Số 39 (12/2012)



Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Tháng 12/2012
 
   
Ảnh hưởng của việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước tới chế độ thủy văn nước ngầm và vấn đề xâm nhập mặn vào các tầng chứa nước vùng đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận
Số 39 (12/2012) > trang 3-8 |  PDF (1035.00 KB)
Nguyễn Cao Đơn
Tóm tắt
Đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận là một trong những đảo trọng điểm của Việt Nam về phát triển các lĩnh vực và có tiềm năng trở thành một trung điểm dịch vụ hậu cần. Nhu cầu sử dụng nước gia tăng trên Đảo đã gây ra những tác động xấu ảnh hưởng đến nguồn nước như suy thoái, cạn kiệt và đặc biệt là khả năng xâm nhập mặn nguồn nước ngầm. Trong bài báo này, diễn biến chế độ thủy văn nước ngầm và xâm nhập mặn do ảnh hưởng của việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước tại vùng Đảo đã được nghiên cứu. Kết quả tính toán cho thấy động thái nước ngầm trên đảo biến đổi mạnh theo mùa và phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa và điều kiện thời tiết. Mức độ xâm nhập mặn phụ thuộc chủ yếu vào mưa và việc khai thác nước ngầm. Giải pháp kỹ thuật cũng đã được đề xuất để giảm thiểu tác động trên.
Bài báo này là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu xây dựng đập dưới đất để trữ nước ngầm nhằm phát triển bền vững tài nguyên nước ở các khu vực thường xuyên bị hạn, các vùng ven biển và hải đảo” mã số KC.08.TN01/11-15 thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”, mã số KC 08/11-15.
Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hoá đến hệ số tiêu vùng Đồng bằng Bắc bộ
Số 39 (12/2012) > trang 9-13 |  PDF (1154.00 KB)
Lê Phương Đông, Dương Thanh Hải
Tóm tắt
Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa hệ số tiêu thiết kế và tỷ lệ đô thị hóa của một lưu vực tiêu điển hình ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ với các kịch bản đô thị hóa thay đổi từ mức độ 0 (diện tích đô thị chiếm 0% tổng diện tích lưu vực) đến mức độ 7 (diện tích đô thị chiếm 100% tổng diện tích lưu vực). Trong quá trình tính toán, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phần mềm SWMM để mô phỏng các thành phần của hệ thống tiêu Tây Mê Linh. Kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng để xác định hệ số tiêu cho các lưu vực trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ theo tỷ lệ đô thị hóa của lưu vực đó.
Kết quả bước đầu về dự đoán năng suất lúa dưới tác động của biến đổi khí hậu tại hệ thống tưới Nam sông Mã
Số 39 (12/2012) > trang 14-21 |  PDF (3397.00 KB)
Lê Phương Đông, Dương Thanh Hải
Tóm tắt
Việt Nam là một trong 5 quốc gia trên thế giới chịu tác động nghiêm trọng nhất từ biến đổi khí hậu (BĐKH). Biến đổi khí hậu tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế trong đó có lĩnh vực nông nghiệp và sản xuất lương thực. Do đó việc dự đoán năng suất cây trồng, cụ thể là cây lúa, trong điều kiện BĐKH trong tương lai là rất quan trọng. Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu bước đầu khi xem xét các tác động của sự tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và tăng nồng độ CO2 đến năng suất lúa tại hệ thống tưới Nam Sông Mã, huyện Yên Định, Thanh Hóa cho các giai đoạn 2013-2040, 2041-2070 và 2071-2099. Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với kịch bản A2 cho đến năm 2099 năng suất lúa vụ hè thu và thu đông tăng lần lượt là 34% và 20% so với hiện tại. Trong khi đó những con số này đối với kịch bản B2 lần lượt là 19% và 14%.
