Số 42 (9/2013)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 9/2013
 
   
Ứng dụng Crystal ball xác định chế độ vận hành tối ưu phát điện cho hồ chứa Thác Bà, Tuyên Quang và bậc thang hồ chứa Sơn La, Hòa Bình có tính đến yêu cầu cấp nước hạ du
Số 42 (9/2013) > trang 4-11 |  PDF (1439.00 KB)
Hoàng Thanh Tùng, Hà Văn Khối, Nguyễn Thanh Hải
Tóm tắt
Vận hành tối ưu hồ chứa đa mục tiêu và hệ thống hồ chứa là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm trong nhiều năm gần đây nhằm đem lại những hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất cho công tác vận hành hồ chứa. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu ứng dụng phần mềm Crystal Ball xác định chế độ vận hành tối ưu phát điện cho hồ chứa Thác Bà, Tuyên Quang và bậc thang hồ chứa Sơn La, Hòa Bình có tính đến yêu cầu cấp nước hạ du. Crystal Ball là phần mềm tối ưu và phân tích rủi ro rất mạnh trong kinh tế và lần đầu tiên được nhóm tác giả áp dụng thành công cho vận hành các hồ chứa nói trên. Kết quả đạt được là tương đối tốt so với các mô hình tối ưu sử dụng hiện nay vì mô hình này cho phép phân tích độ tin cậy và đưa ra chế độ vận hành tối ưu với các mức đảm bảo khác nhau nhằm hỗ trợ ra quyết định vận hành hồ chứa.
Ứng dụng mô hình HEC-HMS và HEC-RAS nghiên cứu mô phỏng dòng chảy lũ lưu vực sông Hương
Số 42 (9/2013) > trang 12-17 |  PDF (1266.00 KB)
Nguyễn Đính, Nguyễn Hoàng Sơn, Lê Đình Thành
Tóm tắt
Lưu vực sông Hương có tài nguyên nước dồi dào, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường của tỉnh Thừa Thiên Huế. Điều kiện tự nhiên lưu vực sông Hương đặc thù với toàn bộ diện tích lưu vực nằm trọn trong tỉnh, có hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai lớn nhất nước và chế độ thủy triều với biên độ thấp nhất nước. Những năm gần đây trên lưu vực sông Hương đã và đang phát triển nhiều công trình thủy lợi, thủy điện lớn như Bình Điền, Tả Trạch, Hương Điền làm ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy sông Hương. Trong nghiên cứu này hai mô hình thủy văn, thủy lực HEC-HMS và HEC-RAS được ứng dụng để nghiên cứu mô phỏng dòng chảy lũ lưu vực sông Hương, các kết quả cho thấy khả năng ứng dụng hai mô hình này là khá tốt, có thể sử dụng để đánh giá các tác động của việc xây dựng các hồ chứa đến dòng chảy hạ lưu.
Thiết lập mô hình mô phỏng lũ phục vụ vận hành hệ thống hồ chứa trên sông Vu Gia -Thu Bồn thời kỳ mùa lũ
Số 42 (9/2013) > trang 18-24 |  PDF (842.00 KB)
Tô Thúy Nga
Tóm tắt
Trong báo cáo này sẽ trình bày một phương pháp tiếp cận để thiết lập mô hình mô phỏng phục vụ vận hành hệ thống hồ chứa thời kỳ mùa lũ theo thời gian thực do tác giả kiến nghị. Mô hình mô phỏng được thiết lập trên cơ sở tích hợp các các mô hình thành phần bao gồm, mô hình mưa - dòng chảy, mô hình diễn toán lũ trên hệ thống sông và mô hình điều tiết lũ hệ thống hồ chứa. Mô hình do tác giả thiết lập có khả năng dự báo lũ đến hồ chứa và các nút nhập lưu, mô phỏng quyết định về vận hành các cửa xả lũ của các hồ chứa theo diễn biến lũ trên hệ thống và đánh giá diễn biến lũ tại các nút không chế ở hạ lưu. Thuật toán giải và chương trình tính toán do tác gia lập trình và kết quả bước đầu ứng dụng mô hình đối với các hồ chứa trên sông Vu Gia-Thu Bồn.
