế công trình chỉnh trị ổn định cửa sông, gây hư hỏng công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư hoặc có thể sinh ra các diễn biến bất lợi hơn. Với mục đích tăng cường việc chia sẻ dữ liệu (CSDL) cửa sông và nâng cao hiệu quả thu thập và khai thác dữ liệu cửa sông, một cơ sở dữ liệu trực tuyến dùng chung về cửa sông đã được thiết lập trên mạng internet. Bài báo sẽ phân tích về nhu cầu cần thiết của việc xây dựng CSDL dùng chung này cùng với các đặc điểm và cấu trúc của CSDL. Khung CSDL mở được thiết lập cùng với bộ số liệu ban đầu và cơ chế chia sẻ dữ liệu sẽ được tích hợp vào CSDL dùng chung của ngành thủy lợi nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ và sử dụng dữ liệu.
Nghiên cứu phân tích lựa chọn ngôn ngữ xây dựng phần mềm mô hình toán mô phỏng dòng chảy và vận chuyển bùn cát trên lưu vực vừa và nhỏ
Số 40 (3/2013) > trang 08-14 |  PDF (480.00 KB)
Đào Tấn Quy, Phạm Thị Hương Lan
Tóm tắt
Cuộc sống ngày càng hiện đại cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật (KHKT) đặt ra yêu cầu bức thiết về công nghệ và chất lượng sản phẩm cho mọi ngành, mọi lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực Thủy lợi. Trong tiến trình phát triển của xã hội, công nghệ thông tin (CNTT) là một trong những ngành đi đầu trong việc đổi mới công nghệ, là ngành đón đầu trên con đường bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển của thế giới CNTT. Nhiều ngôn ngữ lập trình mới xuất hiện và đang phát triển với tốc độ khá nhanh. Bên cạnh đó, cũng nhiều mô hình toán ra đời và cũng được ứng dụng rộng rãi. Trên quan điểm tiếp cận với các ngôn ngữ lập trình để xây dựng một phần mềm chuyên ngành thủy lợi, bài báo đi sâu phân tích việc lựa chọn ngôn ngữ xây dựng phần mềm mô hình toán mô phỏng dòng chảy và vận chuyển bùn cát trên lưu vực vừa và nhỏ phục vụ cho việc đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường Đại học hiện nay
Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới chế độ thuỷ văn sông Hương
Số 40 (3/2013) > trang 15-22 |  PDF (553.00 KB)
Nguyễn Đính, Lê Đình Thành, Ngô Lê An
Tóm tắt
Báo cáo nghiên cứu đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) tới chế độ thuỷ văn trên lưu vực sông Hương dựa trên kịch bản BĐKH của Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) và được Bộ Tài nguyên & Môi trường công bố cho Việt Nam. Báo cáo đã nghiên cứu tính toán chi tiết hoá kịch bản biến đổi mưa và bốc hơi cho lưu vực sông Hương từ 2020 đến 2100 bằng các công cụ thống kê (MAGICC-SCENGEN, tương quan tuyến tính), từ đó sử dụng các mô hình thuỷ văn để mô phỏng dòng chảy trên lưu vực. Từ kết quả mô phỏng, phân tích cho thấy chế độ thuỷ văn trên lưu vực thay đổi do tác động của BĐKH như lượng dòng chảy năm có khả năng tăng lên tới xấp xỉ 8% ở thời kỳ 2080-2099, dòng chảy chủ yếu tập trung tăng mạnh trong ba tháng mùa lũ là tháng IX, X và XI, các tháng còn lại đều tăng không lớn hoặc giảm. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu khác cho thấy khả năng ứng dụng tốt của các công cụ này trong bài toán chi tiết hoá các mô hình khí hậu trên thực tế.
Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi
Số 40 (3/2013) > trang 23-27 |  PDF (272.00 KB)
Huỳnh Thị Lan Hương
Tóm tắt
Biến đổi khí hậu (BĐKH), mà biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng (NBD), là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Biến đổi khí hậu sẽ tác động đến các ngành kinh tế trong đó có nông nghiệp. Bài báo này trình bày các kết quả đánh giá tác động của BĐKH đến lĩnh vực nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi. Theo kết quả tính toán, do sự gia tăng nhiệt độ, nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi sẽ có xu thế gia tăng. Bên cạnh đó, do nước biển dâng, sẽ làm gia tăng nguy cơ ngập lụt khu vực đồng bằng, diện tích nông nghiệp sẽ bị suy giảm. Mặt khác, do các tác động của thay đổi nhiệt độ và chế độ mưa, năng suất lúa trong địa bàn tỉnh cũng được đánh giá là sẽ bị ảnh hưởng.