Vai trò và tiềm năng ứng dụng của đập dâng nước ngầm trong phát triển bền vững tài nguyên nước
Số 39 (12/2012) > trang 22-27 |  PDF (382.00 KB)
Nguyễn Cao Đơn
Tóm tắt
Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu tổng quan, phân tính ưu điểm và đặc tính và ý nghĩa thực tiễn của giải pháp đập ngầm, cơ sở khoa học xây dựng đập ngầm, tiềm năng ứng dụng của đập ngầm trong phát triển bền vững tài nguyên nước. Bài báo này là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu xây dựng đập dưới đất để trữ nước ngầm nhằm phát triển bền vững tài nguyên nước ở các khu vực thường xuyên bị hạn, các vùng ven biển và hải đảo” mã số KC.08.TN01/11-15 thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”, mã số KC 08/11-15.
Đánh giá ảnh hưởng của bãi chôn lấp rác Xuân Sơn, Hà Nội đến môi trường nước và đề xuất giải pháp
Số 39 (12/2012) > trang 28-33 |  PDF (396.00 KB)
Vũ Đức Toàn
Tóm tắt
Một đợt điều tra, đánh giá về tác động của bãi chôn lấp rác (BCL) Xuân Sơn đã được thực hiện vào tháng 5 năm 2012. Kết quả thu được cho thấy, chất lượng nước đầu ra của hệ thống xử lý nước thải hiện tại của BCL Xuân Sơn chưa đạt yêu cầu xả thải. Nước thải từ BCL Xuân Sơn đã gây ảnh hưởng đáng kể đến môi trường nước mặt và nước ngầm của khu vực xung quanh. Các giải pháp cần thiết đã được đề xuất gồm thiết kế và xây dựng hệ thống thu gom nước mưa, đồng thời nghiên cứu nâng công suất cho hệ thống xử lý nước thải hiện tại. Cần lập các báo cáo quan trắc môi trường định kỳ đối với BCL Xuân Sơn để kiểm tra, giám sát nước sau xử lý đảm bảo phải đạt các qui định trong QCVN 40:2011/BTNMT và QCVN 25:2009/BTNMT.
Nghiên cứu đề xuất giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường mỏ than Lộ Trí, Quảng Ninh
Số 39 (12/2012) > trang 34-40 |  PDF (516.00 KB)
Lê Đình Thành, Nguyễn Thế Báu
Tóm tắt
Khai thác than hiện nay ở Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp khai khoáng đặc biệt quan trọng, tuy nhiên dù khai thác lộ thiên hay hầm ngầm đều gây ra những tác động rất phức tạp kể cả đến môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội, đặc biệt là môi trường tự nhiên. Việc cải tạo, khôi phục môi trường ở các mỏ khai thác than đã được nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới. Việt Nam có nhiều mỏ khai thác than gây tác động môi trường, do vậy khôi phục môi trường sau khai thác đã trở nên cấp bách và cần được quan tâm. Trong nghiên cứu này các tác giả đã thực hiện đánh giá hiện trạng môi trường vùng mỏ than Lộ Trí và đề xuất giải pháp khả thi để cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác.
Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy hút bùn mini tự hành nạo vét bùn, cát phục vụ nuôi trồng thủy sản khu vực Bắc Bộ
Số 39 (12/2012) > trang 41-45 |  PDF (2047.00 KB)
Nguyễn Quốc Huy, Đỗ Văn Quang, Ngô Xuân Quang
Tóm tắt
Hiện nay ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta phát triển khá mạnh, diện tích nuôi trồng ngày càng được mở rộng. Việc cải tạo và xử lý môi trường nuôi trồng là rất quan trọng và cần thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Các tác giả đã đề xuất một mô hình máy hút bùn mini tự hành phù hợp với điều kiện nuôi trồng. Từ đó tiến hành tính toán, thiết kế và chế tạo thành công một máy hút bùn mini tự hành phục vụ nuôi trồng thủy sản. Máy được chế tạo thành công đã đem lại hiệu quả kính tế cao trong công tác nạo vét bùn phục vụ nuôi trồng thủy sản.