Ứng dụng phương pháp hồi quy nhiều biến trong dự báo đặc trưng nguồn nước thượng lưu sông Hồng
Số 42 (9/2013) > trang 25-32 |  PDF (857.00 KB)
Trịnh Thu Phương , Lương Hữu Dũng
Tóm tắt
Quá trình dòng chảy mặt phụ thuộc rất nhiều yếu tố như mưa, mặt đệm lưu vực và quá trình sử dụng nước trên lưu vực. Dự báo nguồn nước trước một khoảng thời gian dài sẽ có ý nghĩa vô cùng to lớn trong quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng nước cũng như phòng tránh thiên tai. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ứng dụng phương pháp hồi quy nhiều biến trong dự báo đặc trưng nguồn nước thượng lưu sông Hồng hạn mùa (mùa lũ và mùa kiệt). Mối quan hệ giữa các nhân tố khí hậu và các yếu tố dự báo đặc trưng nguồn nước như lưu lượng lớn nhất năm, tổng lượng nước mùa lũ, tổng lượng nước mùa cạn, lưu lượng nhỏ nhất năm được xem xét phân tích, lựa chọn nhân tố thích hợp nhất đưa vào phương trình hồi quy nhiều biến. Hệ các phương trình hồi quy đa biến được áp dụng dự báo thử nghiệm nguồn nước thượng lưu sông Hồng trong năm 2011-2012 với mức đảm bảo đạt từ 65-80%
Một phương pháp tiếp cận bài toán vận hành hệ thống hồ chứa phòng lũ theo thời gian thực trên sông Vu Gia - Thu Bồn thời kỳ mùa lũ
Số 42 (9/2013) > trang 33-39 |  PDF (503.00 KB)
Tô Thúy Nga, Nguyễn Thế Hùng
Tóm tắt
Trong bài báo này tác giả trình bày một phương pháp tiếp cận bài toán vận hành hệ thống hồ chứa phòng lũ theo thời gian thực trên sông Vu Gia-Thu Bồn. Phương pháp vận hành theo thời gian thực cho hệ thống hồ chứa dựa trên cơ sở mô hình mô phỏng hệ thống lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn do chính tác giả thiết lập MOPHONG-LU trên cơ sở tích hợp các các mô hình thành phần bao gồm, mô hình mưa - dòng chảy, mô hình diễn toán lũ trên hệ thống sông và mô hình điều tiết lũ hệ thống hồ chứa. Kết quả thử nghiệm cho một trận lũ lớn năm 2009 cho 5 hồ chứa có nhiệm vụ cắt giảm lũ cho hạ du là Sông Tranh 2, Sông Bung 2, Sông Bung 4, Đak mi 4 và hồ A Vương.
Một số vấn đề về chất lượng nước vịnh Hạ Long
Số 42 (9/2013) > trang 40-45 |  PDF (376.00 KB)
Nguyễn Thị Thế Nguyên
Tóm tắt
Vịnh Hạ Long là vùng có tiềm năng lớn trong phát triển đa nghành, đa mục tiêu, đặc biệt nổi tiếng về cảnh đẹp thiên nhiên và các giá trị di sản quý giá cần được bảo tồn. Tuy nhiên, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội tại đây đã và đang gây ra những sức ép rất lớn đến môi trường vịnh. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định một số vấn đề về chất lượng nước, dự báo diễn biến chất lượng nước vịnh trong thời gian tới, đồng thời đề xuất hoàn thiện thêm các thông số quan trắc chất lượng nước vịnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng các chất trong nước vịnh Hạ Long có xu hướng tăng lên theo thời gian, mùa mưa cao hơn mùa khô và không có nhiều khác biệt giữa tầng mặt và tầng đáy. Nhìn chung, chất lượng nước vùng lõi vịnh còn khá tốt nhưng vùng đệm và phụ cận đã có những ô nhiễm cục bộ về chất dinh dưỡng, chất hữu cơ, dầu, chất rắn lơ lửng. Do vậy, cần quan trắc thêm COD, TOC, PO43-, chlorophyll a.
Xác định mức độ ngập lụt hạ du do xả lũ hồ chứa nước lòng sông tỉnh Bình Thuận
Số 42 (9/2013) > trang 46-51 |  PDF (1619.00 KB)
Đặng Đức Thanh, Lê Trung Thành, Nguyễn Thái Quyết
Tóm tắt
Trong tình hình hiện nay khi khí hậu toàn cầu biến đổi, dòng chảy thượng nguồn cũng như dòng thủy triều thay đổi ngày càngphức tạp đi kèm với đó là tốc độ đô thị hóa cao, việc nghiên cứu và cảnh báo ngập lụt hạ du khi công trình hồ chứa xả lũ là rất cần thiết đặc biệt là đối với các hồ chứa vừa và lớn nơi có mức độ tập trung dân số caoở hạ lưu.Với đặc điểm vùng hưởng lợi rộng lớn, có địa hình thấp, và chịu ảnh hưởng của thủy triều việc xả lũ của hồ chứa Lòng Sông có thể gây ra ngập lụt nghiêm trọng. Bài báo này sẽ đề cập tới quá trìnhnghiên cứu áp dụng mô hình toán thủy văndòng chảy kết hợp vớimô hìnhthủy lực một chiều trong sông và hai chiều trên bãi để tính toán mức độ ngập lụt hạ du do xả lũ của hồ Lòng Sông. Dựa trên các kết quả tính toán thủy lực đạt được, xây dựng bản đồ độ sâu ngậplớn nhất theo một số kịch bản xả lũ trong điều kiện mưa và triều cực đoan xảy ra ở hạ lưu. Kết quả của nghiên cứu này sẽ làm tiền đề cho việc vận hành an toàn và giảm thiểu tối đa các ảnh hưởng bất lợi do xả lũ của hồ chứa Lòng Sông.