Nghiên cứu ứng dụng mô hình MIKE11 đánh giá khả năng đưa nước thường xuyên vào sông Đáy tăng khả năng thoát lũ, cải tạo môi trường
Số 40 (3/2013) > trang 28-33 |  PDF (365.00 KB)
Trần Khắc Thạc, Phạm Thị Hương Lan, Hà Văn Khối
Tóm tắt
Sau khi có thêm hồ chứa Sơn La, về mặt lý thuyết với trận lũ chu kỳ 500 năm các hồ chứa thượng nguồn có thể khống chế được mực nước Hà Nội ở mức 13,40m mà không cần phải áp dụng các giải pháp phân, chậm lũ. Tuy nhiên, thời gian duy trì mực nước cao ở Hà Nội vẫn kéo dài trong nhiều ngày, đây là một áp lực lớn đối với an toàn của các tuyến đê sông Hồng, sông Thái Bình và có thể vẫn xảy ra sự cố vỡ đê. Bên cạnh đó với tất cả các tổ hợp lũ thì mực nước tại Hà Nội đều xấp xỉ mực nước an toàn (13,40 m) và không an toàn đối với các khu vực còn lại vùng đồng bằng sông Hồng. Do đó, khi không áp dụng các biện pháp phân, chậm lũ thì với lũ chu kỳ 500 năm có thể coi là ngưỡng thảm họa. Để giảm áp lực đối với hệ thống đê do mực nước cao kéo dài nhiều ngày, cần xem xét đưa nước vào sông Đáy kết hợp với việc tạo dòng chảy thường xuyên cho sông Đáy trong thời kỳ mùa lũ. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ứng dụng mô hình MIKE11 đánh giá khả năng đưa nước thường xuyên vào sông Đáy tăng khả năng thoát lũ, cải tạo môi trường.
Ảnh hưởng của nước biển dâng đến xâm nhập mặn vao hệ thống thủy lợi nội đồng Nam Thái Bình
Số 40 (3/2013) > trang 34-40 |  PDF (735.00 KB)
Nguyễn Tuấn Anh, Phạm Tất Thắng
Tóm tắt
Dưới tác động của nước biển dâng, hệ thống thủy lợi Nam Thái Bình được đánh giá là một trong những vùng dễ bị tổn thương nhất. Trong bài báo này, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình MIKE11 để mô phỏng diễn biến xâm nhập mặn của hệ thống Nam Thái Bình theo các kịch bản nước biển dâng. Kết quả mô phỏng cho thấy mức độ ảnh hưởng của xâm nhập mặn vào hệ thống phụ thuộc chủ yếu vào chế độ đóng mở của các cống lấy nước đầu mối, các kịch bản nước biển dâng làm thay đổi không nhiều chiều dài xâm nhập mặn trên các sông nhưng độ lớn của các lưỡi mặn thì tăng lên đáng kể.
Một số kết quả bước đầu của việc áp dụng chế phẩm Aqualift của Nhật trong xử lý nước ao, hồ bị ô nhiễm
Số 40 (3/2013) > trang 41-45 |  PDF (693.00 KB)
Bùi Quốc Lập
Tóm tắt
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm hữu cơ ở ao, hồ nước ta rất nghiêm trọng, đặc biệt trên địa bàn thủ đô Hà Nội. Nguyên nhân do phần lớn các hồ đều bị xả nước thải từ hệ thống cống thoát nước dân cư, bệnh viện, công sở; tảo xanh, tảo độc và rác thải sinh hoạt đang ngày một làm gia tăng ô nhiễm hồ, ao. Với mong muốn góp phần giải quyết hiệu quả, bền vững vấn đề ô nhiễm ao, hồ, nhóm nghiên cứu đã đề xuất nghiên cứu thí điểm áp dụng chế phẩm Aqualift do Nhật Bản sản xuất, vốn đã được áp dụng rất thành công ở Nhật trong xử lý nước tự nhiên bị ô nhiễm vào xử lý nước ao, hồ bị ô nhiễm ở Việt Nam. Đối tượng được lựa chọn nghiên cứu thí điểm là ao Vườn thuộc Đền Vườn – Pháo Đài Láng – Hà Nội, hiện là ao đang bị ô nhiễm hữu cơ nặng. Việc áp dụng chế phẩm vi sinh Aqualift trong vòng 1,5 tháng đã đem lại một số kết quả ban đầu rất khả quan : nước ao đã giảm thiểu độ đục, mùi, giảm được 80% BOD5, và COD giảm được 84%, giúp tiêu giảm lớp bùn đáy, duy trì môi trường sống cho hệ thủy sinh trong ao, đồng thời tiết kiệm chi phí, thân thiện với môi trường và con người.