Nghiên cứu xác định năng lượng sóng ven bờ cho dải ven biển miền Trung Việt Nam
Số 39 (12/2012) > trang 46-53 |  PDF (653.00 KB)
Trần Thanh Tùng, Lê Đức Dũng
Tóm tắt
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu tính toán năng lượng sóng tương đương cho dải ven biển miền Trung Việt Nam bằng mô hình số trị. Các kết quả nghiên cứu này là sản phẩm của đề tài nghiên cứu tiềm năng cấp Nhà nước “Nghiên cứu áp dụng giải pháp Nuôi Bãi Nhân Tạo cho các đoạn bờ biển bị xói lở ở khu vực miền Trung Việt Nam”, mã số KC.08.TN03/11-15 , nhằm xác định các khu vực có tiềm năng nuôi bãi ở dải ven biển miền Trung, phục vụ phát triển kinh tế xã hội và phòng tránh thiên tai.
Cơ sở khoa học và tiêu chí áp dụng giải pháp nuôi bãi cho dải ven biển miền trung Việt Nam
Số 39 (12/2012) > trang 54-62 |  PDF (1205.00 KB)
Trần Hữu Nghị, Trần Thanh Tùng
Tóm tắt
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu xác lập các tiêu chí nhằm phân tích đánh giá khả năng áp dụng giải pháp nuôi bãi và đề xuất sơ bộ mô hình nuôi bãi phù hợp có thể áp dụng ở khu vực miền Trung Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu này là sản phẩm của đề tài nghiên cứu tiềm năng cấp Nhà nước “Nghiên cứu áp dụng giải pháp Nuôi Bãi Nhân Tạo cho các đoạn bờ biển bị xói lở ở khu vực miền Trung Việt Nam”, mã số KC.08.TN03/11-15.
Vấn đề tổ chức cảnh quan trong kiến trúc công trình thủy điện trên thế giới và ở Việt Nam
Số 39 (12/2012) > trang 63-70 |  PDF (718.00 KB)
Phạm Thị Liên Hương , Nguyễn Việt Anh
Tóm tắt
Các công trình thủy điện (CTTĐ) luôn nằm trong một tổng thể tự nhiên song hành cùng yếu tố mặt nước, núi non, cây xanh hay những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, những khu vực địa hình bao la rộng lớn… nên có tiềm năng trở thành địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn trên thế giới. Không chỉ tập trung vào yêu cầu tổ chức không gian công năng, hệ kết cấu, vật liệu hay hình thức kiến trúc các hạng mục chức năng mà những công trình này còn chú trọng đến vấn đề tổ chức cảnh quan cho các không gian xung quanh đập nhằm khai thác tiềm năng thiên nhiên cho các hoạt động nghỉ ngơi-giải trí và du lịch. Hòa chung với sự phát triển của thế giới, thủy điện Việt Nam bước đầu cũng có sự quan tâm đến vấn đề tổ chức cảnh quan không gian đập góp phần sử dụng và phát huy nguồn thiên nhiên giàu đẹp này.
Nghiên cứu lý thuyết tạo hình và xây dựng phần mềm tự động thiết kế bánh răng Hypoit
Số 39 (12/2012) > trang 71-75 |  PDF (541.00 KB)
Phan Bình Nguyên
Tóm tắt
Hiện nay nhu cầu thiết kế và chế tạo mới các bộ truyền bánh răng hypoit để thay thế trong ngành máy xây dựng, vận tải ngày càng lớn. Việc ứng dụng máy tính vào hỗ trợ thiết kế và gia công còn hạn chế dẫn đến hiệu quả và chất lượng chưa cao.