Đánh giá hiệu quả của trạm xử lý nước thải tại bãi chôn lấp rác Xuân Sơn, Hà Nội và đề xuất giải pháp cải tạo
Số 42 (9/2013) > trang 52-57 |  PDF (336.00 KB)
Vũ Đức Toàn
Tóm tắt
Bãi chôn lấp rác Xuân Sơn, Hà Nội đã hoạt động từ năm 2000. Tuy nhiên, nước thải sau xử lý của trạm xử lý nước thải tại bãi chôn lấp rác Xuân Sơn chưa đạt yêu cầu xả thải đối với một số thông số chủ yếu (COD, BOD5, N-NH4+, tổng N, coliform). Kết quả điều tra và đánh giá cho thấy lưu lượng nước thải thực tế cần xử lý đã vượt đáng kể so với công suất thiết kế. Công nghệ sử dụng trong trạm xử lý nước thải của BCL Xuân Sơn chưa hoàn chỉnh. Cần khẩn trương bổ sung cụm xử lý Nitơ và cụm xử lý hóa lý bậc một trên cơ sở cải tạo các công trình trong trạm xử lý nước thải hiện tại. Cần giám sát định kỳ để đảm bảo chất lượng nước thải sau xử lý phải đạt các qui định trong QCVN 25:2009/BTNMT cột B1
Ủ phân rác thải sinh hoạt – tiến tới quản lý rác bền vững ở huyện Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng)
Số 42 (9/2013) > trang 58-64
Nguyễn Trung Dũng
Tóm tắt
Đô thị hóa, tăng dân số và phát triển kinh tế được coi là những tác nhân chính của quản lý chất thải rắn (SWM) ở châu Á và khu vực Thái Bình Dương. Những yếu tố này kết hợp với nhau đẩy mạnh việc tiêu thụ/dùng và là nguyên nhân dẫn đến “bùng nổ” phát thải. Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á và Thái Bình Dương của LHQ (UNESCAP), ở các nước kém phát triển trong khu vực thì hàm lượng chất hữu cơ trong chất thải cao (70-80%). Lượng chất thải này có thể giảm thiểu NNthông qua ủ phân tại chỗ và có nhiều tác dụng đối với môi trường, sinh thái và kinh tế. Bài báo này dựa trên cơ sở số liệu nghiên cứu thực địa để đánh giá khả năng ủ phân rác thải sinh hoạt ở sáu xã của huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng) và đề xuất giải pháp thực thi nhằm quản lý rác thải bền vững.
Sử dụng thanh composite cốt sợi cac-bon để tăng cường khả năng chịu lực cắt của dầm bê tông cốt thép
Số 42 (9/2013) > trang 65-70 |  PDF (535.00 KB)
Trịnh Quang Minh, Kiều Minh Thế, Vũ Đình Phụng
Tóm tắt
Bài báo này trình bày việc sử dụng các thanh FRP cốt sợi các-bon (CFRP) gia cường cho dầm BTCT theo phương pháp NSM (near surface mounted), bằng cách đặt các thanh CFRP trong các rãnh được tạo trước trên lớp bê tông bảo vệ trong vùng chịu cắt lớn. Tiến trình thí nghiệm và các dạng phá hoại của dầm thí nghiệm đã được phân tích và thảo luận. Kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng gia cường bằng các thanh CFRP theo phương pháp NSM cải thiện đáng kể khả năng chịu cắt và hạn chế đáng kể sự xuất hiện của vết nứt trên dầm bê tông cốt thép.
Lựa chọn mô hình tổ chức quản lý an toàn hồ đập phù hợp với thực tế Việt Nam
Số 42 (9/2013) > trang 71-75 |  PDF (590.00 KB)
Phạm Ngọc Quý
Tóm tắt
Hồ chứa nước là công trình quan trọng để khai thác sử dụng nước và phòng chống tác hại do nguồn nước gây ra. Trong cụm công trình đầu mối của hồ chứa thì đập là một hạng mục cực kỳ quan trọng. Thực tế, trong hơn 6.640 đập của Việt nam đã, đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn. Có nhiều lý do và giải pháp khắc phục, trong đó có công tác tổ chức quản lý an toàn đập. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đề cập đến việc lựa chọn mô hình tổ chức như thế nào để quản lý an toàn đập cho phù hợp với thực tế.