Công tác quản lý chất lượng nước sinh hoạt nông thôn hiện nay và một số vấn đề cần giải quyết
Số 40 (3/2013) > trang 46-52 |  PDF (250.00 KB)
Bùi Quốc Lập
Tóm tắt
Hiện nay, cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển nông thôn và bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá. Kết quả thực hiện các Chương trình mục tiêu Quốc gia NS&VSMTNT đã nâng tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh từ 32% vào năm 1998, lên 75% vào cuối năm 2010. Tuy nhiên, các thành quả đạt được chưa thực sự bền vững. Để đạt được mục tiêu Chiến lược đến năm 2020 “Tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng tối thiểu 60 lít/người-ngày”, đòi hỏi Việt Nam phải có nhiều nỗ lực hơn nữa. Nhằm góp phần đạt được mục tiêu Chiến lược trên, nghiên cứu này đã được thực hiện với mục đích rà soát lại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực trạng công tác quản lý chất lượng nước sinh hoạt nông thôn hiện nay để trên cơ sở đó phát hiện ra các vấn đề cần tập trung giải quyết trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng nước sinh hoạt nông thôn ở nước ta, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi mục tiêu Quốc gia về cấp nước và VSMTNT.
Môi trường nước trong phát triển mở rộng nuôi tôm càng xanh, Tam Nông, Đồng Tháp
Số 40 (3/2013) > trang 53-57 |  PDF (191.00 KB)
Huỳnh Phú
Tóm tắt
Để khai thác nguồn nước lũ, tạo việc làm trong thời kỳ nông nhàn, nông dân huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp đã xây dựng được mô hình trồng lúa kết hợp với nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii). Đây là mô hình mang lại lợi ích kinh tế lớn cho người dân và đang được các cấp chính quyền ưu tiên đặt lên hàng đầu trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Huyện.
Theo kế hoạch năm 2013, nông dân huyện Tam Nông sẽ tăng diện tích nuôi tôm càng xanh lên khoảng 1.000 ha, ước tính sản lượng đạt 1.700 tấn. Điều này sẽ góp phần tăng thu nhập cho người nông dân nhưng đồng thời cũng có thể gây ra những hệ lụy cho môi trường.
Trong khuôn khổ bài báo này, chúng tôi giới thiệu kết quả nghiên cứu ban đầu sự tác động qua lại giữa việc phát triển mở rộng diện tích nuôi tôm càng xanh với một số yếu tố của môi trường nước, làm cơ sở cho việc quy hoạch và phát triển bền vững nghề nuôi tôm càng xanh tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Ứng dụng nghệ thuật tạo hình (điêu khắc - hội hoạ - mỹ thuật công nghiệp) trong tổ chức cảnh quan công trình thuỷ điện
Số 40 (3/2013) > trang 58-64 |  PDF (1291.00 KB)
Phạm Thị Liên Hương
Tóm tắt
Trong kiến trúc công trình nói chung và kiến trúc công trình thuỷ điện nói riêng, nghệ thuật tạo hình với các hình thức biểu đạt phong phú chiếm một vị trí quan trọng trong tổ chức cảnh quan. Nghệ thuật tạo hình góp phần làm giàu thêm ngôn ngữ cho môi trường kiến trúc, sức biểu hiện của kiến trúc sẽ tăng lên rất nhiều nhờ sự góp mặt của các tác phẩm điêu khắc, hội hoạ, phù điêu.... Nhiều công trình thuỷ điện trên thế giới đã trở thành điểm du lịch thu hút hàng nghìn du khách đến để chiêm ngưỡng không chỉ ở vẻ đẹp hùng vĩ của nó mà còn ở những tác phẩm nghệ thuật giàu hình tượng như đập Hoover trên sông Colorado - Mỹ hay đập Tam Hiệp trên sông Trường Giang - Trung Quốc...