Trong phạm vi bài báo này, tác giả giới thiệu về lý thuyết tạo hình của bánh răng hypoit, cùng với các bước xây dựng phần mềm tự động tính toán thiết kế bộ truyền bánh răng hypoit. Phần mềm này là cơ sở quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng thiết kế cũng như để đưa ra các thông số cho phép điều khiển máy máy công cụ CNC gia công bánh răng
Tính toán cầu sử dụng nước phục vụ bài toán phân bổ tài nguyên nước bằng mô hình tối ưu hóa động tại hệ thống Núi Cốc
Số 39 (12/2012) > trang 76-81 |  PDF (342.00 KB)
Bùi Thị Thu Hòa, Đào Văn Khiêm, Nguyễn Thị Thu Hà
Tóm tắt
Ngày nay, ở nhiều nơi trên thế giới nước đang trở thành một hàng hoá khan hiếm bởi nước là nguồn tài nguyên cung cấp những lợi ích quan trọng cho nhân loại. Bởi vậy cần phải đưa ra các quyết định về bảo tồn và phân bổ nước sao cho tương thích với các mục tiêu xã hội như hiệu quả kinh tế, tính bền vững và công bằng. Phân bổ tài nguyên nước với tiếp cận tối ưu hóa động hiện nay được coi chủ đề nổi bật trong phân tích kinh tế.Tuy nhiên, để thực hiện bài toán phân bổ tài nguyên nước thì cần phải tính cầu sử dụng nước.Trong bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến phương pháp tính cầu cũng như những tính toán cơ bản ở hệ thống con điển hình thuộc hệ thống sông Hồng với mục đích sử dụng nước khác nhau.
Bài toán phân bổ tài nguyên nước bằng mô hình tối ưu hóa động áp dụng tại lưu vực sông Hồng – Thái Bình
Số 39 (12/2012) > trang 82-86 |  PDF (300.00 KB)
Bùi Thị Thu Hòa, Đào Văn Khiêm, Nguyễn Thị Thu Hà
Tóm tắt
Trong kinh tế tài nguyên thiên nhiên nói chung thì mô hình tối ưu hóa động hiện đang sử dụng phổ biến để tính toán việc sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên. Bài viết này muốn giới thiệu mô hình tối ưu hóa động trong phân bổ tài nguyên nước ở khu vực phía Bắc- Việt nam, cụ thể là lưu vực sông Hồng – Thái Bình. Mô hình này cũng xem xét phân bổ nước theo khu vực, vùng (và tiểu vùng) với những điều kiện ràng buộc và hàm lợi ích của các ngành tương ứng.
Tính toán kết cấu cửa van theo độ bền mỏi và một số giải pháp tăng khả năng chịu mỏi
Số 39 (12/2012) > trang 87-93 |  PDF (366.00 KB)
Đỗ Văn Hứa, Khúc Hồng Vân
Tóm tắt
Bài báo nêu ra các yếu tố cần tính đến khi tính toán thiết kế cửa van nhịp lớn vùng triều Thanh phố Hồ Chí Minh có xét đến độ bền mỏi. Ngoài việc chon loại vật liệu thích hợp cho loại cấu kiện cửa van cần sử dụng công nghệ hàn thích hợp nhằm giảm ứng suất tồn dư để tăng khả năng chịu mỏi cho các cấu kiện và mối nối chịu tải trọng lặp
Nghiên cứu neo xoắn gia cố cho tấm lát kiểu hai chiều bảo vệ mái đê biển
Số 39 (12/2012) > trang 94-99 |  PDF (764.00 KB)
Hoàng Việt Hùng
Tóm tắt
Cấu kiện gia cố mái đê kiểu hai chiều (cấu kiện âm dương) là cấu kiện gia cố mái khá phổ biến ở đê biển Việt Nam. Trong thực tế thường xảy ra mất ổn định cục bộ tại những vị trí áp lực nước đẩy ngược lớn lên đáy viên gia cố do sóng rút hoặc tác động trực tiếp của sóng lên tấm gia cố. Neo xoắn gia cố cho cấu kiện bê tông hai chiều là giải pháp mới làm tăng thêm ổn định cho các tấm lát mái và hạn chế chuyển vị của cả mảng gia cố. Neo xoắn gia cố các tấm lát mái gồm ba bộ phận chính: Đầu neo, dây neo và chốt liên kết. Đầu neo làm bằng nhựa có cánh xoắn để tạo sức kháng nhổ. Chốt liên kết dùng liên kết neo xoắn với tấm lát mái. Số lượng neo phụ thuộc vào trọng lượng của tấm lát mái, áp lực sóng, cấp độ của đê. Theo phương pháp phân tích giới hạn biên trên và biên dưới, tác giả thiết lập biểu thức (11) xác định sức chịu tải kéo nhổ của neo xoắn dựa trên nguyên lý cân bằng công khả dĩ để làm cơ sở tính toán.
12