Kiểm tra khí thực ở các đập tràn cao, áp dụng cho đập tràn của thủy điện Lai Châu
Số 42 (9/2013) > trang 76-80 |  PDF (870.00 KB)
Nguyễn Chiến, Nguyễn Thái Bình
Tóm tắt
Dòng chảy trên mặt các đập tràn cao có lưu tốc rất lớn, thường gây ra khí hóa và khí thực trên mặt tràn, làm hư hỏng đập. Trong bài giới thiệu phương pháp kiểm tra khí hóa và khí thực trên đập tràn do các gồ ghề cục bộ gây ra. Áp dụng tính toán cho đập tràn Lai Châu đã chỉ ra được phạm vi có phát sinh khí hóa và khí thực ứng với các trị số độ gồ ghề cục bộ khác nhau. Với các đập tràn cao như đập Lai Châu thì dù đã sử dụng vật liệu là bê tông mác cao và hoàn thiện bề mặt ở cấp độ cao nhất nhưng khả năng khí thực trên một phần mặt tràn là không tránh khỏi. Do đó phải áp dụng các biện pháp để phòng khí thực.
Nghiên cứu xác định cao trình hợp lý của nhà máy thủy điện Pá Chiến trong hệ thống thủy điện bậc thang
Số 42 (9/2013) > trang 81-87 |  PDF (354.00 KB)
Lê Xuân Khâm
Tóm tắt
Việt Nam hiện nay, thủy điện vẫn chiếm một tỷ trọng lớn và là nguồn cung cấp điện chủ yếu, đặc biệt là vào các giờ cao điểm. Sự phát triển của thủy điện đã hình thành nên hệ thống thủy điện bậc thang trên các lưu vực sông. Trong hệ thống thủy điện bậc thang thì có những hệ thống nhà máy thủy điện ở bậc trên không bị ngập trong mực nước hồ bậc dưới, hoặc có những hệ thống nhà máy thủy điện bậc trên nằm trong lòng hồ bậc thang dưới. Trong bài báo này, tác giả giới thiệu cách xác định cao trình hợp lý của nhà máy thủy điện trong hệ thống thủy điện bậc thang, áp dụng cho nhà máy thủy điện Pá Chiến. Đây cũng là tài liệu để tham khảo để tính toán, thiết kế cho những nhà máy thủy điện tương tự.
Phân tích độ tin cậy về an toàn công trình thủy lợi Việt Nam
Số 42 (9/2013) > trang 88-93 |  PDF (392.00 KB)
Phạm Hồng Cường, Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Thị Huyền Trang
Tóm tắt
Tiếp cận với tiêu chuẩn kĩ thuật của các nước tiên tiến và áp dụng những phương pháp tính hiện đại để nâng cao độ chính xác cho các quyết định khi thiết kế cũng như quản lí chất lượng công trình thủy lợi là một trong những hướng nghiên cứu tích cực trong lĩnh vực an toàn công trình ở Việt Nam hiện nay. Nội dung của bài báo trình bày cách tiếp cận của công trình thủy lợi với thiết kế ngẫu nhiên ở cấp độ II, đồng thời trình bày ví dụ ứng dụng lí thuyết độ tin cậy phân tích an toàn của cống lộ thiên để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu. Các nội dung của bài báo là những kết quả nghiên cứu mới và là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu, đánh giá an toàn cho công trình thủy lợi.
Xác định cường độ chống cắt của đất không bão hòa bằng thí nghiệm cắt trực tiếp
Số 42 (9/2013) > trang 94-99 |  PDF (8110.00 KB)
Nguyễn Thị Ngọc Hương, Trịnh Minh Thụ
Tóm tắt
Cường độ chống cắt của đất không bão hòa có ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái ổn định của công trình đất. Khi đất càng không bão hòa với lực hút dính càng tăng thì cường độ chống cắt của đất tăng lên dẫn đến tăng hệ số an toàn ổn định của khối đất. Việc nghiên cứu xác định thông số cường độ chống cắt đất không bão hòa có ý nghĩa quan trọng và cần thiết. Bài báo này trình bày phương pháp xác định cường độ chống cắt của một số đất không bão hòa tại Việt Nam bằng thí nghiệm cắt trực tiếp. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi mẫu đất chuyển từ trạng thái bão hòa sang trạng thái không bão hòa, lực hút dính trong mẫu tăng, góc ma sát trong ’ gần như không thay đổi nhưng lực dính của mẫu tăng lên. Góc b = ’ khi lực hút dính bằng không, sau đó b giảm dần. Cường độ chống cắt trong mẫu tăng khi lực hút dính tăng làm tăng hệ số an toàn ổn định của đập đất.
12