Nghiên cứu, tính toán ảnh hưởng đến đê điều khi xây dựng nhà cao tầng ở lân cận
Số 40 (3/2013) > trang 65-71 |  PDF (791.00 KB)
Dương Thị Thanh Hiền, Nguyễn Văn Sơn
Tóm tắt
Trong hoàn cảnh hiện nay, nhà cao tầng ra đời là một hệ quả tất yếu của việc tăng dân số đô thị, thiếu đất xây dựng và giá đất cao. Tuy nhiên, khi xây dựng thêm 1 công trình cần phải quan tâm đến việc tải trọng công trình tác dụng lên nền sẽ kéo theo các công trình lân cận bị lún xuống hoặc bị trồi. Càng ra xa công trình, mức độ ảnh hưởng tăng thêm do xây dựng công trình đến các công trình lân cận càng giảm và đến một giới hạn nào đó sẽ không gây ảnh hưởng nữa. Bài viết này sử dụng phần mềm Plaxis 2D để tính biến dạng nền khi xây dựng Tòa nhà văn phòng làm việc tại số 12 Trần Quang Khải ảnh hưởng đến biến dạng nền cho đê Hữu Hồng.
Xác định thời điểm tính toán trong giải bài toán kháng chấn bằng phương pháp phân tích lịch sử thời gian
Số 40 (3/2013) > trang 72-75 |  PDF (419.00 KB)
Nguyễn Quang Cường
Tóm tắt
Giải bài toán kháng chấn bằng phương pháp phân tích lịch sử thời gian cho phép mô tả đầy đủ ứng xử của kết cấu trong suốt thời gian động đất, tuy nhiên nó cũng đưa ra một khối lượng số liệu kết quả rất lớn, trong khi chỉ cần quan tâm đến một số thời điểm bất lợi nhất của kết cấu. Để giảm bớt khối lượng tính toán, cần xác định các thời điểm bất lợi đó để phân tích, tính toán. Bài báo giới thiệu một số nghiên cứu về việc xác định thời điểm tính toán trong giải bài toán kháng chấn bằng phương pháp phân tích lịch sử thời gian.
Nghiên cứu ảnh hưởng của phụ gia hóa học giảm co ngót đến một số tính chất của bê tông tính năng cao
Số 40 (3/2013) > trang 76-80 |  PDF (210.00 KB)
Nguyễn Quang Phú, Nguyễn Thái Huy
Tóm tắt
Bài báo trình bày nghiên cứu ảnh hưởng của phụ gia hóa học giảm co ngót đến tính công tác và một số tính chất cơ lý của bê tông tính năng cao trong phòng thí nghiệm
Tính toán ổn định vách hào Bentonite trong đất ít dính
Số 40 (3/2013) > trang 81-86 |  PDF (736.00 KB)
Nguyễn Cảnh Thái, Lương Thị Thanh Hương
Tóm tắt
Tường hào bentonite thường được sử dụng để xử lý chống thấm cho đập và nền. Khi đào hào trong dung dịch bentonite, vấn đề ổn định của vách hào cần đặc biệt được quan tâm. Bài báo đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến ổn định hào bentonite và phương pháp tính toán ổn định vách hào đang được sử dụng hiện nay. Các tác giả đã xây dựng các biểu đồ tra cứu ổn định vách hào trong các điều kiện khác nhau. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, bài báo đưa ra một số khuyến cáo khi đào hào trong dung dịch bentonite để đảm bảo an toàn ổn định trong quá trình thi công.
Xác định cường độ chống cắt của đất không bão hòa bằng thí nghiệm nẫn ba trục cải tiến với độ ẩm không đổi
Số 40 (3/2013) > trang 87-93 |  PDF (484.00 KB)
Nguyễn Thị Ngọc Hương, Trịnh Minh Thụ
Tóm tắt
Nhiều bài toán địa kỹ thuật về ổn định và cường độ đều liên quan đến sức chống cắt của đất. Trong thực tế xõy dựng nhiều trường hợp đất thường là một hệ bóo hoà/khụng bóo hoà Vì vậy, việc mô phỏng điều kiện này trong thí nghiệm nộn ba trục độ ẩm không đổi (CW) để xác định các thông số cường độ chống cắt của đất là cần thiết. Bài bỏo này đề cập đến phương pháp xác định cường độ chống cắt cho đất không bão hòa bằng thí nghiệm nén ba trục độ ẩm không đổi (CW) dựng thiết bị nộn ba trục cải tiến của phũng thí nghiệm Địa Kỹ Thuật trường Đại học Thủy lợi.
12